Đề tài Tác hại của vi sinh vật trong quá trình chế biến và bảo quản thủy hải sản - Pdf 34

Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Lời nói đầu
Đất nước Việt Nam có lợi thế là có bờ biển dài, nhiều sông ngòi, ao hồ nên
việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đã mở ra triển vọng lớn về việc cung cấp
thủy sản cho nhu cầu đời sống nhân dân, cho xuất khẩu . Cá và động vật thủy sản
được sử dụng để ăn tươi hoặc chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhằm cung cấp
tức thời hoặc để dự trữ trong thời gian nhất định. Tuy nhiên, nguyên liệu thủy sản
rất dễ ươn hỏng, vì vậy công việc bảo quản phải được đặt lên hàng đầu của khâu
chất lượng .Các biến đổi của động vật thủy sản sau khi chết như sự tê cứng, sự tự
phân giải, biến đổi do vi sinh vật có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm
thủy sản. Với đề tài tiểu luận “Tác hại của vi sinh vật trong quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản”, chúng em xin trình bày một số tác hại của vi sinh vật và
những loài vi sinh vật thường gặp trong quá trình bảo quản và chế biến thủy hải
sản. Do trình độ và thời gian có hạn nên bài tiểu luận vẫn còn một số sai sót nhất
định mong cô thông cảm .Chúng em xin chân thành cám ơn.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
1


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai


76,00
Chai
21,70
0,57
0,92
77,30
Chỉ vàng
21,40
1,59
1,10
77,00
Đuối
20,80
0,87
1,00
78,80
Thu vạch
20,90
1,02
1,53
76,20
Ngân
21,11
1,55
76,94
Phèn một sọc
20,60
1,40
1,15
76,60

18,60
0,59
1,25
79,00
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
2


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Bạch điều
Đú bạc
Mòi

18,70
18,40
15,77

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

0,92
1,18
4,44

1,03
1,03
1,49


Canxi
mg%

Phosphat
mg%

Fe
m%

17-20
19-23
11-23
8,8
4,6
11-12
16

0,8
0,3-0,4
1-2
0,4
1,1
0,3-0,7
1,5

2
3
2,5
3,9-8,3
1,5

dinh dưỡng này rồi thải ra các chất gây ra sự ươn hỏng,mùi khó chịu .

Chương II:HỆ VI KHUẨN CỦA CÁC ĐỘNG VẬT
THỦY SẢN VỪA MỚI ĐÁNH BẮT
2.1 Hệ vi khuẩn ở cá vừa mới đánh bắt:
Ở cá tươi vừa mới đánh bắt có thể tìm thẩy vi khuẩn ở tên da (102 107cfu/cm2), mang (103- 109cfu/g) và nội tạng (103 - 109cfu/g).Còn ở trên thịt và
các cơ quan bên trong khác lại có rất ít vi khuẩn hiện diện.Tùy thuộc vào môi
trường đánh bắt mà ta có các hệ vi sinh vật có trong cá khác nhau hơn là tùy thuộc
vào từng loài cá. Vi khuẩn trên da và mang cá sống trong vùng nước ôn đới, môi
trường nước sạch ít hơn so với cá sống trong vùng nước nhiệt đới, môi trường ô
nhiểm. Số lượng vi khuẩn trong nội tạng cá có liên quan trực tiếp đến nguồn thức
ăn của cá: cao ở cá ăn tạp và thấp ở cá không ăn tạp.Hệ vi sinh vật ở cá nước ngọt
khác với ở cá nươc mặn. Ngoài ra số lượng vi khuẩn thay đổi còn tùy thuộc vào
mùa sinh sống. Cá sống trong mùa hè có số lượng vi khuẩn cao hơn.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
3


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Hình1 : số lượng vi khuẩn ở cá vừa mới đánh bắt được(Nguồn: Giáo trình Công
nghệ chế biến thủy hải sản , ThS.Phan Thị Thanh Quế,Đại Học Cần Thơ, Năm
2005)

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Hình 2 :Vi khuẩn có trong tôm vừa mới đánh bắt (Nguồn:Giáo trình Công nghệ
chế biến thủy hải sản , ThS.Phan Thị Thanh Quế,Đại Học Cần Thơ, Năm 2005)
Vi khuẩn hiện diện ở loài thân mềm giống với vi khuẩn trong cá biển nhưng số
lượng vi khuẩn G+ như Bacillus, Micrococcus, Enterobacteriaceae , Streptococcus
chiếm số lượng lớn hơn.

