PHÒNG GD- ĐT ĐÔNG HẢI
Trường TH Long Điền Tiến A
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do-Hạnh phúc
Long Điền, ngày 02 tháng 03 năm 2012
Họ và tên: Hồ Thị Mành
Năm sinh: 1974
Năm vào ngành: 2001
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm( Cử nhân khoa học)
Nhiệm vụ được giao: Giáo viên giảng dạy lớp 1
Thành tích đạt được trong năm qua: Hoàn thành tốt nhiệm vụ
Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
Nhằm Nâng Cao Chất Lượng“Vở Sạch -Chữ Đẹp”
I/ Phần mở đầu:
1/Lí do chọn đề tài:
Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là
được đến trường, được học đọc, học viết. Biết đọc, biết
viết thì cả một thế giới mới rộng lớn mênh mông sẽ mở ra
trước mắt các em.
Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến
trường. Vì vậy dạy chữ chính là dạy người.
Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một
biểu hiện của nết người”. Dạy cho học sinh viết đúng, viết
cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính
cẩn thận, tính kỷ luật.
Thực tế nhiều năm giảng dạy lớp tôi nhận thấy chữ viết
của đa số các em học sinh của lớp tôi chủ nhiệm giảng dạy
chưa được đẹp, chưa đúng mẫu, sự liên kết giữa các nét chữ
hoặc liên kết giữa các chữ cái chưa chuẩn, học sinh sử dụng
nhiều loại bút, nhiều màu mực để viết bài nên còn hạn chế
trong việc giữ gìn “vở sạch - viết chữ đẹp”.Từ đó tỉ lệ học sinh
viết chữ đẹp của lớp, của trường còn hạn chế. Vì vậy tôi có
suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng giờ dạy để học
sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp thì phong trào “vở sạch chữ đẹp” mới có chất lượng.
Mặc dù xác định được tầm quan trọng như vậy nhưng
thực tế cho thấy phân môn tập viết trong trường tiểu học còn
chưa được coi trọng. Sách giáo viên, tài liệu tham khảo chưa
cụ thể, rõ ràng như những môn học khác nên việc dạy phân
môn tập viết còn hạn chế. Qua dự giờ cho thấy có giáo viên
còn chưa nắm vững tên gọi các nét cơ bản để hướng dẫn học
sinh.
III/ Nội dung:
1/ Cơ sở lý luận:
Muốn nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người
giáo viên cần nắm vững một số yêu cầu sau:
a) Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 1:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về
đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét
chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ, chữ ghi tiếng,
cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và
liên kết các chữ cái tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền
mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ. Ngoài ra học
nhận thức. Nếu trẻ được viết trong tư thế thoải mái, tâm
trạng phấn khởi thì có kết quả tốt.
IV. Giải pháp thực hiện:
1/ Lý thuyết hoạt động:
Để viết được chữ thì học sinh phải hoạt động (phải
tiêu hao năng lượng của thần kinh và bắp thịt). Hoạt
động viết của học sinh được thực hiện qua thao tác sau:
- Làm quen với đối tượng: Khi giáo viên hướng
dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng mắt, tai và tay sẽ làm theo.
- Nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay
theo các đường nét của chữ cái để nhấn mạnh cách viết
đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó.
- Học sinh thu thập được để tái hiện hình ảnh đó
trong óc trước khi viết.
- Làm thử: Hình ảnh đã có trong óc cần được thể
hiện trên bảng, trên giấy bằng các dụng cụ như bút bảng,
phấn, bút mực.
- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút kinh
nghiệm cho lần sau.
2) Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:
- Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ.
Các cơ và xương bàn tay của trẻ đang độ phát triển nhiều
chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay vụng về, dễ mệt
mỏi.
- Khi cầm bút các em có tâm lý sợ rơi. Điều này gây
nên một phản ứng tự nhiên là các em cầm bút chặt, các
cơ tay cứng nên khó di chuyển.
Ví dụ:
dòng kẻ ngang
Đường kẻ dọc
Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường
kẻ dọc, đường kẻ ngang và các ô vuông làm định hướng. Đây là
một trong những điều kiện để dạy chữ viết thành một quy trình.
