Nghiên cứu về vấn đề lựa chọn địa điểm bố trí bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt - Pdf 27

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai cung cấp cho con người tài nguyên và đồng thời cũng làm chức năng
chứa đựng những phế thải sản sinh ra trong quá trình sinh sống và phát triển của
con người. Nhưng khi số lượng phế thải này vượt quá một mức độ nhất định thì việc
chứa đựng chúng trở thành một vấn đề phức tạp. Đặc biệt là khi nền kinh tế càng
phát triển, tốc độ đô thị hoá nhanh thì diện tích đất đai của các đô thị dành cho các
mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp càng nhiều, vậy “nhà của rác” sẽ ở
đâu? Vấn đề tìm vị trí chôn lấp rác cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của quy hoạch sử dụng đất. 1 triệu 600 nghìn tấn là con số ước tính về lượng rác của
Hà Nội năm 2010 do Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố đưa ra. Nếu chúng ta
không có biện pháp xử lý thì khối lượng rác thải khổng lồ nêu trên sẽ trở thành một
thảm hoạ của đô thị. Chôn lấp rác là biện pháp xử lý chất thải rắn sử dụng nhiều
nhất và phổ biến ở nước ta. Lâu nay, các bãi rác thường được hình thành một cách
tự phát, làm mất mỹ quan đô thị, lãng phí sử dụng đất và ô nhiễm môi trường.
Trong công tác quy hoạch sử dụng đất, việc chọn địa điểm xây dựng bãi chôn lấp
chất thải là rất cần thiết vì sự lựa chọn đúng giúp chúng ta bảo vệ môi trường và
giảm thiểu chi phí xây dựng, cũng như giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Chọn địa điểm bãi chôn lấp chất thải rắn là một bài toán phân tích không gian
phức tạp nhằm phục vụ cho mục đích quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị. Nó
đòi hỏi phải đánh giá rất nhiều các tiêu chí khác nhau về tự nhiên, kinh tế, xã hội,
môi trường. Để giải quyết vấn đề này thì về phương pháp luận, phân tích đa chỉ tiêu
là một cách tiếp cận thích hợp nhất, và hệ thông tin địa lý (GIS) là công cụ hỗ trợ
quyết định hiệu quả. GIS cho phép chúng ta phân tích, xử lý dữ liệu không gian,
tính toán đến nhiều chỉ tiêu và tích hợp các lớp thông tin phục vụ cho việc xác định
vị trí bãi chôn lấp.
Huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là một huyện có tốc độ phát triển tương

1

2
- Phương pháp điều tra thực địa: để biết được thực tế của khu vực nghiên cứu
và thu thập thêm nguồn dữ liệu cho đề tài.
- Phương pháp đánh giá định lượng để đưa ra những số liệu có tính khách quan
cao phục vụ trợ giúp quyết định.
- Phương pháp phân tích đa chỉ tiêu để xác định mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố và tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá.
- Phương pháp phân tích không gian bằng GIS để đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến việc lựa chọn địa điểm hợp lý cho bãi chôn lấp chất thải rắn.
- Phương pháp chuyên gia để đánh giá vai trò của các yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp thử nghiệm thực tế để kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
5. Kết quả đạt được
- Quy trình ứng dụng GIS và phương pháp phân tích đa chỉ tiêu trong lựa chọn
địa điểm bố trí bãi chôn lấp chất thải rắn dựa trên một số chỉ tiêu về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội.
- Phương án bố trí vị trí bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện
Đông Anh, Hà Nội.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học của đề tài là đã đưa ra được quy trình lựa chọn vị trí bãi
chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt bằng phương pháp định lượng trên cơ sở ứng dụng
GIS và phương pháp phân tích đa chỉ tiêu.
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là đã xác lập cơ sở khoa học và đề xuất phương
án bố trí bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt cho huyện Đông Anh, thành phố Hà
Nội.

