ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CAO LỆ QUYÊN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN NUÔI TÔM NƯỚC LỢ VEN BIỂN
TỈNH THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
MÃ SỐ: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – năm 2015
Công trình được hoàn thành tại: Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường – Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi ............................................................
.......................................................................................................
Phản biện 1: ..................................................................................
Phản biện 2: ..................................................................................
Phản biện 3: ..................................................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ
Họp tại: .........................................................................................
Vào hồi: ...... giờ......... ngày......... tháng........ năm ......................
iii) Đề xuất được các giải pháp thích ứng với BĐKH cho lĩnh
vực nuôi tôm nước lợ.
1
3. Nội dung của luận án
i) Nghiên cứu cơ sở lý luận về nuôi trồng thủy sản (NTTS) ven
biển, nuôi tôm nước lợ, cộng đồng người nuôi tôm, BĐKH và mối
liên quan giữa BĐKH và NTTS;
(ii) Đánh giá hiện trạng phát triển nuôi tôm nước lợ tỉnh Thanh
Hóa trong bối cảnh BĐKH;
(iii) Đánh giá tác động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ ở cấp
độ cộng đồng và dự báo tác động của BĐKH ở cấp tỉnh;
(iv) Đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH cho lĩnh vực
nuôi tôm nước lợ tại Thanh Hóa.
4. Điểm mới của luận án
i) Đã bước đầu xây dựng được mô hình tương quan hồi quy đa
biến về mối quan hệ giữa sản lượng tôm nuôi nước lợ với các yếu tố
BĐKH để lượng hóa được tác động của BĐKH đến nuôi tôm;
ii) Đã bước đầu đưa ra điểm mới khi khẳng định số ngày nắng
nóng với nhiệt độ không khí tăng cao trên 35°C trong năm có ảnh
hưởng tiêu cực đến đối tượng tôm nuôi khi làm giảm sản lượng tôm
nuôi trong năm cũng như hai năm tiếp sau;
iii) Nghiên cứu cũng đã chứng minh được việc sử dụng biến
nhiệt độ không khí như là một biến “gián tiếp” thay thế cho biến
nhiệt độ nước trong mô hình hồi quy dự báo tác động của BĐKH là
có cơ sở khoa học đáng tin cậy.
5. Ý nghĩa của luận án
Luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc dự báo
được ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động nuôi tôm nước lợ. Trên
3
hợp các hộ gia đình cùng thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng và
quản lý hoạt động nuôi tôm trên một vùng nuôi, không phân biệt địa
giới hành chính và hình thức nuôi, cùng sử dụng chung nguồn nước
cấp và hệ thống thoát nước.
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp
hay gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần
của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu
tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. BÐKH xác định sự
khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay
thống kê khí hậu trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài
thập kỷ (Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012).
Đánh giá tác động của BĐKH là nghiên cứu xác định các ảnh
hưởng của BĐKH lên môi trường và các hoạt động kinh tế - xã hội
của địa phương. Ngoài các ảnh hưởng bất lợi còn có thể có các ảnh
hưởng có lợi. Đánh giá tác động của BĐKH cũng bao gồm việc xác
định và đánh giá các giải pháp thích ứng với BĐKH (IMHEN, 2011).
1.1.2. Khung lý thuyết vấn đề nghiên cứu
Luận án tập trung xem xét mối quan hệ tác động qua lại giữa
nuôi tôm nước lợ và BĐKH để xác định tác động của BĐKH đến
nuôi tôm nước lợ và đề xuất giải pháp ứng phó. BĐKH có thể tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến NTTS về các khía cạnh như suy
giảm sức đề kháng của vật nuôi, vật nuôi dễ nhiễm bệnh, hư hỏng cơ
sở hạ tầng (CSHT), thất thoát vật nuôi, thay đổi năng suất, sản lượng,
chi phí sản xuất, thu nhập của cộng đồng người nuôi và tác động đến
các HST có liên quan,... Vì vậy cần phải ứng phó với BĐKH trong
nuôi tôm nước lợ ven biển như thế nào để đảm bảo sản xuất ổn định
4
- Tôm nuôi (tỷ lệ sống, sinh
trưởng, dịch bệnh, mùa vụ);
- Môi trường ao nuôi.
Hệ sinh thái liên quan:
- Chất lượng môi trường nước;
- Chất lượng các hệ sinh thái.
Điều kiện kinh tế, xã hội cộng
đồng người nuôi:
- Cơ sở hạ tầng vùng nuôi và
vật tư, thiết bị trang trại nuôi;
- Sản lượng tôm nuôi;
- Diện tích nuôi;
- Thu nhập của hộ nuôi;
- Rủi ro về sức khỏe của người
nuôi.
GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
Giải pháp ứng phó với
sự thay đổi của nhiệt độ
và lượng mưa.
Giải pháp ứng phó với
sự thay đổi tần suất và
cường độ của bão, lũ.
