Nghiên cứu xây dựng nền biên phòng toàn dân trong tình hình mới - Pdf 34

bộ khoa học và công nghệ

bộ quốc phòng

bộ t lệnh Bộ Đội Biên Phòng

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Đề tài độc lập cấp nhà nớc

nghiên cứu xây dựng nền biên phòng
toàn dân trong tình hình mới

Chủ nhiệm đề tài: Trung tớng, TS Tăng Huệ
t lệnh Bộ Đội Biên Phòng

6136
15/10/2006

Hà nội 7 - 2006


2

bộ khoa học và công nghệ

bộ quốc phòng

bộ t lệnh Bộ Đội Biên Phòng

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Đề tài độc lập cấp nhà nớc

Đại tá, CN Nguyễn Mạnh Thắng

- Cục trởng Cục TSBP

Đại tá, Th.s Nguyễn Đình Khẩn

- Phó Tham mu trởng BĐBP

Đại tá, Th.s Vũ Hiệp Bình

- Chủ nhiệm Chính trị BĐBP

Đại tá, TS Hoàng Xuân Chiến

- Phó Giám đốc HVBP

Ban th ký đề tài:
Đại tá, TS Hoàng Minh Hiểu

- Phó trởng phòng KHCN và MT

Thợng tá, Th.s Nguyễn Trí Thành

- Trởng phòng Quản lý Việt - Lào

Thợng tá, Th.s Trơng Viết Tý

- Chủ nhiệm Khoa CT- Hệ TH- HVBP

Cơ quan phối hợp nghiên cứu:

ch÷ viÕt t¾t

1. BVBG
2. BGQG
3. BPTD
4. B§BP
5. §NBP
6. KHCN
7. KVBG
8. QP-AN

B¶o vÖ biªn giíi
Biªn giíi quèc gia
Biªn phßng toµn d©n
Bé ®éi biªn phßng
§èi ngo¹i biªn phßng
Khoa häc c«ng nghÖ
Khu vùc biªn giíi
Quèc phßng- An ninh


5

mục lục
Trang
Mở đầu
6
Chơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nền biên phòng
8
toàn dân

ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh
BGQG
3.6. Tăng cờng hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề biên giới, 91
vùng biển, tạo môi trờng ổn định, xây dựng biên giới hoà
bình, hữu nghị với các nớc láng giềng, khu vực
Kết luận
97
Kiến nghị
98
Danh mục tài liệu tham khảo
99


6

mở đầu
1. Tính cấp thiết
Qua hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, ông cha ta luôn coi biên
giới là "bờ cõi", "phên dậu", "cửa ngõ", tuyến đầu hết sức quan trọng của
quốc gia; là "đất đai thiêng liêng" của xã tắc nên không một phút lơ là
khinh suất, trái lại luôn canh phòng cẩn mật. Phơng lợc nổi bật nhất của
ông cha ta là coi "sức dân nh nớc" và lấy đó làm quốc sách để "phòng bị
dân sự'' lâu dài. Ngày nay, lãnh thổ và BGQG là thiêng liêng, bất khả xâm
phạm, an ninh biên giới là một bộ phận không thể tách rời của an ninh quốc
gia. Giữ ổn định an ninh biên giới có tác động thúc đẩy, góp phần quan
trọng thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Quá trình hình thành và phát triển của công tác biên
phòng Việt Nam là sự biểu hiện của sức mạnh đoàn kết và ý chí độc lập tự
cờng của dân tộc ta. Đảng và Nhà nớc ta luôn coi xây dựng nền BPTD
trong sự nghiệp BVBG, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nền BPTD.
- Phân tích những nội dung cơ bản về xây dựng nền BPTD.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu xây dựng nền BPTD trong tình hình mới.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu: xây dựng nền BPTD.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu về lý luận nền BPTD trên các tuyến
biên giới đất liền, biển- đảo.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phơng pháp luận của Chủ nghĩa
Mác- Lê nin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về xây dựng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền an ninh
BGQG; vận dụng các phơng pháp nghiên cứu khoa học nh: lôgíc, lịch sử,
phân tích và tổng hợp, điều tra và khảo sát, phơng pháp chuyên gia.
6. Đóng góp mới của đề tài
- Nghiên cứu bổ sung, phát triển một số vấn đề lý luận cơ bản về xây
dựng nền BPTD nh: khái niệm, nội dung, yêu cầu xây dựng nền BPTD.
- Đề xuất những giải pháp xây dựng nền BPTD, góp phần bảo vệ vững
chắc chủ quyền an ninh BGQG trong tình hình mới.
7. Cấu trúc của đề tài
Gồm phần mở đầu, 3 chơng, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo và các phụ lục.