3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM BỐ TRÍ
BÃI CHÔN LẤP CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
chất thải rắn nguy hại (gồm chất thải rắn công nghiệp nguy hại, chất thải rắn y tế và
các loại thuốc trừ sâu).
Hiện nay, chúng ta đang đứng trước nguy cơ chất thải rắn sinh hoạt ngày càng
gia tăng ở cả đô thị lẫn nông thôn. Đặc biệt là khi quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh
mẽ thì càng gây nên những vấn đề về lượng rác thải, ô nhiễm môi trường. Ta có thể
phân tích một số luồng phát sinh như sau:
Thứ nhất: đối với những khu vực dân cư ở đô thị lớn thì do dân số ngày càng
tăng, trong khi đó diện tích đất ở đô thị thì không đáp ứng kịp nên lượng rác thải từ
các hoạt động ăn, ở, giải trí,…của con người ngày càng quá tải so với sức chứa của
đô thị.
Thứ hai, ở các đô thị mới mở rộng ra các vùng ven và ngoại ô có những sự
thay đổi lớn từ kiểu cấu trúc làng xã ngoại ô thành các nhà ở theo lối đô thị. Cấu
trúc không gian cũng như cấu trúc quản lý xã hội, quản lý môi trường cũng bị đảo
lộn. Có thể họ vẫn quen theo kiểu sinh hoạt cũ: rác vứt bừa bãi, lấp đầy hồ ao, cống
rãnh,… nên gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cũng có thể dân cư
ngày càng đông với các thành phần khác nhau nên rất khó vận động, thuyết phục
làm theo quy định (cụ thể như ở các “xóm liều”).
Thứ ba, ở các khu đô thị mới do Nhà nước hay tư nhân đầu tư xây dựng hoàn
chỉnh rồi bán cho người dân hoặc chia đất cho cán bộ. Kiểu đô thị hoá này có ưu
điểm là khi xây dựng người ta đã quy hoạch khá đầy đủ hệ thống cấp thoát nước,
các hố rác thải, xử lý rác thải,… Tuy nhiên, ở những khu vực này nếu không có
những quy định nghiêm ngặt thì nguy cơ ùn tắc và ô nhiễm rác thải cũng dễ xảy ra
và rất nguy hại.
Thứ tư là khu vực ở của các trung tâm công nghiệp tập trung. Trong quá trình
công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh mẽ thì nhiều khu công nghiệp mới xuất hiện. Đi
cùng với những nơi này là những vùng cơ trú mới được hình thành. Một là các khu

5
nhà tạm, lán trại cho công nhân xây dựng. Đây là những loại nhà được xây dựng
không kiên cố và cuộc sống của cư dân trong các khu này thường là tạm bợ. Vì thế

sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh
hoạt và sản xuất. Ví dụ thuỷ tinh được cho vào lò nấu lại, kim loại được nung chảy
trở lại. Tái chế không tiết kiệm bằng tái sử dụng nhưng rất có lợi vì:
+ Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được tái chế vật liệu
gốc;
+ Tiết kiệm diện tích chôn lấp;
+ Có thể thu lợi nhuận từ hoạt động tái chế.
Tuy nhiên tái chế rác thải đòi hỏi sự hợp tác của toàn dân trong phân loại rác
thải trước khi đổ vào hệ thống chung. Sơ đồ tóm tắt quá trình thu hồi tài nguyên,
sản phẩm, năng lượng được biểu thị ở hình 1.1.

Hình 1.1. Sơ đồ quy trình công nghệ xử lý và thu hồi tài nguyên,
sản phẩm – năng lượng [7]
b. Tiếp cận đầu vào
Việc giảm bớt rác thải còn được thực hiện theo hướng tiếp cận đầu vào (Input
approach). Tiếp cận này dựa trên ba phương pháp sau [2]:
- Kéo dài thời hạn sử dụng của hàng hoá. Hàng hoá chất lượng tốt, có độ bền
cao sẽ có thời hạn sử dụng dài, giảm bớt lượng phế thải;

