ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------
-------------
LÊ THỊ NGUYỆT NGA
Đề tài: Nghiên cứu đa dạng sinh học quần xã động vật phù du và đánh giá chất
lượng môi trường nước hồ Đankia, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Chuyên ngành: Sinh thái học
Cán bộ hướng dẫn:
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------
-------------
HVCH: LÊ THỊ NGUYỆT NGA
5.1. Phương pháp khảo sát thực địa .............................................................................. 13
5.2. Phương pháp phân tích mẫu vật ............................................................................. 15
5.3. Phương pháp xử lý số liệu, các chỉ số sinh học được sử dụng .............................. 15
Chỉ số ô nhiễm nên chọn lọc một số chỉ số phù hợp như Pantle-Buck, Zelinka-Marvan
(xem Chi thị sinh học)................................................................................................... 17
5.4. Phương pháp xây dựng bản đồ............................................................................... 18
VI. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ............................................................. 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 19
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tính cấp thiết của Đề tài: Hồ Đankia nằm trên địa phận xã Lát, huyện Lạc Dương,
tỉnh Lâm Đồng cách trung tâm Tp. Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) 20 km về hướng Tây Bắc, hồ
Đankia ở trên và Ankroet ở dưới cùng chắn dòng sông Đa Dung bắt nguồn từ núi LangBiang bởi hai đập cùng tên Ankroet. Hồ được xây dựng qua hai giai đoạn 1945 và 1953
bởi chính quyền Pháp và người Nhật, với diện tích lưu vực khoảng 135 km2, diện tích
mặt hồ khoảng 2,45 km2, mực nước lớn nhất 1421,8m, mực nước thấp nhất 1413,8m. Hồ
Đankia nằm ở khu vực có độ cao trung bình khoảng 1.500 m so với mực nước biển và
thuộc vùng có tính chất khí hậu tiểu vùng ôn đới. Đến năm 1984, nhà máy xử lý nước từ
hồ phục vụ cấp nước sinh hoạt được xây dựng với sự tài trợ của Chính phủ Đan Mạch.
Nguồn nước mặt của hồ chủ yếu từ sông Đa Dung chảy vào, nhánh chính đổ vào hồ
ĐanKia và hồ Suối Vàng, sau đó đổ về sông Đa Dâng (huyện Lâm Hà), đây là sông đầu
nguồn hệ thống sông Đồng Nai. Sông Đa Dung và sông Đa Nhim là hai nhánh thuộc hệ
thống sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ dãy núi Lâm Viên, Bi Đúp trên cao
nguyên Lang Biang, với tổng chiều dài dòng chính là 628km, kể từ thượng lưu Đa Nhim
đến cửa Soài Rạp. Phần trung lưu sông Đồng Nai được bắt đầu từ hợp lưu sông Đa Nhim
và Đa Dung đến đập thuỷ điện Trị An, với chiều dài 300km. Hạ trung lưu được tính từ
sau đập thuỷ điện Trị An đến cửa Soài Rạp, có chiều dài 150km, và đổ ra biển qua hai
phân lưu chính: sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp.
Thượng nguồn hồ Đankia là các bãi cỏ tương đối bằng phẳng bị chia cắt bởi dòng sông
Đa Dung, đây là nơi chăn thả các loại gia súc của dân cư trong vùng như: trâu, bò, dê…
quần xã thủy sinh vật trong hồ. Trên cơ sở đó theo dõi diễn biến chất lượng nguồn nước
mặt, và đánh giá tác động của các chất ô nhiễm lên hệ thủy sinh. Từ trước đến nay, cũng
đã có những nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng nước ở hồ Đankia, tuy
nhiên hầu hết các nghiên cứu đó cũng chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng nước thông
qua các chỉ tiêu lý hóa. Có nhiều nguyên nhân cho thấy rằng việc nghiên cứu hệ thủy sinh
vật là thực sự cần thiết để đánh giá chất lượng nước, một số nguyên nhân chính đó là: (1)
Cung cấp số liệu chính xác để đánh giá diễn biến chất lượng nước trong quá khứ và trong
tương lai; (2) đánh giá tác động của các chất ô nhiễm từ các nguồn xả thải khác nhau,
thông qua tình trạng sức khỏe của hệ thủy sinh vật; (3) Làm cơ sở cho việc dự báo khả
năng phục hồi và thời gian phục hồi của nguồn nước tại khu vực nghiên cứu.