8

Chơng 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
nền biên phòng toàn dân
1.1- Ông cha ta huy động sức mạnh toàn dân bảo vệ biên giới
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, các nhà nớc phong

hiểm trở, biển- đảo ngăn cách không thể huy động binh mã, lơng thảo kịp
thời để bảo vệ bờ cõi khi xảy ra biên sự, các nhà nớc phong kiến Việt Nam
đã sử dụng biện pháp huy động lực lợng nhân dân biên giới tại chỗ, vũ khí
tại chỗ, lơng thảo tại chỗ hình thành thế trận tại chỗ lợi hại để đánh trả
quân xâm lợc và chống lại hành động xâm lấn lãnh thổ của ngoại bang
trong hàng nghìn năm qua.
Với quan điểm bách tính giai vi binh (toàn dân là lính), thời phong
kiến, ngoài quân chủ lực của triều đình (kinh binh), quân các địa phơng
(cơ vệ của trấn, tỉnh), nhà nớc khuyến khích và sử dụng đội quân của các
thôn ấp, làng bản dân tộc, vùng biển nh hơng binh, thổ binh, dân binh,
quân của các thổ tù, châu mục biên giới. Lúc bình thờng thì sản xuất làm
ăn ở làng, bản; khi có chiến tranh hay bọn cớp đến phá hoặc khi biên giới
bị xâm lấn thì họ vừa là tai mắt cấp báo cho triều đình vừa tổ chức đánh trả
tại chỗ, sử dụng vũ khí tự tạo nh hầm chông, cạm bẫy, cung tên chống
trả quân xâm lợc, ngăn chặn lấn chiếm biên giới rất hiệu quả. Sử cũ ghi
rằng: nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá đợc giặc dữ, làm cho thế
nớc đợc mạnh(1).
ở nhiều địa bàn biên giới, nhân dân đã tự tổ chức lực lợng để bảo vệ
chủ quyền, cơng vực; ngay dới thời Lê- Trịnh, khi nhà nớc lơ là, ít chú ý
việc biên cơng, khi có giặc đến thì nhân dân ở biên giới đã chủ động đánh
giặc, tự tổ chức phòng thủ làng, bản bảo vệ đất đai, lãnh thổ. Các đội quân
của tù trởng và đội dân binh của phò mã Thân Cảnh Phúc ở Lạng Sơn (thời
Lý), của Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chơng ở Tây Bắc (thời Trần) đã bao phen
làm quân xâm lợc khiếp đảm. Kẻ thù nhiều lần kinh sợ gọi đội quân của
Thân Cảnh Phúc là những thiên thần Động Giáp.
Nh vậy, để giữ gìn biên cơng lãnh thổ, ông cha ta đã coi mỗi ngời dân
ở biên giới, vùng biển là một ngời lính biên thuỳ. Kinh nghiệm cả nớc đánh
giặc, toàn dân BVBG đã và đang đợc phát huy hiệu quả trong thực tiễn công
tác biên phòng và là cơ sở vững chắc cho xây dựng nền BPTD vững mạnh.
(1)

