Báo cáo nghiên cứu tác động của việc phát triển thuỷ điện đến
kinh tế, môi trường và xã hội ở hạ lưu sông Mê Kông
Apisom Intralawan, David Wood and Richard Frankel
Trung tâm Nghiên cứu, đào tạo quản lý Môi trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên,
Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai, Thái Lan
Tháng 11, 2015
Nội dung
1. Tóm tắt
2. Cơ sở của vấn đề
3. Mô hình kinh tế và tỉ lệ chiết khấu
4. Những giả thiết chính
5. Tính toán kinh kế
6. Những tác động đến môi trường và kinh tế
7. Đánh giá rủi ro
8. Kết luận và kiến nghị
9. Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1. Danh mục các dự án thủy điện hiện hữu và dự kiến
Phụ lục 2. Số liệu sản lượng thủy sản sông Mekong
Phụ lục 3. Tính toán kinh tế
Lời cảm ơn
Báo cáo này là bản được hiệu chỉnh và chắt lọc lại từ báo cáo “Phương hướng hoạch định
việc phát triển nguồn tài nguyên nước nước ở hạ lưu sông Mekong” do Đại học bang
Portland và Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai (Robert Costanza,. 2011) – sau đây sẽ gọi là
‘Báo cáo Costanza’. Chúng tôi xin gửi lời cám ơn tới tác giả đã đồng ý cho việc sử dụng báo
cáo này.
Chúng tôi cũng cám ơn Oxfam đã tài trợ cho bản báo cáo này.
Tác giả không chịu trách nhiệm
Bài báo này dựa trên dữ liệu từ ‘Báo cáo Costanza’ – Đánh giá môi trường chiến lược về thuỷ
11 Đập
NPV (triệu đô la)
32.800
-1.900
2.500
33.400
25.000
32.800
Đánh bắt thuỷ sản
Khác (chi tiết bên dưới)
-27.000
-400
-54.900
300
Tổng tác động về kinh tế
-2.400
-21.800
BDP2
Tỷ lệ chiết khấu10%
Thủy điện
hy vọng tác động tiêu cực về kinh tế của các dự án thuỷ điện sẽ tăng.
Những kết luận trên hoàn toàn ủng hộ báo cáo Costanza và các khuyến nghị từ báo cáo SEA
về việc hoãn các dự án đập thủy điện trên dòng chính để tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chi
tiết về tác động xã hội và độ rủi ro của dự án.
2
2. CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ
Sông Mekong là dòng sông có sản lượng thuỷ sản nước ngọt lớn thất thế giới (sản lượng thủy
sản đánh bắt từ 2,1 tới 2,5 triệu tấn/năm) và đứng thứ 3 thế giới về đa dạng sinh học (hơn 800
loài cá) sau sông Amazon và Congo. Sản lượng cá đánh bắt ước tính không bao gồm 0,5 –
0,7 triệu tấn/năm sản lượng cá vùng duyên hải (như báo cáo của SEA) được cho là phụ thuộc
vào nguồn dinh dưỡng, phù sa của sông Mekong; 0.5 triệu tấn/năm của các loài thuỷ sản khác
như tôm, cua, nhuyễn thể, ếch… Biến động hàng năm (mực nước và dòng chảy) chính là yếu
tố chính quyết định sản lượng thuỷ sản cao từ sông và các vùng ngập nước gần đó. Tuy
nhiên, nó có thể bị thay đổi đáng kể, nếu tất cả dự án thủy điện được tiến hành dẫn đến dòng
di cư của cá bị ngăn chặn. Việc thiết kế thang leo phù hợp cho cá để đảm bào sự đa dạng và
quy mô đánh bắt vẫn còn ít được biết đến (Dugan et. Al. 2010). Các dự án thủy điện dự kiến
đã được mô tả trong BDP2 và SEA. Nhiều nghiên cứu về các tác động tiềm ẩn đến xã hội và
môi trường từ các dự án đập thủy điện đã được tiến hành. Bài báo này tập trung về hậu quả
kinh tế tiềm ẩn dựa trên báo cáo Costanza mà được sử dụng các số liệu, giả định và dự báo
được báo cáo từ BDP2 và SEA. Sự khác biệt chính giữa báo cáo Constanza và BDP2 là giá
cá ước tính, giá trị các dịch vụ hệ sinh thái và tỉ lệ giảm giá đối với nguồn vốn tự nhiên như
thuỷ sản đánh bắt và vùng đất ngập nước.