Từ những lý do nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học quần xã động vật phù
du và đánh giá chất lượng môi trường nước hồ Đankia, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm
Đồng” được đề xuất, nhằm đi sâu nghiên cứu cấu trúc thành phần loài, mật độ cá thể, các
loài ưu thế, biến động thành phần loài theo mùa, theo năm và tính toán các chỉ số sinh
học của quần xã động vật phù du, trên cơ sở đó đánh giá chất lượng nước và diễn biến
chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu.
Giới thiệu về quần xã Động vât phù du (Zooplankton): Zooplankton là những sinh vật
không xương sống có kích thước từ vài chục μm (protozoa) đến hơn 2mm
(macrozooplankton), sống trôi nổi trong các thủy vực như hồ, sông, đại dương…. Quần
xã động vật phù du trong các thủy vực nước ngọt chủ yếu là động vật nguyên sinh, luân
trùng, giáp xác râu ngành, giáp xác chân chèo, giáp xác có vỏ (Lampert, 1997). Ở các hồ
3
tự nhiên, giáp xác và luân trùng là hai nhóm động vật phù du chiếm ưu thế về năng suất
và sinh khối. Ngoài ra, các loài giáp xác bơi nghiêng, một vài loài thuộc ngành động vật
có khoang, ấu trùng sán lá dẹp, chân bụng, ấu trùng côn trùng cũng trải qua giai đoạn
động vật phù du trong quá trình sống của mình (Wetzel, 2001). Động vật phù du là một
mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn trong thủy vực, chúng là cầu nối giữa nhóm sinh
vật sản xuất (thực vật phù du– phytoplankton) với các bậc dinh dưỡng cao hơn.
cứu định lượng về thủy sinh vật đáy . Tiếp sau đó là các công bố của Chabanaud &
Chevey (1926-1932), Pellegrin (1923-1934), Chevey & Lemasson (1937) về đa da ̣ng sinh
học. Các trạm nghiên cứu về thủy sinh nước ngọt đã bắt đầu được xây dựng đầu tiên ở
Đức, 1890 và sau đó là ở Nga, 1891.
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp để tính toán các chỉ số nhằm đánh giá chất lượng môi
trường nước tại một con sông, lưu vực hay một vùng. Mỗi phương pháp đều có những
ưu, nhược điểm riêng, và chỉ thích hợp áp dụng cho một vài vùng đặc trưng tùy theo mục
đích nghiên cứu. Trong đó, phương pháp đánh giá chất lượng nước theo chỉ thị sinh học
đã được bắt đầu nghiên cứu cách đây khá lâu bởi Kolenati (1848), Hassal (1850) và Cohn
(1853). Họ đã phát hiện ra có sự khác biệt lớn giữa các sinh vật sống trong môi trường
nước ô nhiễm với các sinh vật sống trong môi trường nước sạch và dựa vào đặc trưng đó
để đánh giá chất lượng nước.
Tiếp tục những năm về sau, có rất nhiều phương pháp đã được xây dựng và sử dụng vào
việc đánh giá chất lượng môi trường nước sinh học (Sládecék, 1973a, 1973 b; Pittwell,
1976; Persoone và De Pauw, 1979; Illies và Schmitz 1980; Rosenberg và Resh, 1992; De
Pauw và Hawkes, 1993; Davis và Simon, 1995).
Hướng nghiên cứu xây dựng các chỉ số sinh học và việc đánh giá chất lượng nước dựa
vào hệ thống các chỉ số sinh học ngày càng quan tâm và được ứng dụng rộng rãi ở nhiều
quốc gia khác nhau trên thế giới. Đặc biệt là ở Úc, Đức và gần đây là ở các nước Đông
Âu như: Hungari, Ba Lan, Rumani, Bungari, Cộng Hoà Séc và một số quốc gia Châu Âu
khác như Đan Mạch, Thụy Sĩ, Thụy Điển,… Sự thành công của các nghiên cứu này chủ
yếu phụ thuộc nhiều vào năng lực của hệ sinh thái, cụ thể là mối tương quan giữa sự
sống, tồn tại của các sinh vật với môi trường sống của chúng.