vừa rèn luyện quân sự kiểu ngụ binh nông (gửi lính ở nhà nông), lúc biên
cơng có giặc thì ra trận bảo vệ đất nớc. Vua Minh Mệnh từng nhận xét về
đồn điền: "Mộ dân đồn điền là có lợi rất nhiều. Khi vô sự thì yên ổn cày cấy,
quân đợc thừa lơng mà dân đợc thừa thóc. Khi hữu sự, thì bảo vệ lẫn
nhau, mà dân đều là quân. Dùng mà giữ thì phải vững, dùng mà đánh thì
phải thắng. Về việc làm cho đủ quân, đủ lơng, để có thể giữ vững bờ cõi của
ta mà ngăn ngừa giặc cớp bên ngoài, thì đấy là kế tốt nhất (1)
(1)

Nôi các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điều sự lệ, Tập 9, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993.


11

Ngoài đồn điền, nhà nớc còn khuyến khích lập các dinh điền để khai
khẩn đất hoang ở biên giới, bờ biển: ở duyên hải Đông Bắc, dinh điền sứ
Nguyễn Công Trứ đã khai hoang lấn biển lập nên hai huyện Tiền Hải (Thái
Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình); ở biên giới Tây Nam lập nên nhiều tổng,
huyện ở Hà Tiên, An Giang, Tây Ninh... Cùng với ngời Việt, c dân
Chăm, Khơme, Hoa; một số giáo dân Thiên Chúa, Bửu Sơn Kỳ Hơng, Tứ
Ân Hiếu Nghĩa... đã góp phần tích cực khai phá nhiều đất đai ở biên giới
Tây Nam. Triều đình huy động c dân đắp lộ, đào kênh ở vùng biên giới
nh kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế, kênh Vĩnh An... vừa phát triển kinh tế,
vừa tạo nên những hào luỹ nhân tạo kết hợp với những hào luỹ tự nhiên
đánh giặc BVBG.
Với chính sách phát triển dinh điền, đồn điền, đào kênh đắp lộ, nhà
nớc đã huy động nhân dân khai phá nhiều ruộng đất, các đồn điền về sau
phát triển thành các thôn ấp, mở rộng các điểm định c của c dân biên
giới. Quyết sách tịch thổ tráng biên (mở rộng đất đai, làm mạnh biên
giới), tĩnh vi nông, động vi binh (lúc bình thờng thì sản xuất, khi có

dân biên giới, nhà nớc đã thực sự thu phục đợc các tộc ngời thiểu số
chung sức khai phá và bảo vệ toàn vẹn bờ cõi qua hàng ngàn năm lịch sử.
- Phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc ở
biên giới bảo vệ biên ải
Các thế lực phong kiến phơng Bắc luôn tìm mọi cách thôn tính nớc
ta, biến nớc ta thành quận, huyện, đồng hoá làm thay đổi bản sắc văn hoá
của dân tộc ta, nhng đã bị thất bại.
Lịch sử đã chứng minh rằng: ngời Việt Nam không bao giờ chấp
nhận sự đồng hoá, không chịu mất nớc, không chấp nhận thành những
thần dân của phong kiến phơng Bắc. Ngời Hán không thể bắt dân ta tuân
theo lễ giáo phong kiến Hán tộc, không thể bắt dân ta từ bỏ phong tục tập
quán, từ bỏ nền văn hoá lâu đời của mình để theo văn hoá Hán. Nhà Lê đã
nghiêm cấm việc bắt chớc ngôn ngữ và y phục nớc ngoài làm thay đổi
phong tục, ngôn ngữ trong nớc. Trong trờng kỳ lịch sử, ông cha ta luôn
chú trọng đấu tranh bảo vệ bản sắc văn hoá, chống đồng hóa chính trị, đồng
hoá tộc ngời và chống t tởng bành trớng, mở rộng lãnh thổ biên giới
xuống phía Nam của phong kiến phơng Bắc.
Các nhà nớc phong kiến Việt Nam luôn khẳng định: Việt Nam có bờ
cõi, lãnh thổ riêng đã ghi ở thiên th- sách trời (Nam quốc sơn hà của Lý
Thờng Kiệt), có phong tục tập quán, nền văn hoá riêng (Bình Ngô đại cáo
của Nguyễn Trãi). Nguyễn Huệ đã khẳng định rõ mục đích đánh giặc ngoại
xâm Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng. ý chí sắt đá bảo vệ bản
sắc dân tộc, bảo vệ truyền thống văn hoá lâu đời của đất nớc là nguồn sức
mạnh của dân tộc ta trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, BVBG giữ gìn
bản sắc văn hoá của Việt Nam.
Chính vì vậy, các triều đình phong kiến Việt Nam luôn khuyến cáo tôn
trọng phong tục tập quán của các tộc ngời ở biên giới trong cộng đồng
quốc gia thống nhất. Luật đời Lê quy định rõ việc xét xử phải tiến hành
theo tục lệ của họ. Nhà nớc có chính sách nâng đỡ, giáo hoá các tộc
ngời thiểu số để họ từ bỏ thói man di, tiếp thu văn minh của tộc ngời

Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia là nội dung
quan trọng của chiến lợc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Trong giai đoạn cách mạng mới nhiệm vụ BVBG rất toàn diện
BVBG trên bộ, trên biển, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất
nớc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, chống xâm nhập trái phép
và chống buôn lậu qua biên giới, bảo vệ tài nguyên đất nớc; xây dựng
biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nớc láng
giềng(1) .Thực hiện nhiệm vụ trên không chỉ có BĐBP mà phải có sự
tham gia của toàn dân, của các cấp các ngành dới sự lãnh đạo của Đảng.
(1)

Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 8-8-1995 của Bộ Chính trị BCH Trung ơng khoá VII


15

Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 8.8.1995 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành
Trung ơng Đảng (Khoá VII) đã chỉ rõ: Xây dựng và BVBG quốc gia là
nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, của tất cả các ngành, các cấp
của Nhà nớc và các đoàn thể .
Xây dựng và BVBG quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Giữ vững và
tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với nền BPTD là vấn đề có tính
nguyên tắc; kết hợp chặt chẽ xây dựng và phát huy vai trò tổ chức quản lý
của hệ thống chính quyền của các cấp, sự tham gia của nhân dân trong cả
nớc, mà trực tiếp là nhân dân các dân tộc ở KVBG. Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: "Tăng cờng quốc phòng, giữ
vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu
thờng xuyên của Đảng, Nhà nớc và của toàn dân, trong đó Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân là lực lợng nòng cốt'' (1) . Đó là cơ sở
phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị

dân, tổ chức nhân dân BVBG, vùng biển, phòng chống vợt biên xâm nhập
và âm mu phá hoại của các loại đối tợng, giữ vững an ninh KVBG, vùng
biển- đảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn lực lợng biên phòng:Nhân
dân có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân. Cho nên chúng
ta phải dựa vào dân để hoạt động. Khi tổ chức đợc dân, đoàn kết đợc dân
thì việc gì cũng làm đợc"(2) .
Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lợng, của cả hệ thống
chính trị, tổ chức xã hội tham gia BVBG
Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lợng, các ngành ở biên
giới là yêu cầu tất yếu khách quan, là nhân tố quyết định thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ biên phòng. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng
định: Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính
trị, từng bớc tăng cờng tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nớc,
xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn
dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng
cao chất lợng các lực lợng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, an
ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nớc"(3) .
Nghị quyết 11/NQ- TW, ngày 8.8.1995 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành
Trung ơng (Khoá VII) cũng chỉ rõ: "Hệ thống tổ chức của BĐBP cùng với cơ chế
lãnh đạo, chỉ huy và phối hợp giữa các lực lợng và các ngành, các cấp phải bảo
đảm tạo nên sự chỉ huy thống nhất, thông suốt, nhanh chóng và có hiệu lực trong
công tác biên phòng, đồng thời phối hợp đợc chặt chẽ các lực lợng, các ngành có
liên quan và nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền BPTD vững mạnh" .
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: " Sức mạnh bảo vệ Tổ
quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị
(1)
(2)
(3)