Chương III: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA CÁ SAU KHI
CHẾT
Cá từ khi đánh được đến khi chết, trong cơ thể nó bắt đầu có hàng loạt sự thay
đổi về vật lý và hóa học. Những sự biến đổi này được thể hiện qua sơ đồ:

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
6


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

3.1Hiện tượng tê cứng xác cá
Các biến đổi cảm quan là những biến đổi mà chúng ta có thể qua sát được như
màu sắc, mùi, cấu trúc …Ngay sau khi cá chết, sẽ xuất hiện một số hiện tượng liên
quan đến ngoại dạng, cấu trúc.Ngay sau khi chết , các cơ của cá duỗi ra, làm cho
cá mềm và dễ uốn,ấn vào thì đàn hồi. Sau một thời gian nhất định thì các sợi cơ co
lại làm cho thân cá không mềm nữa mà trở nên cứng đơ , trạng thái này gọi là hiện

GVHD:Đàm Sao Mai

3.3Các biến đổi tự phân giải
Khi cá chết đi,cơ thể cá sẽ ngừng hoạt động và bắt đầu chu trình phân hủy các
hợp chất giàu năng lượng và phân giải glycogen. Các quá trình phân giải đầu tiên
trong cơ thể cá xảy ra đối với các cacbohydrat và các nucleotid. Khi cá vừa chết,
trong một giai đoạn ngắn các tế bào vẫn tiếp tục các quá trình sinh lý bình thường
nhưng ngay sau đó sự sản sinh Adenozim Triphosphate(ATP) ngừng lại. ATP bị
phân hủy trở thành Inosine Monophosphate(IMP) bởi các Enzym nội bào .Tiếp
đến là sự phân giải IMP tạo thành Inosine và hypoxanthine với các xúc tác chính
bởi enzyme nội bào IMP phosphohydrelase và inosine ribohdrolase, cùng với sự
tham gia của các enzym của các vi khuẩn xuất hiện trong thời gian bảo quản.ATP
bị phân hủy xảy ra theo một loạt phản ứng tự phân:

Quá trình tự phân diễn ra cùng một kiểu đối với các loài cá tuy nhiên lại diễn
ra với các tốc độ khác nhau tùy theo từng loài. Diễn ra song song với quá trình
phân hủy ATP là sự phân giải Glycogen . Glycogen được men glycogis phân hủy
trong điều kiện không có oxy bằng dẫn đến sự tích lũy acid lactic làm giảm pH
của cơ thịt cá. Nói chung, các loài cá có ít Glycogen hơn so với các loài động vật
có vú nên sau khi chết lượng acid lactic sinh ra ít hơn so với các loài động vật có
vú . Vì thế pH của cá cao hơn nên dễ bị các vi khuẩn tấn công hơn.
Tiếp đến là sự phân cắt TMAO tạo thành TMA . Trimethylamin là một amin
dễ bay hơi và có mùi khó chịu đặc trưng cho sự ươn hỏng của cá và các loài thủy
hải sản. Sự gia tăng của TMA trong thủy hải sản phụ thuộc vào hàm lương TMAO
có trong chúng.Tiến trình này được ức chế khi cá được làm lạnh.
Ngoài các quá trình phân giải trên ,vẫn có một số quá trình tự phân diễn ra. Tất
cả các qua trình tự phân giải được tóm gọn ở bảng sau:
Bảng :Tóm tắt những biến đổi trong quá trình tự phân giải của cá ươp lạnh(Nguồn:
Giáo trình Công nghệ chế biến thủy hải sản , ThS.Phan Thị Thanh Quế,Đại Học
Cần Thơ, Năm 2005)

Cathepsin

ATP ADP
AMP IMP

Calpain

Các
protein sợi

TMAO

Các
protein
Các peptid
Chymotrypsin,
Các
trypsin,
protein
cacboxypeptidase Các peptid

TMAO
demethylase

làm
giảm pH của mô, làm
mất khả năng giữ
nước
trong cơ.
- Nhiệt độ cao khi xảy

Vấn đề sẽ gia tăng khi
đông lạnh/rã đông hoặc
bảo quản lạnh trong thời
gian dài.
Loại bỏ canxi để ngăn
chặn quá trình hoạt hóa

Tạo ra formaldehyt
- Bảo quản cá ở nhiệt độ
làm cứng cơ của họ cá

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Sản phẩm tạo thành cuối cùng là TMA tạo mùi vị xấu cho cá.
Trimethylamin oxyt (TMAO) : TMAO là thành phần đặc trưng và quan trọng
của nhóm chất chứa nitơ phi protein. TMAO có chủ yếu trong các loài cá nước
mặn và ít được tìm thấy trong các loài cá nước ngọt. Hàm lượng TMAO trong cá
khác nhau tùy theo loài, điều kiện sinh sống, kích cỡ . TMAO có vai trò điều hòa
áp suất thẩm thấu của cá, vì vậy giúp cá chống lại áp suất thẩm thấu gây ra do sự
chênh lệch nồng độ muối trong nước biển. Sau khi cá chết đi , TMAO sẽ trải qua
một quá trình khử dưới sự tác động của các loài vi khuẩn tạo thành TMA.