Một số chỉ số sinh học đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới:
Chỉ số sinh học Trent (Caim) (1968), Woodiwiss (1964)
Chỉ số này dựa vào số lượng các bậc phân loại khác nhau của động vật không xương
sống đáy trong mối tương quan với sự có mặt của sáu (6) sinh vật then chốt được tìm
thấy trong khu hệ động vật của vị trí thu mẫu.
thông qua đó nhằm xác định sự thay đổi bên trong hệ sinh thái.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Ở nước ta, viê ̣c đánh giá chấ t lươ ̣ng môi trường nước dưới góc đô ̣ sinh ho ̣c cũng đã được
quan tâm từ rất sớm. Hoàn toàn đúng khi nhận định rằng giữa chất lượng môi trường
nước và cấu trúc thành phần loài các nhóm sinh vật thuỷ sinh có quan hệ chặt chẽ với
nhau và được thể hiện thông qua các chỉ số sinh học. Cụ thể, một số chỉ số sinh học
thường được sử dụng như: chỉ số độ đa da ̣ng sinh ho ̣c Shannon-Wiener (H') (1949), mô tả
mố i quan hê ̣ giữa cấ u trúc đinh
̣ tiń h và đinh
̣ lươ ̣ng của quầ n xã sinh vâ ̣t , chỉ số đa dạng
sinh học Shimpson (1949) chỉ ra mức độ chiếm ưu thế của các nhóm loài , chỉ số ưu thế
Berger - Parker (1970) đánh giá tính đa dạng và mức độ bền vững của quần xã, chỉ số
“giá trị tính đa dạng” (Dv) của Chen Quingchao et all, 1994 hay chỉ số đa dạng sinh học
6
Margalef (D) (1961) cũng được sử dụng để đánh giá mức độ đa dạng cho các nhóm sinh
vật khác nhau trong quần xã, và phân loại mức độ ô nhiễm của thuỷ vực. Chỉ số cân bằng
Pielou (1966) (J') phản ánh mức đô ̣ ổ n đinh
̣ của quầ n xã sinh vâ ̣t và tiń h đố i lưu , trao đổ i
nước với lưu vực lân câ ̣n, chỉ số ABC (Abundance Biomass Comparison Curves) thể hiê ̣n
mố i quan hê ̣ giữa số lươ ̣ng và khố i lươ ̣ng sinh vâ ̣ t trong mô ̣t thủy vực , chỉ số tương đồng
Sorensen (1948) phản ánh mức độ gần gũi về thành phầ n loài sinh vâ ̣t giữa hai điể m thu
mẫu, từ đó góp phần đánh giá sự đồ ng nhấ t về tính chất môi trường nước giữa hai điể m
khảo sát, v.v…
Từ năm 1963 đến năm 1965, tác giả Shirota đã mô tả các loài động vật phù du từ vùng
biển Thuận An đến Phú Quốc trong “The Plankton of South Vietnam”, xuất bản năm
1966. Trong nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm văn Miên xuất bản
năm 1980, cũng đã mô tả về các loài động vật không xương sống trong đó có động vật
phù du.
(2008). Đây là một nghiên cứu công phu, trong đó có sử dụng các chỉ số sinh học và các
yếu tố hóa học để đánh giá hiê ̣n tra ̣ng chấ t lươ ̣ng nước sông Thi Ti
̣ ́nh, sau đó đưa ra các dự
báo tác động của các quy hoạch phát triển KTXH đến chất lượng nước sông Thị Tín h và
các kế hoạch hành động cho lưu vực sông Thị Tính. Từ năm 2002 đến 2012, Đỗ Thị Bích
Lộc và cộng sự, Viện Sinh học Nhiệt đới đã sử dụng chỉ số Shannon-Wiener (H') để đánh
giá mức độ đa dạng thủy sinh vật và chất lượng môi trường nước các thủy vực tỉnh Đồng
Nai.