Giải pháp quản lý môi
trường, dịch bệnh và
nghiệp Guyana, trong đó có thủy sản, mô hình kinh tế lượng đã được
áp dụng để lượng hóa mối quan hệ này. Trong mô hình, nhóm tác giả
đã xây dựng được mối quan hệ về sự phụ thuộc của sản lượng hải
sản (bao gồm cả khai thác và NTTS trên biển) với các yếu tố như giá
hải sản xuất khẩu, nhiệt độ bề mặt nước biển (SST) và lượng mưa
năm (Rain) theo 3 kịch bản BĐKH đến năm 2050 của IPCC xây
dựng. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các tác giả đã không xem xét
đồng thời tác động của các yếu tố kỹ thuật (công nghệ nuôi, sử dụng
con giống, thức ăn, hóa chất,...) đến sản lượng thủy sản, cũng như tần
suất và cường độ các cơn bão, lũ lụt hoặc hạn hán có thể xảy ra trong
cả thời kỳ nghiên cứu nên kết quả mô hình cần được xem xét thêm.
Tuy nhiên, đây là một hướng nghiên cứu tiềm năng cần được xem
6
xét, chỉnh lý và phát triển để áp dụng vào việc lượng hóa các tác
động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ tại Thanh Hóa trong nghiên
cứu của luận án này.
Đến nay, mặc dù hiện tượng BĐKH toàn cầu do con người gây
ra đã được thừa nhận, nhưng từ phương diện nghiên cứu khoa học,
thông tin liên quan đến BĐKH còn chứa nhiều yếu tố không chắc
chắn. Nghiên cứu tổng quan của De Silva và Soto (2009), De Silva
(2012), Cochrane et al. (2009), Badjeck et al. (2010) về tác động
tiềm tàng của BĐKH đến ngành thủy sản cho thấy các nghiên cứu
tác động BĐKH trong ngành thủy sản đều chứa đựng yếu tố không
chắc chắn, thường dựa trên các tính chất đặc thù của giống loài thủy
sản và mối tương quan với môi trường tự nhiên để phán đoán. Đây là
những điểm cần lưu ý khi thực hiện đánh giá tác động của BĐKH
đến hoạt động nuôi tôm nước lợ tại Thanh Hóa.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
phương, PRA và bảng hỏi điều tra hộ gia đình nuôi tôm.
2.3.3. Phương pháp đánh giá tác động định tính
Sử dụng ma trận đánh giá tác động của BĐKH theo hướng dẫn
của IMHEN (2011). Sử dụng thang điểm 1-5 để quy đổi kết quả đánh
giá định tính của cộng đồng về mức độ tác động của BĐKH đến nuôi
tôm nước lợ thành bảng điểm định lượng: (i) Mức tác động thấp
nhất: cho điểm 1; (ii) Mức tác động áp dưới trung bình: cho điểm 2;
(iii) Mức tác động trung bình: cho điểm 3; (iv) Mức tác động áp trên
8
trung bình: cho điểm 4; và (v) Mức tác động cao nhất: cho điểm 5.
Kết quả cho điểm được biểu diễn trên các bảng, biểu đồ tương quan.
2.3.4. Xây dựng mô hình dự báo tác động
- Áp dụng mô hình tương quan hồi quy đa biến (dạng hàm sản
xuất) để xây dựng mối quan hệ giữa sản lượng tôm nước lợ tại Thanh
Hóa với các biến đầu vào: diện tích, lao động, vốn đầu tư cho nuôi
tôm, nhiệt độ không khí trung bình năm, số ngày nóng trên 35°C
trong năm, lượng mưa và số lượng cơn bão có ảnh hưởng trong năm
để dự báo tác động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ:
Ln(Producet) = β0 + β1T + β2Ln(Acreaget) + β3Ln(Capitalt) +
β4Ln(Labourt) + β5Tempt+ β6Raint + β7Stormt + β8MaxTempt +
β9Dummy+ εt
(10)
Trong đó:
Producet là sản lượng tôm nuôi năm t
(tấn)
số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn khác nhau.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng nuôi tôm nước lợ ven biển tại Thanh Hóa
Hoạt động nuôi tôm nước lợ của Thanh Hóa bắt đầu từ những
năm 1971 (Sở Thủy sản Thanh Hóa, 1995). Đến nay Thanh Hóa đã
trở thành tỉnh có diện tích (DT) nuôi tôm nước lợ lớn nhất trong số
sáu tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ.
Kết quả điều tra cho thấy, nuôi tôm nước lợ nói riêng và NTTS
ven biển nói chung là một trong những hoạt động sản xuất quan
trọng ở vùng ven biển, đóng góp đáng kể (76%) vào thu nhập của hộ
gia đình tại địa phương. Số năm kinh nghiệm nuôi tôm của cộng
đồng tham gia khảo sát trung bình là 17,7 năm tại các xã điều tra.