7
- Giảm bớt khối lượng vật liệu trong chế tạo hàng hoá. Việc chạy đua theo các
hình thức hấp dẫn trong thị trường gây nên lãng phí trong chế tạo hàng hoá. Tại các
nước công nghiệp phát triển, 40% sản lượng giấy, 14% sản lượng nhôm, 8% sản
lượng thép được dùng cho bao bì hàng hoá, 40% lượng rác thải rắn là bao bì;
- Giảm bớt sự tiêu thụ: Kinh tế thị trường tạo ra những nhu cầu tiêu dùng mới
nhiều khi không cần thiết, thậm chí có hại cho từng cá nhân và xã hội. Có nhiều khả
năng giảm bớt tiêu thụ để tiết kiệm vật liệu, năng lượng trong bối cảnh tài nguyên
và môi trường có nhiều khó khăn trên toàn thế giới hiện nay.
c. Xử lý chất thải rắn bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu

e. Phương pháp đốt
- Đốt có không khí:
Đốt có không khí là giai đoạn cuối cùng được áp dụng cho một số loại rác nhất
định khi không thể xử lý bằng các biện pháp khác. Đây là một giai đoạn oxy hoá
nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí (hình 1.3 là quy trình công nghệ
đốt chất thải rắn quy mô công nghiệp).
Công nghệ đốt có những ưu điểm [7]:
+ Giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng;
+ Xử lý toàn bộ chất thải đô thị mà không cần nhiều diện tích đất sử dụng làm
bãi chôn lấp rác;
+ Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các công
nghiệp cần nhiệt và phát điện.
Nhược điểm của phương pháp này là:
+ Khi đốt rác sẽ sinh ra khói độc và dễ sinh điôxin nếu giải quyết việc xử lý
khói không tốt;
+ Vận hành dây chuyền phức tạp và giá thành đầu tư rất lớn.

9

Hình 1.3. Quy trình công nghệ đốt chất thải rắn quy mô công nghiệp [7]
- Đốt không có không khí (nhiệt giải):
Đây là phương pháp phân giải các rác thải hữu cơ trong điều kiện yếm khí ở
nhiệt độ cao. Phương pháp này là một công nghệ sạch, nhưng cũng như phương
pháp đốt có không khí, nó có giá thành cao hơn các phương pháp khác.
f. Phương pháp chôn lấp
Phương pháp chôn lấp là một hướng tiếp cận xả thải trong việc quản lý chất
thải. Tức là đem rác thải tới nơi xa đô thị để tránh các tác động xấu và giảm bớt
lượng rác thải. Theo tiếp cận này, tại hàng loạt các đô thị, người ta đã chuyển các
bãi thải tự nhiên, lộ thiên thành bãi thải hợp vệ sinh có lấp đất. Đó là những bãi sử
dụng một khoảng đất thấp tự nhiên (thung lũng, ao hồ đã cạn) hoặc nhân tạo, làm

sẽ giúp giảm thiểu đáng kể những tác động môi trường tiêu cực có thể xảy ra trong
quá trình vận hành BCL CTR, qua đó giảm nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng
đồng và giảm thiểu sự phản đối của cộng đồng trong quá trình vận hành. Một vị trí
thích hợp cũng giúp giảm chi phí đầu tư xây dựng bãi.
Phương pháp này có ưu điểm:
+ Chi phí thấp nhất so với các phương pháp khác;
+ Sau một thời gian 5 – 10 năm, lúc đất đã lấp đầy có thể xây dựng các công
trình lên trên đó.
Nhược điểm của phương pháp là [2]:
+ Đòi hỏi diện tích đất nhiều hơn so với phương pháp khác;
+ Có thể gây ô nhiễm nước ngầm;
+ Khí rác không được kiểm soát thoát ra khỏi bãi gây mùi hôi. Sản sinh ra khí
metan từ quá trình phân giải yếm khí các chất hữu cơ. Khí này có thể thoát ra và
Thiết kế
Vận hành
Đóng bãi
Kiểm soát
Đào hố chôn lấp và chuẩn bị các kỹ thuật đáy bãi cũng như
trên bề mặt
- Quan trắc môi trường
- Bảo trì bề mặt bãi rác
- Đổ rác, ban rác thành lớp mỏng, nén chặt rác.
- Xử lý khí rác và nước rác
- Khi bãi rác đạt đến chiều cao quy định thì sẽ tiến hành phủ
lên trên một lớp đất mỏng. Có thể trồng cây và 1 lớp thảm
thực vật bên trên lớp phủ
- Lắp đặt các ống lấy khí rác theo phương thẳng đứng