Ngoài báo cáo BDP2, MRC cũng đã phát hành các báo cáo mở rộng về nhiều lĩnh vực liên
quan đến phát triển nguồn nước ở hạ lưu sông Mekong và họ cũng xây dựng và đánh giá kịch
bản phát triển lưu vực sông trong phạm vi toàn lưu vực. Báo cáo Costanza cũng là một bài
báo cáo toàn diện (83 trang với 3 trang tóm lược), tập trung vào Tương lai Xác định, các kịch
bản 6 đập trên dòng chính và 11 đập trên dòng chính. Báo cáo Costanza làm nổi bật các rủi ro
Kịch bản Kế hoạch 20 năm của Hạ lưu sông Mekong với 6 đập trên dòng chính
thuộc phía bắc Lào. Kịch bản này cũng bao gồm 30 đập dự kiến trên sông nhánh
và được xếp vào nhóm ‘Kịch bản 6 đập’.
Kịch bản Kế hoạch 20 năm của Hạ lưu sông Mekong với Biến đổi khí hậu. Kịch
bản này bao gồm 11 đập dự kiến trên dòng chính và 30 đập dự kiến trên sông
nhánh và được xem là ‘Kịch bản 11 đập’.
Chi phí và lợi nhuận của các dự án thủy điện dự kiến được đánh giá trong BDP2 về Giá trị
hiện tại thuần (NPV) cho thời gian đánh giá trên 50 năm (xem Khung bên dưới). Việc tính
toán NPV được tính dựa trên hiệu số giảm 10% mà thường được sử dụng để đánh giá các dự
án cơ sở hạ tầng quan trọng. Tuy nhiên, báo cáo Costanza đặt vấn đề rằng phương pháp tính
toán NPV này không phù hợp để áp dụng đối với nguồn lợi tự nhiên (như sản lượng thuỷ sản
đánh bắt, lượng thủy sản từ các hồ chứa và các vùng ngập nước) và áp dụng tỉ lệ chiết khấu
thấp hơn (1% và 3%) và Khung Thời gian vô hạn đối với tài nguyên thiên nhiên. Đối với các
mục khác trong đánh giá, báo cáo Costanza cũng sử dụng NPV (10) với thời kỳ đánh giá 50
năm.
Giá trị hiện tại thuần (NPV) của một dự án là tổng tất cả các dòng tiền mặt chiết khấu của dự án
trong tương lai (chi phí đầu tư, doanh thu, chi phí, khoản vay) trong suốt thời kỳ đánh giá dự án.
Dòng tiền mặt tương lai được quy đổi theo thời điểm hiện tại (thường là hôm ngày) bằng các
hiệu số chiết khấu liên quan đến đến tỉ lệ lãi suất. Tỉ lệ chiết khấu 10% thường được dùng cho
việc đánh giá dự án. Nếu NPV(10) của dự án là dương, dự án được xem là khá thi; nếu
NPV(10) của dự án là âm, dự án được xem là không khả thi.