Quy trình được thực hiện lần lượt bởi các thao tác mà ngòi bút đi
qua tọa độ các chữ.
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn
cứ vào các ô vuông của khung chữ mẫu để phân tích cách
viết.
Ngoài việc thống nhất các khái niệm về đường kẻ, ô
vuông như trên, để việc tổ chức dạy tập viết có hiệu quả hơn,
cần chú ý thêm một số thuật ngữ có liên quan:
a.1- Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét
trong chữ cái. Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ ngang,
hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
Ví dụ:
điểm đặt bút (1) nằm trên đường
điểm đặt bút (1) không nằm
kẻ ngang
n
trên đường kẻ ngang
a.5- Kỹ thuật lia bút:
Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay
viết nối các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục
nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) không chạm vào mặt
phẳng viết (giấy, bảng). Thao tác đưa bút trên không gọi là lia
bút.
Ví dụ: b nối với a
ba
Từ b - a không viết liền được ta viết chữ b sau đó lia bút
sang điểm bắt đầu của chữ a.
a.6- Kỹ thuật rê bút:
Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với
nét chữ vừa viết. Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu
ngòi bút, phấn) chạy nhẹ từ điểm kết thúc của nét đứng trước
đến điểm bắt đầu của nét liền sau.
Ví dụ: Khi viết chữ h phải viết nét thẳng của chữ ( h )
sau đó không nhấc bút để viết mà rê ngược bút lên đường kẻ
ngang thứ 2 để viết nét móc 2 đầu
h
Đoạn (1), (2) là đoạn rê bút
b) Hệ thống các nét cơ bản:
gồm 2 loại:
* Nét thẳng: thẳng đứng , nét ngang , nét xiên / , \
* Nét cong: cong hở (cong hở phải, cong hở trái ), cong khép
5/ Phương pháp dạy tập viết:
5.1) Phương pháp trực quan:
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em
bằng nhiều con đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay
luyện tập. Điều này giúp các em chủ động phân tích hình
dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giống
nhau và khác nhau của chữ cái đã học trước đó trong
cùng một nhóm bằng thao tác so sánh.
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các
bài tập viết. Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết
đúng. Có các hình thức chữ mẫu: chữ mẫu in sẵn, chữ
phóng to trên bảng, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ
mẫu… Tiêu chuẩn cơ bản của chữ mẫu là phải đúng mẫu
quy định, rõ ràng và đẹp.
Chữ mẫu có tác dụng:
- Chữ mẫu phóng to trên bảng sẽ giúp học sinh dễ
quan sát, từ đó tạo điều kiện để các em phân tích hình
dáng và các nét chữ cơ bản, cấu tạo chữ cái cần viết trong
bài học.
- Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh
nắm được thứ tự các nét chữ của từng chữ cái, cách nối
các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền
mạch, viết nhanh.
- Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được
quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế giáo viên cần ý
thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.
phân môn Tập viết cũng như ở các phân môn của bộ môn
Tiếng Việt và các môn học khác.
Khi học sinh luyện tập chữ viết, giáo viên cần luôn
luôn uốn nắn cách ngồi viết. Cần lưu ý các hình thức
luyện tập cơ bản sau:
Tập viết chữ (Chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp.
Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra
sự tiếp thu cách viết và bứớc đầu đánh giá kỹ năng viết
chữ của học sinh. Hình thức này dùng để kiểm tra bài cũ
hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập
viết chữ ở lớp. Từ đó, giáo viên phát hiện những chỗ sai
của học sinh để uốn nắn (sai về kích cỡ, hình dáng, thứ tự
các nét viết).
Tập viết chữ vào bảng con của học sinh:
Học sinh luyện tập viết bằng phần (hoặc bút dạ)
vào bảng con trước khi viết vào vở. Học sinh có thể viết
chữ cái, vần, chữ khó vào bảng. Khi sử dụng bảng, giáo
viên phải hướng dẫn học sinh cả cách lau bảng, cách giơ
bảng, cách sử dụng và bảo quản phấn…
Luyện viết trong vở:
Muốn cho học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết,
giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ
năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng
cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết
nét…) giúp các em viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở
mỗi phần bài viết.