Từ năm 2008-2010, Đoàn Cảnh và cộng sự đã sử dụng các chỉ số sinh học của một số
quần xã thủy sinh vật để đánh giá chất lượng nước sông Sài Gòn thông qua phương pháp
quan trắc sức khoẻ sinh thái. Năm 2009-2010, Đỗ Thị Bích Lộc và cộng sự cũng sử dụng
các chỉ số sinh học của một số quần xã thủy sinh vật để đánh giá chất lượng môi trường
nước sông Sài Gòn (đoạn chảy qua địa phận Bình Dương). Kết quả của 2 đề tài này đã
cho thấy được vai trò của thuỷ sinh vật trong việc dự đoán chất lượng môi trường và khả
năng ô nhiễm cục bộ cũng như khả năng tự làm sạch của các nhóm sinh vật đối với chất
lượng môi trường.
Từ năm 2003, Uỷ hội Sông Mê Công cũng đã sử dụng các chỉ số sinh vật của bốn nhóm
chỉ thị (tảo silic đáy, động vật phù du, động vật không xương sống cỡ lớn ven bờ và đáy)
để đánh giá chất lượng môi trường nước ở vùng hạ lưu. Dựa trên những kết quả quan trắc
thu được, các chuyên gia xây dựng các chỉ số sinh học dựa trên thành phần loài, mật độ
loài, loài ưu thế, loài chỉ thị, … để đánh giá chất lượng môi trường nước vùng hạ lưu
sông Mê Công.
Trong thời gian gần đây, tham gia thực hiện các chương trình quan trắc ở hạ lưu hệ thống
sông Đồng Nai (Đồng Nai), sông Thị Vải (Đồng Nai), sông Sài Gòn (TP. HCM, Bình
Dương), sông Vàm Cỏ, Sông Cần Giuộc (Long An), hay các chương trình quan trắc định
kỳ ở các thủy vực thuộc các tỉnh miền Tây Nam Bộ, các hồ ở vùng Tây Nguyên thuộc
tỉnh Lâm Đồng như Hồ Xuân Hương, Hồ Tuyền Lâm,… bằng việc kết hợp các chỉ số về
thuỷ sinh vật với các thông số hoá học để đánh giá mức độ ô nhiễm, đã cho thấy rằng khi
môi trường bị ô nhiễm hữu cơ sẽ xuất hiện những loài sinh vật nào và với mật độ dao
động là bao nhiêu, tương tự như thế khi môi trường bị nhiễm bẩn bởi các chất vô cơ thì
Thực vật bám (Periphyton), Thực vật thuỷ sinh lớn (Macrophyta), Động vật phù du
(Zooplankton), Động vật không xương sống đáy cỡ lớn (Macrobenthos), Động vật không
xương sống đáy cỡ trung bình, giun tròn (Nematoda) và Cá (Pisces). Việc kết hợp nhiều
nhóm đối tượng và nhiều loại chỉ thị sẽ cho phép có được những đánh giá đúng đắn nhất
về chất lượng môi trường nước trong mỗi thuỷ vực.
Tại khu vực nghiên cứu hồ Đankia và các thủy vực sông, suối, hồ lân cận trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng, theo kết quả quan trắc hiện trạng các thành phần môi trường tỉnh
Lâm Đồng năm 2012 cho thấy: đa số giá trị của các thông số hóa lý đều ô nhiễm hơn so
với các năm từ 2006 - 2011. Chất lượng nước ở các sông, suối nhỏ trong lưu vực có giá
9
trị các chất ô nhiễm cao hơn ở các sông lớn, do bị ảnh hưởng từ các hoạt động công
nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt.
- Về chất lƣợng nƣớc ở các sông nhƣ: Sông Cam Ly, sông Đa Dâng, sông Đa nhim,
sông Đạ Huoai, sông La Ngà,… đã bị ô nhiễm do chịu tác động từ canh tác nông nghiệp,
chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông sản hay nước thải sinh hoạt của khu dân cư
sống xung quanh bờ sông gần điểm lấy mẫu. Trên dòng chính sông Đồng nai đang chịu
tác động chủ yếu của các hoạt động xây dựng các công trình thủy điện lớn (Đồng Nai 2,
3, 4), các hoạt động khai thác cát và cải tạo rừng, trồng rừng kinh tế đang diễn ra mạnh
mẽ và đang có dấu hiệu bị ô nhiễm hữu cơ.