Nghị Quyết số 58-NQTW ngày 19-11-1958 của Bộ Chính trị.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử biên phòng của nớc ta có lực lợng
chuyên trách BVBG.
Nghị quyết 11/NQ-TW, ngày 8.8.1995 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ chức
năng, nhiệm vụ của BĐBP: " Bộ đội biên phòng là một lực lợng vũ trang
(1)

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội 2001, tr.117


18

cách mạng của Đảng và Nhà nớc, là một thành phần của Quân đội nhân
dân, làm nòng cốt chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền và an ninh biên
giới quốc gia, theo nhiệm vụ và quyền hạn đợc giao ''.
Trải qua hơn 47 năm xây dựng và trởng thành, BĐBP luôn đợc
Đảng, Nhà nớc và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo xây dựng lực
lợng vững mạnh về chính trị, t tởng và tổ chức, đảm bảo sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, Ban Chấp
hành Trung ơng Đảng (Khoá V) ngày 26.11.1984 chỉ rõ: Các lực lợng
vũ trang biên phòng phải tổ chức thành hệ thống, thống nhất lực lợng biên
phòng và tăng cờng công tác nghiệp vụ an ninh. Nghị quyết 24 của Bộ
Chính trị, Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (Khoá V) ngày 9.6.1985 tiếp
tục khẳng định: "Phải xây dựng BĐBP đủ mạnh trong thời bình cũng nh
trong thời chiến, bảo đảm làm tròn chức năng quan trọng mang tính chất
an ninh, quốc phòng và đối ngoại .
Trớc tình hình quốc tế và khu vực luôn có những tác động tới biên
giới lãnh thổ nớc ta. Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 8.8.1995 của Bộ
Chính trị (Khoá VII) tiếp tục xác định: "BĐBP là lực lợng nòng cốt
trong các lực lợng bảo vệ, quản lý, giữ gìn an ninh trật tự biên giới của
Tổ quốc, là lực lợng thành viên của các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện

BVBG và xây dựng KVBG vững mạnh toàn diện, BĐBP đã từng bớc tham
mu cho bộ, chính quyền địa phơng và các đoàn thể tổ chức thành viên các
cấp từ Trung ơng đến cơ sở có nhiều hình thức, biện pháp tuyên truyền giáo
dục, động viên tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia sự nghiệp xây dựng
và BVBG (Phụ lục 1-2). Hệ thống chính trị ở các xã biên giới đợc củng cố
ngày càng vững mạnh (Phụ lục 3). Nhân dân các dân tộc ở biên giới luôn
đoàn kết một lòng theo Đảng, thế trậnbiên giới lòng dân đợc củng cố.
Nhân dân và các lực lợng vũ trang BVBG luôn gắn bó, cộng đồng trách
nhiệm, chấp hành nghiêm chủ trơng, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nớc, vợt qua mọi thử thách, kiên quyết bảo vệ chủ quyền toàn vẹn
lãnh thổ, an ninh BGQG.
Việc đầu t xây dựng, phát triển kinh tế ở biên giới, vùng biển- đảo
đợc Chính phủ hết sức quan tâm, các địa phơng triển khai thực hiện tích
cực bằng nhiều chủ trơng, biện pháp cụ thể. Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng,
định canh, định c, phát triển nông, lâm, ng, công nghiệp, thơng nghiệp ở