Trimethylamin(TMA): là một amin dễ bay hơi có mùi khó chịu đặc trưng cho
mùi thuỷ sản ươn hỏng . Sự gia tăng TMA trong thủy sản phụ thuộc chủ yếu vào
hàm lượng của TMAO trong nguyên liệu cá. TMA được dùng để đánh giá chất
lượng của cá biển.
Bước tiếp theo trong suốt quá trình ươn hỏng do vi sinh vật ở cá là sự phân
hủy amino acid, cơ chế diễn ra như sau:

Chỉ có một lượng nhỏ NH3 tạo thành trong giai đoạn tự phân giải nhưng phần lớn
được tạo thành từ sự phân hủy các acid amin. TMA, NH3, amin được gọi chung là
tổng nitơ bazơ bay hơi (TVB), thường được sử dụng như chỉ tiêu hóa học để đánh
giá chất lượng cá (chủ yếu là TMA). Giới hạn cho phép TVB-N/100g ở cá bảo
quản lạnh là 30-35mg. Ở cá tươi hàm lượng TMA chiếm rất thấp. Sau thời gian
bảo quản, vi khuẩn khử TMAO tạo thành TMA làm cho cá bị ươn hỏng. TMA là
chỉ tiêu cơ bản để đánh giá mức độ tươi của cá. Chất lượng cá bảo quản lạnh được
gọi là tốt khi hàm lượng TMA-N/100g
Sự ươn cá không những chỉ có quá trình vi sinh mà còn có cả quá trình sinh
hoá do sự hoạt động của các enzyme, quá trình sinh hoá gọi là hiện tượng tự phân.
Trước hết sự thối rữa bắt đấu từ ngoài rồi xâm nhập vào bên trong. Protein bị phân
huỷ tạo thành các hợp chất có chứa nitơ làm cho thịt cá có tính kiềm sẽ tạo điều
kiện cho các vi sinh vật hoại sinh phát triển. Thịt cá thay đổi màu sắc, có mùi khó
ngửi do sự phân huỷ protein tao thành ammoniac, sulfuahydro, indol, cadaverin…
Quá trình thối rữa cá rất phức tạp và phụ thuộc vào các điều kiện ngoại cảnh và
thành phần vi sinh vật có mặt.
Các vi khuẩn thường thấy là: Bacillus mycoides, Bacillus subtilis, Bacillus
mesentericus, Chromobacterium progodiosum, Proteus vulgaris, Clostridium
putrificus, Clostridium sporogenes. Các nấm mốc có khả năng phân huỷ thịt cá là:
Aspergillus, Penicilium, Mucor…Đặc biệt nguy hiểm là loài vi khuẩn Clostridium
botulinum trong quá trình phân huỷ protein thành chất độc botulin.
4.2.2Sự biến đỏ của tôm:
Khi tôm bị ươn, thối bao giờ cũng kèm theo sự biến đỏ. Biến đỏ cũng xảy ra
khi tôm bị gia nhiệt hay bảo quản trong môi trường axit. Cơ chế của sự biến đỏ
được giải thích như sau: tôm tươi trong vỏ và thịt chứa chất astaxanthin có màu
xanh tím, bình thường astaxanthin kết hợp với protein tạo thành phức bền nhưng
dưới tác dụng của nhiệt, axit, sự phân huỷ của thịt tôm làm cho astaxanthin bị
tách ra khỏi protein. Astaxnthin sẽ bị oxi hoá tạo thành astaxin có màu đỏ gạch.
Tôm sau khi đánh bắt từ 8÷12h, bảo quản ở nhiệt độ 30÷40 0C thì sự biến đỏ
xảy ra rất nhanh. Kèm theo sự biến đỏ là sự thối rữa protein làm cho chất lượng
tôm giảm.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
12