- Về chất lƣợng nƣớc hồ: Đa số các hồ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là các hồ
cung cấp nước cho sinh hoạt như hồ Chiến Thắng, hồ Tuyền Lâm, hồ Đankia và hồ Đạ
Tẻh hầu hết các thông số lý hóa đã vượt mức cho phép. Nguyên nhân chính là do, hoạt
động sinh hoạt của người dân, hoạt động canh tác nông nghiệp,…quanh khu vực hồ.
Đáng chú ý hơn nữa là hồ Xuân Hương, chất lượng nước ngày càng bị ô nhiễm nghiêm
trọng.
Một số các đề tài đã được thực hiện như: Đề tài “Đánh giá tài nguyên nước mặt tỉnh Lâm
Đồng và đề xuất các giải pháp quản lý theo hướng phát triển bền vững” của tác giả
Hoàng Hưng, 2013. Đề tài:“Ứng dụng số WQI đánh giá hiện trạng chất lượng môi
-
Nghiên cứu cấu trúc thành phần loài, cấu trúc mật độ, loài ưu thế và sự biến động
theo mùa, theo năm của quần xã động vật phù du (Zooplankton);
-
Đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng nước theo mùa, theo năm thông qua các
đặc điểm sinh thái của động vật phù du và các chỉ số sinh học;
-
Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua các thông số môi trường: pH, TDS,
DO, COD, EC, Độ đục, Tổng P, Tổng N, Nhiệt độ;
-
Phân tích mối tương quan giữa cấu trúc thành phần loài, mật độ cá thể, và chỉ số sinh
học của quần xã động vật phù du với các thông số môi trường;
-
Xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường nước hồ Đankia bằng phần mểm
Mapinfo và ArcGIS.
IV. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Quần xã Động vật phù du ở hồ Đankia, tỉnh Lâm Đồng.
4.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Lọc 60 lít nước qua lưới hình chóp mắt lưới 25 m. Phương pháp này dùng để
thu thập động vật phù du cỡ nhỏ như động vật nguyên sinh, luân trùng, giáp xác
nhỏ.
- Dùng lưới vớt động vật phù du kiểu Juday có kích thước mắt lưới 50m, Kéo
lưới với tốc độ khoảng 0,3m/s ở tầng mặt. Miệng lưới được gắn lưu tốc kế chuyên
dụng Model 2030R6 để tính lượng nước đi qua lưới. Phương pháp này thu thập
động vật phù du cỡ trung bình như râu nhánh, chân mái chèo.
Mẫu định tính được thu bằng loại lưới cỡ lớn hình chóp đường kính miệng lưới 50 cm.
mắt lưới 110 m, tốc độ kéo lưới 0,5 m/s để thu những động vật phù du giáp xác cỡ lớn,
ấu trùng côn trùng thủy sinh có tốc đọ di chuyển nhanh. Lắp lưu tốc kế vào miệng lưới để
tính định lượng.
Các mẫu động phù du sau khi kéo và lọc, lắc nhẹ phần chứa nước ở chóp lưới để giảm
thể tích mẫu từ 200 – 300ml trước khi cho vào chai nhựa. Mẫu sau khi cho vào chai nhựa,
cần cố định ngay bằng Formaldehyde 38%, thể tích Formaldehyde sử dụng khi cố định
phải đạt từ 5% trở lên so với thể tích mẫu.
b) Mẫu nƣớc mặt
Phương pháp phân tích được sử dụng theo như “Standards Methods for examination of
Water and Wastewater” (SMEWW). Các thông số và phương pháp để xác định chất
lượng nước mặt.