Bài báo cáo này dựa theo phương pháp nghiên cứu trong báo cáo Costanza tuy nhiên chỉ áp
dụng hiệu số chiết khấu 3% dành cho nguồn lợi tự nhiên do hiệu số 1% giảm giá có thể
không làm thay đổi bất kỳ kết luận nào nhưng chỉ có thể dẫn đến những tác động âm về kinh
tế cao hơn nhiều đối với thiệt hại trong đánh bắt thuỷ sản. Tính toán độ nhạy được thực hiện
đối với tỉ lệ chiết khấu 4% được xem như là giá trị cao nhât của tỉ lệ chiết khấu sử dụng cho
nguồn tài nguyên thiên nhiên (Stiglitz, 1994). Để tương thích với báo cáo BDP2 và Costanza,
10%
10%
3%
3%
3%
3%
10%
Ghi chú: Giá trị NPV sử dụng trong báo cáo này dành cho Khác (Sản lượng nông nghiệp tưới
tiêu, Sự giảm về đa dạng sinh học, Giảm diện tích rừng, Suy giảm lúa, Giảm thiểu tác động
của lũ lụt, Giảm thiểu diện tích nhiễm mặn, Mất do xói lở bờ và Giao thông thủy) thì giống
với các giá trị trong báo cáo Costanza và BDP2 dựa trên tỉ lệ giảm giá 10% và chu kì đánh
giá 50 năm.
4
4. CÁC GIẢ ĐỊNH CHÍNH
4.1. Công suất điện từ đập thủy điện
Dựa theo BDP2 và SEA, công suất tạo ra từ các đập thủy điện dự kiến có thể là 25.000 MW
đối với kịch bản 11 đập, và 18.000 MW từ kịch bản 6 đập. Số tiền đầu tư cần thiết cho kịch
bản 11 đập là 52 tỉ đô la và tạo ra NPV khoảng 33 tỉ đô la. Chín đập trên dòng chính có thể
được xây ở Lào và 2 ở Campuchia, nhưng 90% lượng điện có thể sẽ được mua bởi Thái Lan
và Việt Nam. Công suất từ 11 đập thuỷ điện này có thể cung cấp 6-8% nhu cầu điện dự báo
của khu vực hạ lưu sông Mekong cho năm 2025.
Việc đánh giá về mặt kinh tế của thuỷ điện trong BDP2 giả định rằng nước chủ nhà sẽ là chủ
dự án lợi nhuận từ thuỷ điện có thể tích lũy cho nước chủ nhà, tuy nhiên điều này đối với Lào
dường như không phải như thế khi đòi hỏi phải có nguồn kinh phí đầu tư cực lớn. Bản đánh
giá của BDP2 còn giả định rằng giá điện xuất khẩu khoảng bằng 85% giá trị thay thế ở nước
nhập khẩu. Giá trị này dường như là cao và tạo ra lợi nhuận cao từ kinh doanh điện (NPV
lượng đánh bắt để làm thức ăn. Thứ hai, chi phí nuôi trồng thuỷ sản cao hơn đánh bắt thuỷ
sản.
5
Báo cáo chỉnh sửa áp dụng giá cá ở mức 2,5 đô la/kg và cùng giả định như báo cáo Costanza
về mức gia tăng trong sản lượng nuôi thuỷ sản (tăng tương đương 10% sản lượng đánh bắt bị
giảm). Tuy nhiên, Báo cáo chinh sửa tính mức lợi nhuận từ nuôi thủy sản sử dụng NPV (10)
với chu kì 50 năm vì nuôi trồng thuỷ sản đòi hỏi nguồn vốn đầu tư, chi phí vận hành và bảo
trì không giống như nguồn lợi tự nhiên.
4.4. Thuỷ sản đánh bắt
Rất khó để ước tính lượng thuỷ sản đánh bắt hàng năm từ 4 quốc gia ở hạ lưu sông Mekong
do số liệu thủy sản đánh bắt của chính phủ không bao gồm các hộ đánh bắt nhỏ lẻ và các hộ
đánh bắt qui mô lớn có xu hướng báo cáo thấp hơn thực tế. Và càng khó hơn để tính lượng
thủy sản mất đi nếu các đập thủy điện được xây trên sông Mekong do nhiều loài cá khác nhau
có các tập tính di cư khác nhau. Một khoảng biến động lớn về lượng cá ước tính được trình
bày ở Phụ lục 2. Tác động về kinh tế (giá trị NPV) được tính ở BDP2 dường như dựa trên
mức thấp nhất của các khoảng này. Báo cáo Costanza đã giả định mức sản lượng đánh bắt
thuỷ sản là 2,3 triệu tấn/năm và một mức giảm 58% ở mỗi quốc gia nếu toàn bộ 11 đập được
xây. Kết quả này mang đến tổn hại kinh tế lớn cho Thái Lan trong khi BDP2 và SEA dự đoán
lượng cá mất đi chủ yếu nằm ở Campuchia và Việt Nam.