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản


tùy thuộc vào loài vi sinh vật .Đa số vi sinh vật ngừng phát triển ở nhiệt độ lạnh ,
khô nhưng vẫn có một số vẫn có thể phát triển chung quanh 0oC thậm chí phát
triển chậm ở nhiệt độ -6oC đến -10oC (Micrococcus cereus). Song từ 0oC tuy vi
sinh vật có thể phát triển nhưng khả năng phân giải các chất đạm , chết béo là rất
ít. Vì thế mà bảo quản ở nhiệt độ thấp đươc sử dụng rất nhiều trong việc bảo quản
thủy hải sản. Có hai phương pháp bảo quản ở nhiệt độ thấp đó là ướp lạnh và lạnh
đông . Tùy vào thời gian bào quản và loại hải sản nào mà ta lựa chọn phương pháp
cho phù hợp.
5.1.1 Ướp lạnh: Là quá trình làm ức chế các quá trình hoạt động của enzyme và
các vi sinh vật gây thối . Ướp lạnh không làm ngừng quá trình phân huỷ cá mà chỉ
làm quá trình này chậm lại. . Trong khi ướp thân nhiệt của các động vật thủy sản
chưa đến điểm đóng băng của dịch tế bào. Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản
giữa phương pháp ướp lạnh và phương pháp đông lạnh.Do phưng pháp này chỉ
bảo quản được trong thời gian ngắn nên sản phẩm thường gặp của phương pháp
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
13


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

này là các loài thủy sản ướp lạnh sao khi đánh bắt như cá ướp lạnh , tôm ướp
lạnh....Phương pháp này thường sử dụng nước đá kết hợp thêm một số hóa chất ở
những tỉ lệ thích hợp.
5.1.2 Lạnh đông: Mục đích của quá trình lạnh đông thủy sản là hạ nhiệt độ xuống
thấp. Vì vậy làm chậm lại sự ươn hỏng và sản phẩm được tan giá sau thời gian bảo
quản lạnh đông hầu như không bị thay đổi tính chất ban đầu của nguyên liệu tươi.

nên bảo quản đông lạnh hai lần đối với cá tươi.
5.2 Bảo quản ở trạng thái khô:
Vi sinh vật thường phát triển được khi môi trường có ẩm độ nhất định, độ ẩm
tới hạn cho sinh trưởng của vi khuẩn là 30%, nấm mốc là 15%. Khi môi trường có
ẩm độ thấp hơn ngưỡng này thì chúng không thể phát triển được. Vì vậy để hạn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
14


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

chế vi sinh vật phát triển hư hại cho thủy hải sản trong quá trình bảo quản người ta
thường sấy khô thủy hài sản đi . Hiện nay trên thị trường có rất nhiều sản phẩm
đươc bảo quản theo phương pháp này như cá khô , tôm khô , mực khô …. Hiện
nay người ta dùng phương pháp sấy chân không ở nhiệt độ thấp, sản phẩm sấy sẽ
không bị thay đổi màu sắc, giữ nguyên giá trị dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất
được ổn định. Tuy nhiên trong quá trình ấy khô cũng khong thể tiêu diệt tất cả các
tế bào vi sinh vật , nhất là các bào tử vi khuẩn và nấm mốc rất bền với trạng thái
khô hạn. Những bào tử này sống được hàng năm và khi gặp điều kiện thuận lợi
chúng sẽ phát triển và gây hư sản phẩm khô. Ví như mực khô ta bảo quản không
tốt sau một thời gian ta sẽ thấy có một số vết màu hiện lên trên bề mặt , đó là do
bào tử của các loại nấm phát triển khi gặp điều kiện thuận lợi tạo thành các khuẩn
lạc có màu đen , xanh , trắng…
5.3 Một số phương pháp bảo quản khác:
5.3.1 Cá muối:
Từ xa xưa con người đã biết dùng muối để chượp cá. Ướp cá có thể dùng

Vi khuẩn cá muối
Aspergilus niger
Penicilium glaucum

Nồng độ muối(%) làm ngừng phát triển
10-15
10-15
6-8
6-7.5
8-10
7.5-10
10
15
25
17
19-20

Khi muối cá chúng ta cần chú ý một số vi khuẩn gây bệnh và gây ngộ độc như
Clostridium botulinum, Salmonella bị ngừng hoạt động trong nồng độ muối không
cao nhưng sống được rất lâu trong nồng độ muối cao.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
15