TT
1
2
3
4
5
Thông số
Nhiệt độ
pH
TDS
Tổng P
TCVN 6001–
Tủ ấm BOD
1995
TCVN 6491-1999 Tủ ấm COD
SMEWW
Máy quang
4500 – P – D
phổ UV-
14
Tên thiết bị
Center 315
Hanna HI-8314
Hanna HI-9811
Hanna HI-9811
Secchi
APEL Intrusment
DO-802
Xuất xứ
Đài Loan
Ý
Aqualytic AL-311
Úc
phổ UVVIS
Tên thiết bị
Xuất xứ
Apel – PD-303UV
Nhật
Kết quả phân tích các mẫu nước mặt sẽ được so sánh với Quy chuẩn Việt Nam QCVN
38: 2011/BTNMT (Tiêu chuẩn chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống thủy sinh).
Mẫu nước mặt sẽ được phân tích tại phòng Thí nghiệm hóa lý, Viện Sinh học Nhiệt đới.
5.2. Phƣơng pháp phân tích mẫu vật
Tại phòng thí nghiệm, các xác bã thực vật, mảnh vụn có kích thước lớn được dùng Panh
gắp loại bỏ. Sau đó các mẫu được lọc lại lần nữa với tốc độ chậm bằng ống Xiphong có
lưới lọc với kích thước mắt lưới 20µm để giảm thể tích mẫu. Mẫu sau khi lọc tới thể tích
nhất định, dùng ống hút hút mẫu cho vào buồng đếm Sedgewick - Raffer, phân tích dưới
kính hiển vi Quang học đảo ngược có độ phóng đại từ x10 đến x100 để định danh tới loài
và đếm số lượng cá thể của từng loài động vật phù du và ghi chép vào biểu phân tích.
Các tài liệu được sử dụng để định danh loài động vật phù du của các tác giả như: Đặng
Ngọc Thanh và cộng sự, 2001; Đặng Ngọc Thanh và cộng sự, 2002; Đặng Ngọc Thanh,
Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, 1980; Hoang Quoc Truong, 1960; Nguyễn Xuân Quýnh,
Clive Pinder, Steven Tilling, 2001; Shirota A., 1966; Y.Ranga Reddy, 1994;
W.T.Edmondson…
Mẫu động vật phù du được phân tích và lưu giữ tại Phòng Sinh thái – Viện Sinh Học
Nhiệt Đới, Thành phố Hồ Chí Minh.
5.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu, các chỉ số sinh học đƣợc sử dụng
i 1
ni
ni
log
2 N
N
Trong đó: N = Tổ ng số lươ ̣ng cá thể trong mô ̣t mẫu nghiên cứu
Ni= Tổ ng số lươ ̣ng của các loài chỉ thi ̣thứ i
Sử dụng thang điểm đánh giá phân loại chất lượng nước do Henna
nghị năm 1995:
& Rya Sunoko đề
Bảng 1: Thang điể m đánh giá chấ t lươ ̣ng nước Henna & Rya Sunoko, 1995
Chấ t lƣơ ̣ng nƣớc
Rấ t ô nhiễm
Ô nhiễm
Ô nhiễm nhẹ
Sạch
Rấ t sa ̣ch
H'
Giá trị tính đa dạng (Dv)
< 0,6
Mức độ
Kém
Dạng
V
+ Chỉ số ƣu thế Berger và Parker (1970) (D):
D = Nmax/N
Trong đó:
Nmax là tổng số cá thể của loài ưu thế có số lượng cao nhất;
N là tổng số cá thể có trong mẫu.
+ Chỉ số cân bằng Pielou (1966) (J’):
J’ = H’/ Log2S
Trong đó: S là số lươ ̣ng loài trong mẫu.
+ Chỉ số tƣơng đồng Sorensen (Similarity index)
S = 2 Nc/( Ni + Nj)
Trong đó: Nc Số lươ ̣ng loài chung có ở cả 2 điể m thu mẫu i và j
Ni, Nj
Số lươ ̣ng loài có ở 2 điể m thu mẫu i, j.
+ Chỉ số ô nhiễm
Cách tính:
(s * h)
: _mesosaprobic
: Polysaprobic
Chỉ số ô nhiễm của Zelinka và Marvan (1961).
Si. Ai.Gi
Sa in1
i1 Ai.Gi
n
i
n
Ai
Gi
Si
:
:
:
:
:
Loài chỉ thị i trong mẫu vật.