Nghiên cứu này tổng quan lại dữ liệu về lượng cá di cư trình bày ở Phụ lục 2 và giả định rằng
tất cả các loài cá di cư sẽ không tồn tại ở kịch bản 11 đập dựa trên đánh giá của SEA và
BDP2 rằng 11 đập có thể là rào cản đường di cư của cá dọc theo dòng chính sông Mekong.
Dữ liệu về sản lượng cá mất đi trong bảng được dựa trên ước tính của BDP2 soạn thảo bởi
Hortle (2009).
Bảng 2. Ước tính lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi theo các dự án thuỷ diện
Lào
Thái Lan
Sản lượng ước tính bên trên không bao gồm 0,5 – 0,7 triệu tấn/năm sản lượng cá ven biển
(như được báo cáo bởi SEA) mà phụ thuộc vào lượng dựa trên phù sa/dinh dưỡng đến từ
dòng chảy của sông Mekong và khoảng 0,5 triệu tấn/năm của các loài động vật thủy sinh
khác (OAA).
Bài báo cáo này giả định 1kg cá trị giá 2,5 đô la đối với cá nuôi/từ hồ chứa và 3,5 đô la/1kg
đối với thuỷ sản đánh bắt mà được cho là khá là ước lượng so với giá thị trường hiện tại. Hơn
nữa, giá cá này không bao gồm các chi phí khác liên quan như lưới bắt cá, chế biến và dịch
vụ bán cá. Giá cá này có được từ các cuộc khảo sát giá cả thị trường thực hiện bởi Bộ Thủy
sản Thái Lan năm 2014 với sự chuẩn nhận từ một số dữ liệu của Việt Nam. Ở Việt Nam và
Thái Lan, giá thị trường của nhóm cá đen (cá lóc, cá tra, cá trê, cá rô) và nhóm cá trắng nuôi
(chép, mè vinh, rô phi) ở tầm khoảng 2-3 đô/kg trong khi cá trắng tự nhiên (mè vinh, cá he,
cá bông lau…) có giá khoảng 5-10 đô la/kg (Thông tin cá nhân, 2015).
4.5. Vùng đất ngập nước
Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 25% vùng đất thuộc hạ lưu sông Mekong được xếp vào
nhóm đất ngập nước (McCartney, 2015). Nó bao gồm rừng, đầm lầy và thảm cỏ – những chỗ
6
ngập nước trong suốt mùa mưa. Theo báo cáo Đánh giá về Các Kịch bản Phát triển lưu vực
sông Mekong (MRC, 2011) thì tất cả loại hình đất ngập nước sẽ giảm đối với kịch bản 6 đập
do 6 đập trên dòng chính nằm ở vùng cao hơn phía Lào và các hồ chứa nước của các đập này
sẽ trữ lại nước mà lẽ ra sẽ đổ về phía vùng có độ cao thấp hơn (hạ nguồn). Tuy nhiên, đối với
kịch bản 11 đập, các đập trên dòng chính nằm trên vùng thấp ở Lào và Campuchia và như thế
sẽ dẫn đến gia tăng đáng kể diện tích đất ngập nước.