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

động của vi khuẩn lên hành. Những phản ứng hóa nâu của cá hộp là những phản
ứng hóa nâu không enzym.
Sự biến đổi màu sắc của sò và cua trong quá trình chế biến thường liên
quan đến những ion kim loại. Sự xuất hiện màu xanh ở cua liên quan đến đồng,
còn sự xuất hiện màu đen ở tôm là do sắt. Lươn và các loài cá ngừ cũng chịu sự
thay đổi màu sắc trong quá trình chế biến là do trong bản thân nó có chứa hàm
lượng sắt cao. Nếu nguyên liệu trước khi đem chế biến được bảo quản trong kho
lạnh thì sự thay đổi màu sắc sẽ tăng lên vì khi bảo quản trong kho lạnh sẽ làm tăng
lượng sunfua tự do trong nguyên liệu, sắt và sunfua tác dụng với nhau tạo ra kết
tủa sắt sunfit (Fe2(SO3)3) có màu đen bám trên thành hộp, ở trên bề mặt cá và ngay
cả trong phần chất lỏng.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
16


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Những tinh thể “thủy tinh” đôi khi được tìm thấy trong đồ hộp cá thu, cá
ngừ, cá hồi, tôm và giáp xác qua quá trình chế biến nhiệt. Những tinh thể này bị
người tiêu dùng hiểu nhầm là tinh thể thủy tinh. Tuy nhiên, đó lại là những tinh
thể canxi hoặc tinh thể magiê amoni phosphate. Khách hàng không cho phép có
các tinh thể này trong sản phẩm. Tốt nhất là nên đề phòng để chúng không xảy ra.
Sử dụng natri hexameta phosphate hay acid citric để ngăn cản sự hình thành canxi
và magiê tự do hoặc tạo pH thấp để tránh sự lắng cặn của tinh thể này.


lượng khoảng 0,035mg là có thể giết chết người.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
17


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Đặc điểm của độc tố này là không phân huỷ trong môi trường axit, chịu
nhiệt độ thấp, nhưng bị phân huỷ ở nhiệt độ cao và môi trường kiềm.
Sau khi ăn phải độc tố botulin sẽ bị ngộ độc, thời gian từ vài giờ đến vài
ngày, có khi đến 10 ngày tuỳ thuộc vào lượng độc tố. Độc tố này hầu như không
ảnh hưởng đến hê tiêu hoá mà tác dụng lên hệ thần kinh.
6.2 Vibrio parahaemolyticus :
Là trực khuẩn di động Gram âm, hiếu khí và yếm khí ngẫu nhiên , ưa muối, và
thường có hình dấu phẩy . Nó xuất hiện tự nhiên trong cá ở các vùng nước ấm hơn
và do đó không thể loại nó ra khỏi các sản phẩm cá . Vi sinh vật này gây bệnh cho
người và từ trước đến nay có liên quan đến các vụ đột phát ngộ độc thực phẩm .
Cần phải áp dụng sự phân tích Vibrio parahaemolyticus đối với các sản phẩm từ
những vùng tỷ lệ cao của vi sinh vật này và đặc biệt là đối với các sản phẩm không
có xử lý nhiệt trước khi ăn
Cùng với Clostridium botulinum , thì Vibrio parahaemolyticus là hai loài
thương làm biến đổi mùi vị của cá và nhuyễn thể .

6.3 Salmonella :
Là các loài trực khuẩn di động , gram âm , hiếu khí hoặc yếm khí ngẫu nhiên ,

Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

chế biến tạo ra những chất độc có thể gây ra ngộ độc thực phẩm .Việc tìm hiểu về
tác hại của các vi sinh vật trong quá trình chế biến và bào quản thủy hải đang và
ngăn chặn các tác hại đó là một việc vô cùng quan trọng đối nước ta , một đất
nước có tiềm năng to lớn trong việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
20


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

MỤC LỤC

TRANG

Chương I: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA ĐỘNG VẬT THỦY SẢN
Chương II:HỆ VI KHUẨN CỦA CÁC ĐỘNG VẬT THỦY SẢN VỪA
MỚI ĐÁNH BẮT
2.1 Hệ vi khuẩn ở cá vừa mới đánh bắt
2.2 Hệ vi khuẩn ở một số loài động vật thủy sản vừa mới đánh bắt

6.2 Vibrio parahaemolyticus
6.3 Salmonella
Chương VI: KẾT LUẬN VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
21

2
3
3
4
5
6
6
7
8
9
11
11
11
12
12
12
12
12
13
13
13
13
13

bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
23


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
24


Tác hại của VSV đến các quá trình chế biến và
bảo quản thủy hải sản

Lớp:CĐTP9A
GVHD:Đàm Sao Mai

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status