11
gây nổ;

các bãi chôn lấp tự phát ở các địa phương đang tạo nên những bức xúc về quản lý
đất đai và môi trường, xã hội. Chính vì vậy mà đòi hỏi việc quy hoạch các BCL
CTR càng phải được tiến hành theo đúng những tiêu chuẩn nhất định.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn địa điểm bố trí bãi chôn lấp chất thải
rắn sinh hoạt
Lựa chọn địa điểm bố trí bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt là một bài toán
phân tích không gian tổng hợp, liên quan đến rất nhiều các tham số như: địa hình,
thuỷ văn, mục đích sử dụng đất, khoảng cách đến các khu dân cư, các tuyến đường
giao thông,… Chúng ta cần phân tích rõ sự ảnh hưởng này để làm cơ sở cho việc
xác định các tiêu chí lựa chọn địa điểm bố trí bãi chôn lấp chất thải rắn phù hợp với
từng khu vực.
1.2.1. Các yếu tố tự nhiên
a. Địa hình
Địa hình là yếu tố ảnh hưởng rất rõ đến vị trí bãi chôn lấp. Thông thường thì
người ta hay tận dụng tối đa địa hình tự nhiên nhằm giảm bớt khối lượng đào lấp.
Nếu ở những nơi nào có địa hình trũng thì việc đào hố sẽ tiết kiệm hơn khi tận dụng
những ao hồ đã cạn. Ở những khu vực đồi núi thì người ta thường quan tâm đến khu
vực thung lũng, sườn núi hay hầm mỏ cũ để chôn lấp rác.
Địa hình còn liên quan đến hướng dốc và độ dốc của bãi. Việc chọn vị trí ở nơi
quá dốc có thể sẽ làm lượng nước rác bị rò rỉ ra ngoài dễ hơn. Nhưng nếu độ dốc
vừa phải thì có thể giúp cho việc tránh ứ đọng nước mưa.
Việc lựa chọn kiểu bãi chôn lấp cũng phụ thuộc nhiều vào yếu tố địa hình. Nếu
ở những khu vực miền núi cao thì bãi chôn lấp chìm là thích hợp. Ngược lại ở
những nơi thấp thì nên làm bãi rác nổi để không làm ảnh hưởng đến tầng nước
ngầm và tránh việc bị sụt lún thêm. Còn đối với vùng có độ cao vừa phải thì bãi
chôn lấp nửa chìm nửa nổi lại thích hợp vì sẽ tiết kiệm được diện tích bãi chôn lấp
mà vẫn có thể tăng lượng chứa hơn.
b. Địa chất
Yếu tố địa chất liên quan đến cấu trúc của các loại đá và sự ổn định kiến tạo.


suối,…không phù hợp để xây dựng BCL CTR vì rất dễ gây ô nhiễm nguồn nước.
Khu vực có nước ngầm cũng phải chú ý đến khoảng cách tối thiểu theo quy định.
Nguyên nhân là do bãi chôn lấp có thể bị rò các chất thải độc hại và thẩm thấu qua

14
đất nên sẽ ảnh hưởng đến tầng nước ngầm. Kết quả là dễ lây lan các mầm bệnh
nguy hiểm cho con người thông qua nguồn cung cấp nước này.
Khi điều tra về thuỷ văn, cần phải làm sáng tỏ các vấn đề sau:
- Mạng lưới sông suối của khu vực;
- Quy mô của các dòng chảy: độ rộng, độ sâu, hướng chảy và lưu vực của chúng;
- Mực nước, chất lượng nước, hiện trạng sử dụng nước;
- Khoảng cách từ bãi chôn lấp đến các dòng chảy,…
e. Thổ nhưỡng
Yếu tố thổ nhưỡng liên quan đến việc lựa chọn địa điểm BCL CTR là loại đất
và độ thấm. Người ta thường đưa ra tiêu chí là làm sao tăng tối đa sự thích nghi của
đất tại chỗ làm nguyên liệu lót đáy bãi và che phủ bãi. Thông thường thì đất sét hay
được sử dụng vì có độ thấm nước kém, giảm việc rò rỉ nước rác hay các chất thải
độc hại khác từ bãi. Nếu đất tại chỗ không phù hợp thì cần cố gắng giảm thiểu
khoảng cách từ bãi chôn lấp đến các địa điểm có nguyên liệu này.
f. Hệ sinh thái khu vực
Khi lựa chọn địa điểm BCL CTR cần phải tìm hiểu về hệ thực vật, động vật
chủ yếu và các loài động thực vật quý hiếm có trong sách đỏ của khu vực và vùng
phụ cận. Bởi vì việc xuất hiện BCL sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường sống xung
quanh của các loài sinh vật. Tiêu chí thường là phải tăng tối đa khoảng cách đến các
khu vực đó.
1.2.2. Các yếu tố kinh tế - xã hội
a. Thông tin sử dụng đất
Thông tin sử dụng đất cho phép chúng ta biết được sự phân bố của các loại
hình sử đụng đất tại 1 thời điểm nhất định hay dự định trong tương lai. Một điều tất
yếu là địa điểm bãi chôn lấp phải được xác định căn cứ theo quy hoạch xây dựng đã