Báo cáo Constanza giả định các giá trị khác nhau cho từng loại đất ngập nước dựa trên giá trị
đất ngập nước từ Nghiên cứu Đồng bằng Mississippi (Batker ctv., 2008). Giá trung bình là
khoảng 3000 đô la/ha/năm. Trong báo cáo này, giá đất ngập nước được lấy từ cuộc khảo sát
780 hộ ở Bung Khong Long – hồ nước ngọt lớn nhất ở phía Bắc Thái Lan (Chaikumbung
2013). Giá trị trung bình ở khoảng 1.300 đô la/ha/năm, và con số này đại diện cho giá địa
phương và khả năng chi trả. Con số này được xem là tối thiểu vì các hộ gia đình này có thu
BDP2
Báo cáo Costanza
Bản chỉnh sửa
NPV (triệu đô la)
NPV (triệu đô la)
NPV (triệu đô la)
Thuỷ điện
25.000
25.000
25.000*
Thuỷ sản hồ chứa
100
4.000
2.700
Nuôi trồng thuỷ sản
1.300
800
400
Thuỷ sản đánh bắt
-1.000
-28.500
-27.000
Đất ngập nước
-200
-4.500
-1.500
Xã hội/văn hoá
0
0
-800
3.800
26.700
Báo cáo Costanza
NPV (triệu đô la)
16.600
-1.400
-15.000
-1.900
-1.700
Bản chỉnh sửa
NPV (triệu đô la)
4.600
10.300
-13.200
-4.100
-2.400
Bảng 5. Tóm lược cách tính toán NPV cho kịch bản 11 đập
Thuỷ điện
Thuỷ sản hồ chứa
Nuôi trồng thuỷ sản
Thuỷ sản đánh bắt
Đất ngập nước
Xã hội/văn hoá
Phù sa/dinh dưỡng
Khác
Tổng cộng
-54.900
1.100
-1.500
-5.400
900
-21.800
* NPV cho thuỷ điện được lấy từ BDP2 nhưng có thể cao quá mức so với thực tế – xem mục
4.1
Bảng 6. Chi phí /lợi nhuận quốc gia được chia theo kịch bản 11 đập
Lào
Thái Lan
Campuchia
Việt Nam
Tổng cộng
BDP2
NPV (triệu đô la)
22.600
4.500
2.600
3.700
33.400
Báo cáo Costanza
NPV (triệu đô la)
20.400
-39.100
-33.700
Báo cáo chỉnh sữa
Lượng cá mất đi gia tăng đối với trường
hợp xấu nhất của BDP2
Giá cá giảm còn 2 đô la/kg và 3 đô la/kg
Giá cá tăng lên 3 dô la/kg và 4 đô la/kg
Tỉ lệ giảm giá 4% đối với nguồn lợi tự nhiên
BDP2
Kịch bản 11 đập
NPV (triệu đô la)
-2.400
-37.500
-21.800
-57.800
800
-5.700
6.100
-15.000
-28.600
-5.500
Rõ ràng là việc gia tăng lượng cá mất đi hoặc giá cá sẽ làm gia tăng đáng kể các con số âm
NPV. Cũng lưu ý rằng các giá trị NPV cho nguồn lợi tự nhiên rất nhạy với tỉ lệ giảm giá lựa
chọn nhưng ngay cả với tỉ lệ giảm giá 4% (được cho là cao đối với nguồn lợi tự nhiên) tác
động kinh tế thì tiêu cực đối với kịch bản 11 đập.
6. TÁC ĐỘNG LÊN MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI
này, chúng tôi giả định 70% lượng phù sa và dinh dưỡng mất đi đối với Việt Nam và 10% đối
với Campuchia, Lào và Thái Lan. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để đánh giá giá trị phù
sa và dưỡng chất bị mất lên hệ sinh thái và các quần xã sinh vật phía hạ nguồn gây ra bởi sự
ngăn chặn lũy tiến của các đập trên dòng chính và nhánh.