20

KVBG đã làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế ở KVBG (Phụ lục 3), tạo tiềm
lực kinh tế vững chắc cho nền BPTD, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp quản
lý, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh BGQG.
Tiềm lực QP- AN của đất nớc không ngừng đợc củng cố, có bớc
phát triển mới, tạo cơ sở vững chắc cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc nói
chung và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới nói riêng. Thế trận BPTD
từng bớc đợc xây dựng, hoàn thiện, các lực lợng vũ trang tại chỗ đều
đợc giao nhiệm vụ tác chiến, BVBG hết sức cụ thể, xác định rõ phạm vi
hoạt động và quy chế hiệp đồng phối hợp chặt chẽ. Trên các hớng trọng
điểm nh: Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Chính phủ và Bộ Quốc phòng tập
trung xây dựng công trình chiến đấu; khả năng tác chiến bảo vệ biên giới

nớc láng giềng ngày càng chặt chẽ, tạo môi trờng thuận lợi cho công tác
quản lý, BVBG. Công tác ĐNBP ngày càng đợc phát triển, phát huy tốt sức
mạnh tổng hợp của ngoại giao nhân dân, góp phần quan trọng xây dựng biên
giới hoà bình, hữu nghị, tăng cờng mối quan hệ hợp tác với các nớc, hạn
chế các mâu thuẫn giữa các bên trong quản lý, BVBG.
Những kết quả trên là do: có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Ban
Chấp hành Trung ơng, Bộ Chính trị, Ban Bí th, Quốc hội, Chính phủ, sự
quan tâm đầu t, chỉ đạo của các bộ, ngành đối với sự nghiệp BVBG.
Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các địa
phơng và tinh thần tích cực, tự giác tham gia BVBG của nhân dân các
dân tộc ở biên giới.
Với chức năng, nhiệm vụ đợc Đảng, Nhà nớc giao cho, Bộ đội biên phòng
đã làm tham mu và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trơng, chính sách của
Đảng, Nhà nớc, làm tốt vai trò nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền,
an ninh BGQG, góp phần tích cực xây dựng nền BPTD vững mạnh.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nền BPTD vẫn còn những tồn
tại, nh:
Nhận thức về xây dựng nền BPTD của các cấp, các ngành, địa phơng
và các tầng lớp nhân dân còn nhiều hạn chế. Phong trào toàn dân hớng về
biên giới, hải đảo cha đợc lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ. Cơ sở chính trị, xã
hội ở các xã biên giới còn yếu; trình độ nhận thức về quốc gia, quốc giới
của nhân dân ở biên giới còn thấp ( Phụ lục 1-2-3 ).


22

Tiềm lực chính trị- tinh thần, kinh tế, QP- AN tuy đã có sự phát
triển, song vẫn cha đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVBG. Thế trận BPTD
thiếu sự gắn kết giữa các lực lợng, các địa bàn trên các tuyến biên giới.
Lực lợng BĐBP tuy đã đợc quan tâm xây dựng song vẫn còn nhiều mặt