cho sự vận hành của bãi.
d. Các khu di tích lịch sử, văn hoá, du lịch
Các địa điểm di tích lịch sử, văn hoá, du lịch thường yêu cầu về môi trường
phải trong sạch để thu hút khách thăm quan hoặc do yếu tố tâm linh (như chùa,
miếu, đền,…). Do đó việc lựa chọn vị trí BCL CTR phải nằm cách xa những khu

16
vực trên với khoảng cách tối thiểu thường là 1km.
e. Hiện trạng kinh tế và khả năng tăng trưởng kinh tế
Cần đánh giá được tính hình phát triển kinh tế của khu vực vì nó sẽ quyết định
đến quy mô của bãi chôn lấp và loại chất thải chủ yếu. Một điều chắc chắn rằng các
bãi chôn lấp rác cũng không thể nằm ngay ở một trung tâm phát triển kinh tế (ví dụ
như nội thành thành phố Hà Nội) mà phải nằm cách đó một khoảng cách nhất định
nhằm hạn chế tác động đến nền kinh tế địa phương và sử dụng đất.
Điều tra thông tin về hiện trạng kinh tế cần chú ý đến sự phân bố và số lượng
của các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, khai khoáng, các ngành công
nghiệp tiềm năng và sản phẩm.
1.2.3. Các yếu tố cơ sở hạ tầng
a. Giao thông
Giao thông là một trong những yếu tố rất quan trọng liên quan đến vấn đề vận
chuyển, thu gom chất thải. Nếu khoảng cách này quá xa sẽ gây tốn kém và có thể
gây ô nhiễm trong quá trình vận chuyển nhiều hơn. Thông thường khi thiết kế BCL
CTR cần tính đến việc giảm thiểu khoảng cách vận chuyển rác từ thành phố hoặc
khu đô thị đến BCL. Bên cạnh đó cần chú ý đến sự đi lại thuận tiện của các tuyến
đường dành cho xe rác.
Khi điều tra về giao thông cần xem xét các yếu tố như độ rộng của các con
đường, khoảng cách đến đường giao thông chính, mức độ khó khăn, thuận lợi trong
quá trình vận chuyển.
b. Mạng lưới điện, nước
Để vận hành và duy trì BCL CTR thì hệ thống kiểm soát khí rác, nước rác,

b. Yêu cầu lựa chọn địa điểm bãi chôn lấp
- Địa điểm BCL phải được xác định căn cứ theo quy hoạch xây dựng đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Khoảng cách xây dựng từ BCL tới các điểm dân cư, khu đô thị được quy
định trong bảng 1.2.
- Việc lựa chọn địa điểm phải căn cứ vào các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội,
hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại khu vực dự kiến xây dựng BCL.