6.3. Tác động xã hội
Giống như thuỷ sản đánh bắt, sự tác động văn hoá/xã hội không được đánh giá cặn kẽ trong
BDP2. Việc xây dựng các công trình thuỷ điện trên sông chính và nhánh sông Mekong sẽ
mang đến các mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh lương thực và sinh kế của 30 triệu người
dân nông thôn ở vùng hạ lưu. Sự hiểu biết mức độ phụ thuộc của con người vào nguồn nước
và hệ sinh thái sông cho sinh kế, sức khoẻ và phúc lợi vẫn còn đang diễn tiến. Sinh kế của cư
dân vùng hạ lưu phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng nguyên vẹn của hệ sinh thái sông
Mekong. Việc xã hội quản lý các dự án thủy điện như thế nào để hiện đại hoá khu vực sẽ xác
định sự phồn thịnh tương lai của cư dân vùng hạ lưu sông Mekong. Các tác động kinh tế về
các vấn đề xã hội/văn hoá không được tính đến trong BDP2 nhưng có thể tạo ra chi phí giảm
thiểu 5-12% vốn đầu tư dựa trên “thực tiễn tốt nhất” được thực hiện tại các dự án thủy điện
hiện tại trên sông Mekong. Bản chỉnh sửa giả định một cách ước lượng chi phí giảm thiểu về
các tác động văn hóa/xã hội là 5% vốn đầu tư.
7. ĐÁNH GIÁ RỦI RO
Phân tích chi phí lợi nhuận cũng như tính toán NPV thường được sử dụng cho các quyết định
đầu tư và hữu ích nhất khi các số liệu kinh tế đầu vào được xác định rõ, tuy nhiên không may
đây không phải là trường hợp áp dụng cho các đề án đập thủy điện trên dòng chính sông
Mekong khu vực có các tác động lũy kế và xuyên biên giới đáng kể được dự báo. Báo cáo
SEA đã tóm lược các tác động được dự báo và các rủi ro của việc phát triển thủy điện trên
dòng chính được trình bày dưới đây:
• Những ảnh hưởng đáng kể lên chế độ dòng chảy và lắng tụ phù sa xuyên suốt toàn bộ lưu
vực sông Mekong.
• Các khu vực từ Bo Gaeo tới Luang Prabang và tất cả các đoạn của sông Mekong bị ngập
nước bởi các hồ chứa của dòng chính có thể sẽ không còn trải qua các mùa chuyển tiếp
hàng năm quan trọng về mặt sinh thái tạo ra các quá trình sinh học trong các sinh cảnh
vùng ngập nước và ven sông. Các khu vực khác của sông có thể cảm nhận được sự rút
8.1. Nghiên cứu này khẳng định đánh giá của báo cáo Costanza rằng, bằng việc thay đổi một
số giả định chính trong BDP2 (tỉ lệ giảm giá thấp đối với nguồn lợi tự nhiên; giá cá khoảng
3$/kg), các kết luận trong BDP2 sẽ hoàn toàn thay đổi; tính khả thi kinh tế của các dự án đập
thủy điện dự kiến sẽ chuyển từ dương (như trong BDP2) thành âm về NPV.
8.2 Báo cáo chỉnh sửa trong ghiên cứu này cho thấy tác động kinh tế của lượng thủy sản
đánh bắt mất đi theo dự báo (dựa trên loài cá di cư) là lớn hơn nhiều so với lợi nhuận từ thủy
điện.
8.3 Việc giả định chia 30% lợi nhuận từ thủy điện cho nước chủ nhà và 70% cho quốc gia tài
trợ dự án và nhập khẩu điện, Thái Lan và Lào là những nước hưởng lợi từ các dự án thủy
điệm dự kiến trong khi Campuchia và Việt Nam sẽ phải gánh chịu giá phải trả. Điều này
cũng rõ ràng rằng các nhà phát triển dự án và nhập khẩu điện sẽ có lợi nhưng cộng động đánh
bắt thuỷ sản nông thôn sẽ chịu đựng tổn thất.
8.4 Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng giá trị NPV của thuỷ sản đánh bắt trong BDP2 là dưới
mức thực tế (lượng mất đi theo tấn/năm và giá cá quá thấp) và giá trị NPV lợi nhậu từ thủy
điện trong BDP2 lại quá cao so với thực tế (vốn đầu tư quá thấp, lợi nhuận từ bán điện của
nước chủ nhà quá cao).