biển, 112 cửa sông, 47 vũng, vịnh, có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa rộng lớn. Vùng biển nớc ta có gần 3.000 hòn đảo. Hệ thống đảo hình
thành một vòng cung rộng lớn chạy suốt từ Vịnh Bắc Bộ qua quần đảo
Hoàng Sa, Trờng Sa đến phía Nam và Tây Nam. Hệ thống đảo tiền tiêu
nằm phía ngoài nh: quần đảo Hoàng Sa, Trờng Sa, các cụm đảo Trần, Cô
Tô, Bạch Long Vĩ, Phú Quý, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc Các đảo này
có giá trị đặc biệt quan trọng về QP- AN. Hệ thống đảo tuyến giữa, một số
đảo có diện tích khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, nổi bật là các cụm
đảo Cát Bà, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Nam Du... thuận lợi, việc phát triển
kinh tế, du lịch, xây dựng hải cảng, sân bay, các công trình chiến đấu
phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Hệ thống đảo ven bờ có Cát Hải, Cồn Cỏ...
thuận lợi cho phát triển kinh tế nông- lâm- ng, du lịch và dịch vụ
Khí hậu, thời tiết ở địa bàn biên giới khắc nghiệt, thiên tai xảy ra thờng
xuyên. Mùa ma bão thờng có lũ quét, sạt núi, lở đờng giao thông dễ bị
tắc nghẽn. Mùa khô hanh thờng xẩy ra cháy rừng, thiếu nớc sinh hoạt, khó
khăn cho sản xuất. Vùng biển- đảo thờng xuyên bị tác động của thiên tai,
bão, triều cờng gây thiệt hại cho nhân dân vùng ven bờ và ng dân hoạt
động trên biển.
Điều kiện địa lý tự nhiên trên biên giới, vùng biển nớc ta có nhiều
thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội, giao thông, quốc phòng, an ninh và
BVBG. Tuy nhiên cũng có nhiều khó khăn bất lợi, thờng xuyên tác động
ảnh hởng đến nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG.
- Kinh tế-xã hội
Trên các tuyến biên giới, vùng biển- đảo có nhiều tiềm năng lớn để
phát triển kinh tế, song hiện tại so với các địa bàn khác trong cả nớc,
KVBG, vùng biển- đảo phát triển kinh tế còn chậm, đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn, thiếu thốn.
ở biên giới đất liền, nhân dân canh tác chủ yếu là nơng rẫy, kinh tế tự
cung tự cấp, sản phẩm phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên, năng suất
thấp, thờng xảy ra mất mùa, đói kém. Do tập quán sống du canh, du c

ở Tây Nam đều có đặc tính chung mang tính chất tự quản dới các hình
thức tổ chức xã hội khác nhau nh bản mờng (phía Bắc), buôn làng (Tây
Nguyên), phum sóc (ngời Khơ me Tây Nam Bộ) của cộng đồng các tộc
ngời. Trong đó, những ngời đứng đầu bản mờng, phum sóc là già làng,


25

trởng dòng họ có vị trí vai trò rất quan trọng. Họ là những ngời có chức
sắc, có uy tín, đợc cộng đồng c dân tôn vinh và kính trọng; họ có khả
năng điều phối các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng, tiếng nói của họ có
tính quyết định. Vì vậy, trong công tác tổ chức vận động nhân dân tham gia
BVBG cần tranh thủ dựa vào những ngời này thì mới có kết quả tốt.
- Về văn hóa
Các dân tộc ở biên giới đã xây dựng, sáng tạo nên các giá trị văn hoá
mang tính đặc thù của cộng đồng từ văn hoá vật chất đến văn hoá tinh thần,
phong tục tập quán, tín ngỡng tôn giáo...
Trong lịch sử dựng nớc, giữ nớc và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,
văn hoá dân tộc có vai trò hết sức to lớn, duy trì và phát huy các giá trị
truyền thống, đặc biệt là truyền thống cộng đồng, truyền thống yêu nớc,
chống ngoại xâm bảo vệ đất nớc; bồi dỡng tính nhân văn trong đạo
đức, nếp sống; xây dựng các quy tắc ứng xử và giao tiếp văn hoá trong
sinh hoạt. Nó là điểm tựa để mỗi con ngời trong cộng đồng tồn tại và
phát triển.
Tuy nhiên, thực trạng đời sống văn hoá các dân tộc ở biên giới cũng
có những biến đổi theo các chiều hớng khác nhau làm mai một, lai tạp
ảnh hởng đến bản sắc của văn hoá dân tộc. Mặt khác, do khó khăn về địa
lý, dân c phân tán việc giao thoa các nền văn hoá còn hạn chế, nạn đói
văn hoá cha đợc khắc phục. Thực hiện âm mu chống phá Việt Nam,
các thế lực thù địch đã và đang tập trung phá hoại nền văn hoá dân tộc và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status