18

19
Bảng 1.1. Phân loại quy mô BCL chất thải rắn (nguồn: TTLT 01/2001)
STT Loại bãi Dân số đô thị hiện tạiLượng rác Diện tích bãi
1 Nhỏ < 100.000 20.000 tấn/năm < 10 ha
2 Vừa 100.000 – 300.000 65.000 tấn/năm 10 - 30 ha
3 Lớn 300.000 – 1.000.000 200.000 tấn/năm 30 - 50 ha
4 Rất lớn > 1.000.000 > 200.000 tấn/năm > 50 ha

Bảng 1.2. Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn BCL (nguồn: TCXDVN 261:2001)
Khoảng cách tối thiểu từ vành đai công
trình tới các bãi chôn lấp (đơn vị: m)
Các công trình
Đặc điểm và quy mô công
trình
BCL nhỏ và
vừa
BCL lớn BCL rất lớn
Đô thị
Các thành phố, thị xã, thị
trấn, thị tứ,…

/ng
50 - 100
> 100
> 500
> 100
> 500
> 1000
> 500
> 1000
> 5000
Khoảng cách từ đường
giao thông đến BCL
Quốc lộ, tỉnh lộ >
100 >300 >500
Chú thích: Khoảng cách trong bảng trên được tính từ vành đai công trình đến hàng rào bãi chôn lấp
Ngoài các quy định trên, trong khuôn khổ của Dự án Kinh tế chất thải do Cơ
quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ, các tác giả Mc Nally và Lưu Đức
Cường đã xây dựng bộ mục tiêu, tiêu chí, giới hạn chi tiết có tính chất tổng quát áp
dụng cho BCL CTR (bảng 1.3). Khi địa phương thực hiện vẫn có thể bổ sung hoặc
điều chỉnh để phù hợp với điều kiện khu vực của mình.
Bảng 1.3. Bộ mục tiêu, tiêu chuẩn, giới hạn và các loại số liệu trong xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn
(Nguồn: Byer, McNally, Lưu Đức Cường 2003) [7]
Mục tiêu Tiêu chí Giới hạn Quy định của Việt Nam Số liệu thu thập
Giảm thiểu các tác động tới
tầng ngậm nước
BCL không nên đặt tại các khu
vực có nước ngầm là nguồn
cung cấp nước hiện tại hoặc
tương lai
Địa điểm có khả năng dễ thấm

các nguồn cung cấp nước và
giảm thiểu số lượng các
nguồn này trong khu vực
Các khu vực có nguồn nước
(hồ, suối, đầm lầy,…) hoặc các
khu vực được bảo vệ không
phù hợp để xây dựng BCL
Tài liệu thống kê đầm lầy quốc
gia chỉ định và bảo vệ các khu
vực đầm lầy nhạy cảm, rộng
lớn về mặt sinh thái
Địa điểm nguồn nước, đầm lầy và
các khu vực được bảo vệ
Giảm tối
thiểu các
tác động
tới khu
vực nhạy
cảm và có
nước
ngầm
Giảm thiểu các rủi ro do lụt
bằng việc tăng tối đa khoảng
cách từ bãi đến các vùng
đồng bằng trũng và dễ bị bão
BCL không nên đặt tại các vùng
ngập lụt có tần suất ngập lụt 10
năm/1 lần. Nếu đặt BCL trong
các vùng có tần suất bị lụt 100
năm/lần thì phải sủă bản thiết

khai thác đất cho việc xây
dựng lớp lót đáy bãi
hoạch dự phòng. HDPE. BCL xây dựng tại các
hố tự nhiên như mỏ hoặc núi có
cốt đáy bãi cao hơn mực nước
ngầm và đất tự nhiên có hệ số
thẩm thấu <1.5x10
-3
m
3
/m
2
/ngày
không cần lớp lót chống thấm
điểm khai thác này
Giảm thiểu các yêu cầu thay
đổi nguồn nước
Lưu vực sông, địa điểm đặt, độ
dốc trung bình
Tận dụng tối đa địa hình tự
nhiên nhằm giảm công tác
đào đắp
Độ dốc trung bình địa hình bãi
bãi
Giảm thiểu chi phí và tăng tối
đa sự thuận tiện trong việc
xây dựng và lắp đặt hệ thống
thu gom và xử lý chất thải
TT liên bộ 01/2001: Mỗi BCL
phải bố trí ít nhất 2 trạm quan

động xã
hội
Tăng tối đa sự chấp thuận
của cộng đồng
Tỷ lệ dân chấp thuận việc đặt bãi
trong khu vực, quan điểm của
chính quyền địa phương