8.5 Tác động kinh tế của các vấn đề văn hóa/xã hội không được tính tới trong BDP2 nhưng
có thể dẫn đến các chi phí giảm thiểu 5-12% vốn đầu tư mà có thể ảnh hưởng ngược lại tính
khả thi của dự án.
8.6 Nếu các dự án thuỷ điện trên dòng chính không được theo đuổi nữa, có thể có rủi ro tối
thiểu về an ninh điện cho các nước ở vùng hạ lưu và nhu cầu điện dự báo có thể được cung
cấp bởi các nguồn năng lượng thay thế (ví dụ như năng lượng mặt trời, gió, sinh khối) và cải
thiện được hiệu quả sử dụng năng lượng.
8.7 Trong Bản báo cáo chỉnh sửa, Lào sẽ có NPV dương ở cả 2 kịch bản. Báo cáo đề xuất
rằng Thái Lan, Campuchia và Việt Nam mỗi nước sẽ chi trả hàng năm khoảng 100 triệu đô
la/năm (tổng cộng 300 triệu đô la/năm) cho Lào trong 30 năm tới để bồi thường cho việc
không cho Lào tiếp tục phát triển thuỷ điện trên dòng chính. Kế hoạch chi trả đề xuất này có
thể ít hơn lượng thuỷ sản đánh bắt mất đi ở Campuchia và Việt Nam. Ngoài ra, cộng đồng
quốc tế có thể hỗ trợ tất cả hoạt động nghiên cứu cần thiết để phát triển các giải pháp giảm
thiểu khả thi và chấp nhận được trong suốt khoảng thời gian này.
Ganjaseni, A. Intralawan and D. Morell (2011). Alternative Planning Approaches for Hydropower
Develoment in the Lower Mekong Basin, Portland State University USA and Mae Fah Luang
University Thailand.
Cowx, I. G., W. Kamonrat, N. Sukumasavin, R. Sirimongkolthawon, S. Suksri and N. Phila (2015). Larval
and Juvenile Fish Communities of the Lower Mekong Basin MRC Technical Paper No. 49. Phnom
Penh, Cambodia.
De Groot, Stuip, Finlayson and Davidson (2006). Valuing wetlands: Guidance for valuing the benefits
derived from wetland ecosystem services, Ramsar Technical Report No. 3.
De Groot, R., L. Brander, S. Van Der Ploeg, R. Costanza, F. Bernard, L. Braat, M. Christie, N. Crossman,
A. Ghermandi and L. Hein (2012). "Global estimates of the value of ecosystems and their services in
monetary units." Ecosystem services 1(1): 50-61.
Dugan, P. (2008). "Mainstream dams as barriers to fish migration: international learning and implications
for the Mekong." Catch and Culture 14(3).
Dugan, P., C. Barlow, A. A. Agostinho, E. Baran, C. F. Cada, D. Chen, C. Ian G, J. W. Ferguson, T.
Jutagate, M. Mallen-Cooper, G. Marmulla, J. Nestler, M. Petrere, R. L. Welcomme and K. O.
Winemiller (2010). "Fish Migration, Dams, and Loss of Ecosystem Services in the Mekong Basin."
AMBIO 39: 344-348.
Hall, D. and L. Bouapao (2010). Social Impact Monitoring and Vulnerability Assessment: Regional
Report., Mekong River Commission, Vientiane, Lao PDR: 179.
Halls, A. (2010). Estimation of Annual Yield of Fish by Guild in the Lower Mekong Basin, WorldFish
center, Phnom Penh, Cambodia.
Hortle, K. G. (2007). Consumption and the Yield of Fish and other Aquatic Animals from the Lower
Mekong Basin. MRC Technical Paper No. 16, Mekong River Commission, Vientiane, Lao PDR.
Hortle, K. G. and P. Bamrungrach (2015). Fisheries Habitat and Yield in the Lower Mekong Basin MRC
Technical Paper No. 47, Mekong River Commission, Phanon Penh, Cambodia.