Số lượng loài trong mẫu vật thu được.
Chỉ số phong phú của loài chỉ thị.
Độ dao động chỉ thị của loài đó.
Chỉ số ô nhiễm của mỗi loài sinh vật chỉ thị sử dụng.
5.4. Phƣơng pháp xây dựng bản đồ
01 cuốn báo cáo luận văn và 01 cuốn báo cáo tóm tắt của luận văn;
18
01 bộ Atlas hình ảnh định loại các loài động vật phù du;
Quy trình ứng dụng phương pháp chỉ thị sinh học đánh giá nhanh chất lượng môi
trường tại hồ Dankia;
01 CD chứa bản báo cáo tổng hợp, báo cáo tóm tắt và các số liệu liên quan tới đề
tài nghiên cứu của luận văn Thạc sĩ.
IX. KHẢ NĂNG VÀ ĐỊA CHỈ ÁP DỤNG
Kết quả nghiên cứu sẽ được đăng bài trên hội nghị, tạp chí chuyên ngành;
Cuốn Luận văn thạc sĩ sẽ được lưu giữ tại thư viện của trường ĐH KHTN, ĐHQG
TPHCM;
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu trong nước
Lê Hùng Anh (2008), Đề xuất bộ chỉ thị sinh học cho loại hình hệ sinh thái thuỷ vực
nước chảy của Việt Nam phục vụ quan trắc môi trườnglưu vực sông, Trung tâm
Quan trắc Môi trường, Tổng cục Môi trường.
Phạm Thế Anh (2013), Ứng dụng số WQI đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường
nước mặt thành phố Đà Lạt, Trường Đại học Yersin Đà Lạt.
Đoàn Cảnh, Đỗ Thị Bích Lộc và cộng tác viên (2010), Ứng dụng phương pháp quan trắc
sức khỏe sinh thái (Ecological Health Monitoring) để đánh giá diễn biến chất
lượng môi trường nước sông Sài Gòn tại khu vực tiếp nhận nguồn xả của dự án
vệ sinh – môi trường thành phố Hồ Chí Minh lưu vực kênh Nhiêu lộc – Thị Nghè,
Viện sinh học nhiệt đới.
Hoàng Hưng (2005), Quản lý và sử dụnghợp lý tài nguyên nước, Nxb. Đại học Quốc gia,
Tp. Hồ Chí Minh.
Hoàng Hưng (2013), Đánh giá tài nguyên nước mặt tỉnh Lâm Đồng và đề xuất các giải
pháp quản lý theo hướng phát triển bền vững, Trường Đại học Kỹ thuật Công
nghệ Tp. HCM.
xương sống Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Dương Đức Tiến, Mai Đình Yên (2002), Thủy sinh
học các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật,
Hà Nội.
Lê Trình (2008), Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước
(WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng
TP.HCM, Báo cáo nghiệm thu đề tài Sở KH&CN TP.HCM.
Tiêu chuẩn Việt Nam (2002), Tuyển tập 31 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc
áp dụng, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
20
Tài liệu ngoài nước
MRC (2010a), Biomonitoring Methods for the Lower Mekong Basin, Mekong River
Commission, Vientiane, 65 pp.
MRC (2010b), “Report on the 2008 biomonitoring survey of the lower Mekong River and
selected tributaries”, MRC Technical Paper, (27), Vientian, 69 pp.
Sangpradub, N. & B. Boonsoong (2006), Identification of freshwater invertebrates of the
Lower Mekong River and its tributaries, Mekong River Commission, Vientiane.
Wayne S. Davis, Thomas P. Simon (1995), Biological assessment and criteria-tools for
water resource planning and Decision making, CRC Press, 415 pp.
MRC (2010), Biomonitoring Methods for the Lower Mekong Basin, Mekong River
Commission, Vientiane, 65 pp.
MRC (2010), Report on the 2008 biomonitoring survey of the lower Mekong River and
selected tributaries, MRC Technical Paper, (27), Vientian, 69 pp.
Tài liệu Internet
http://www.lamdong.gov.vn/
http://moitruong.com.vn
http://www.baolamdong.vn/toasoan-bandoc/201210/