21

Mục tiêu
22
Tiêu chí Giới hạn Quy định của Việt Nam Số liệu thu thập
Giảm thiểu các tác động tới
sự phát triển kinh tế
Khoảng cách tối thiểu tới các
khu công nghiệp
Mức thu nhập trung bình của khu
vực, sự phân bố các cơ sở công
nghiệp trong vùng, các ngành
công nghiệp tiềm năng và sản
phẩm
Tăng tối đa khoảng cách tới
các khu quân sự
Số lượng, vị trí và khoảng cách từ
bãi tới các khu vực quân sự xung
quanh
Tăng tối đa việc sử dụng bãi
sau khi đóng cửa
Quy hoạch sử dụng đất tương lai

cách từ bãi đến đường giao
thông chính (tỉnh lộ, quốc lộ) là
>
100m
Địa điểm đến đường quốc lộ,
khoảng cách đến đường phù hợp
Giảm thiểu
chi phí xây
dựng cơ
sở hạ tầng
Giảm thiểu khoảng cách vận
chuyển rác từ thành phố hoặc
khu đô thị
Khoảng cách từ ranh giới thành
phố đến bãi chôn lấp
1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp lựa chọn địa
điểm bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt
Nhiều nước trên thế giới đã quan tâm rất sớm đến việc quy hoạch vị trí bãi
chôn lấp chất thải rắn hợp lý bởi một số tác động tiêu cực của nó tới môi trường,
sức khoẻ cộng đồng, xã hội và kinh tế. Các nghiên cứu lý thuyết của thế giới về lựa
chọn địa điểm (LCĐĐ), trong đó có LCĐĐ BCL CTR bắt đầu từ những năm 70 của
thế kỷ trước, thông qua kinh nghiệm thực tiễn ở Mỹ. Cách tiếp cận trong thời gian
đó chủ yếu dựa trên các tiêu chí kinh tế (hiệu quả kinh tế cao nhất) với công cụ phổ
biến là phân tích chi phí lợi ích (Keeney, 1980). Hai công cụ được sử dụng phổ biến
nhất trong thời kỳ này là kỹ thuật phân tích đa tiêu chí (Multicriteria analysis) và
chồng xếp bản đồ (Overlapping Map). Cuối những năm 80 và thập kỷ 90 của thế kỷ
trước là giai đoạn mà các nghiên cứu về LCĐĐ không chỉ tập trung ở Mỹ mà lan
rộng sang các nước khác ở châu Âu và một số quốc gia phát triển ở châu Á. Các lý
thuyết về LCĐĐ cũng được lồng ghép, rà soát bằng lý thuyết của các ban ngành
khoa học khác như khoa học chính trị, khoa học xã hội, kinh tế, môi trường. Bước

Phương pháp WCL được sử dụng để đánh giá vị trí (hay còn gọi là tính điểm)
các khu vực tiềm năng thông qua công thức:

=
=
n
j
ijji
xwS
1
*
(1.1)
Trong đó S
i
là giá trị điểm chung của khu vực tiềm năng i, w
j
là trọng số của
tham số j, x
ij
là điểm thành phần của khu vực i với tham số j, n là tổng số các tham
số. Khu vực nào có giá trị cao nhất thì được chọn. Phương pháp phân tích đa chỉ

24
tiêu sử dụng thuật toán AHP và WCL để tìm khu vực phù hợp cũng được nghiên
cứu ở South Cork (Ireland) và Giroft (Iran).

Hình 1.6. Ma trận mức độ quan trọng của các tham số chính khi LCĐĐ BCL CTR [16]
Cũng theo hướng tiếp cận phương pháp phân tích đa chỉ tiêu, tác giả Basak
Sener (Middle East Technical University) sử dụng thuật toán Simple Additive
Weighting (SAW) để nghiên cứu ở vùng Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ. Các bước chính

jjijjij
xxxxx −−=
(1.3)
x
ij
’ : điểm được quy chuẩn của khu vực i với chỉ tiêu j;
x
ij
: điểm thô (điểm chưa được quy chuẩn);
x
j
max
: điểm lớn nhất của chỉ tiêu j trong thang chia;

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status