ICEM (2010). Fisheries Baseline Assessment Working Paper.
ICEM (2010). MRC Strategic Environmental Assessment (SEA) of Hydropower on the Mekong
Mainstream. Hanoi, Vietnam.
Kondolf, G., Z. Rubin and J. Minear (2014). "Dams on the Mekong: cumulative sediment starvation."
Water Resources Research 50(6): 5158-5169.
Lat Sua
Don Sahong
Stung Treng
Sambor
Tổng dòng chính
22 đập
18 đập
46 đập
Tổng số
*
**
M/T*
Vị trí
M
M
M
M
M
M
M
M
M
M
M
Lao PDR
Lao PDR
5.600
23.480
Quốc gia
phát triển
Hồng Kông
Việt Nam
Thái Lan
Trung Quốc
Hồng Kông
Thái Lan
Thái Lan
Thái Lan
Malaysia
Tình trạng**
MoU/FS
MoU/FS
Đang xây dựng
MoU/FS
MoU/FS
?
MoU/FS
MoU/FS
Thực hiện sơ bộ?
MoU/FS
MoU
Đang vận hành
Đã cam kết
Dự kiến
Tổng sản lượng thuỷ sản 2,304 triệu tấn/năm.
- Lào 166.000 Thái Lan 861.000 Campuchia 588.000 Việt Nam 719.000
Tổng sản lượng thuỷ sản 2,6 triệu tấn/năm
Tổng sản lượng ước tính theo nhóm cộng thêm các nhóm động vật thủy
sinh khác 2,55 triệu tấn/năm
- Lào 208.450 Thái Lan 911.257 Campuchia 585.661 Việt Nam
851.781 tấn/năm
Khoảng sản lượng ước tính vùng hạ lưu sông Mekong là 1,3-2,7 triệu
tấn/năm. Con số 2,3 triệu tấn/năm là số liệu sản lượng thủy sản đánhbắt
ước tính có được tốt nhất cộng thêm các nhóm động vật thủy sinh khác
Tài liệu tham khảo
(Mekong River
Commission 2010)
(Van Zalinge et al. 2004)
(Hortle 2007)
(Mekong River
Commission 2011)
(An 2015)
(Nam 2015)
(Cowx et al. 2015)
(Halls 2010)
(Hortle 2015)
Bảng 2. Lượng cá mất đi ước tính do thủy điện trên dòng chính
SẢN LƯỢNG CÁ MẤT ĐI
Tài liệu tham khảo
Bảng 3.1. Bảng tóm lược chi tiết tính toán giá trị NPV đối với kịch bản 6 đập
Thuỷ điện
Nông nghiệp tưới tiêu
Thủy sản hồ chứa
Nuôi trồng thuỷ sản
Đánh bắt thuỷ sản
Đất ngập nước
Tác động xã hội/văn hoá
Phù sa/dưỡng chất
Điểm nóng sinh thái/Đa dạng
sinh học
Suy giảm diện tích rừng
Suy thoái lúa
Giảm thiểu lũ
Giảm thiểu nhiễm mặn
Mất do xạt lở bờ
Giao thông thủy
Tổng cộng
BDP2
NPV (triệu đô la)
25.002
1.659
132
1.261
-952
-178
0
0
0
64
26.728
-228
-175
360
23
0
64
-1.716
-228
-175
360
23
0
64
-2.428
Bảng 3.2. Bảng tóm lược chi tiết tính toán giá trị NPV đối với kịch bản 11 đập
Thuỷ điện
Nông nghiệp tưới tiêu
Thủy sản hồ chứa
Nuôi trồng thuỷ sản
Đánh bắt thuỷ sản
Đất ngập nước
Tác động xã hội/văn hoá
Phù sa/dưỡng chất
0
0
-415
Bản chỉnh sửa
NPV (triệu đô la)
32.823
1.659
4.331
743
-54.854
1.114
-1.494
-5.414
-415
-372
278
-273
-2
0
64
33.403
-372
278
-273
-2
0
64