Tôm sú và tôm thẻ chân trắng là những đối tượng nuôi chủ lực,
trong đó, tôm sú là loài bản địa và chiếm tỷ trọng lớn, thường được
nuôi kết hợp hoặc luân canh với các đối tượng khác như cua, cá nước
lợ và rong câu theo hình thức quảng canh cải tiến. Tôm chân trắng
được nuôi theo hình thức thâm canh nhưng DT nuôi chiếm tỷ trọng
nhỏ (3%) trong tổng DT nuôi tôm toàn tỉnh. Năng suất nuôi tôm bình
quân tại các xã điều tra vẫn còn thấp hơn so với trung bình toàn tỉnh
và tiềm ẩn khả năng rủi ro cao do ảnh hưởng tiêu cực từ BĐKH và
suy giảm chất lượng môi trường.
3.2. Tác động của BĐKH đến nuôi tôm ở cấp độ cộng đồng
Qua thảo luận nhóm, cộng đồng địa phương đã xác định: thay
đổi cường độ và tần xuất của bão, lũ gây tác động lớn nhất đến nuôi
tôm, biểu hiện ở 4 loại tác động với mức độ lớn (đạt 5 điểm) là: sức
10
khỏe tôm nuôi, môi trường ao nuôi, chất lượng các HST có liên quan
và hệ thống CSHT vùng nuôi. Yếu tố “nhiệt độ tăng” xếp thứ hai với
định độ trễ tối ưu của mô hình là 3. Sử dụng mô hình ARDL
(Autogressive Distributed Lag) để thể hiện sự phụ thuộc của các biến
đầu vào (trong đó có biến BĐKH) với sản lượng tôm nuôi trong mô
hình khung số (10). Kết quả tính toán ban đầu cho thấy, mô hình ước
lượng được còn ít ý nghĩa thống kê. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã tiến
hành loại bỏ bớt một số biến có giá trị t thấp và tính toán được mô
hình hồi quy về mối tương quan giữa các yếu tố BĐKH và sản lượng
nuôi tôm nước lợ tỉnh Thanh Hóa như trong phương trình (12):
Ln(Producet) = -0,0994 +0,0192T + 0,6425Ln(Producet-2) 0,0967Ln(Acreaget) – 0,2936Ln(Acreaget-2) + 0,3556Ln(Acreaget-3)
+ 0,0793Ln(Capitalt) + 0,204Ln(Capitalt-1) – 0,1675Ln(Capitalt-3) 0,2211Ln(Labourt) + 0,0541Tempt–0,000058Raint +0,0073Stormt –
0,0252Stormt-1
-
0,0289Stormt-2
–
12
0,0012MaxTempt
–
0,0036DMaxTempt-1 – 0,0057MaxTempt-2 – 0,0041MaxTempt-3 +
0,1332D1
(12)
lượng năm sau giảm 2,52% và năm sau nữa giảm 2,89%. Điều này
có thể giải thích là do bão đã làm suy giảm chất lượng môi trường
trong và xung quanh khu vực nuôi, xáo trộn môi trường của các thủy
vực nước cấp. Đồng thời bão cũng làm hư hỏng, thiệt hại CSHT
quan trọng cho nuôi tôm như đê, kè, bờ bao, lều trại, máy móc, thiết
bị,... đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực lớn để có thể khắc phục.
Số lượng ngày nắng trên 35°C có ảnh hưởng tiêu cực tới sản
lượng và kéo dài tới ba năm sau. Nếu số ngày nắng trên 35°C tăng
một ngày sẽ làm cho sản lượng tôm nuôi năm sau giảm 0,36%, hai
năm sau giảm 0,57% và ba năm sau tiếp tục giảm 0,41%. Điều này
có thể giải thích là do nắng nóng kéo dài đã làm giảm sức đề kháng
của tôm, phát sinh dịch bệnh, suy giảm chất lượng môi trường và làm
nghèo dinh dưỡng tự nhiên trong thủy vực. Bên cạnh đó, yếu tố về
nhiệt độ trung bình có gây ảnh hưởng tích cực tới tôm nuôi, còn
lượng mưa có tác động tiêu cực tới sản lượng tôm nuôi nhưng cả hai
biến này đều không có ý nghĩa về mặt thống kê.
3.3.2. Dự báo tác động của BĐKH đến sản lượng tôm nuôi
Kịch bản BĐKH và NBD cho tỉnh Thanh Hóa đã được Bộ
TN&MT xây dựng trong kịch bản chung của quốc gia đến năm 2100
với các mốc thời gian 10 năm tính từ năm 2020 (Bộ TN&MT, 2012)
và kịch bản phát thải trung bình (B2) được khuyến nghị áp dụng
trong đánh giá tác động. Trong phạm vi nghiên cứu này, do các chỉ
tiêu phát triển nuôi tôm nước lợ của Thanh Hóa (DT nuôi và sản
14
lượng nuôi) mới chỉ được địa phương xác định đến năm 2020 và tầm
nhìn 2030 (Sở TN&MT Thanh Hóa, 2012), bởi vậy, việc dự báo tác
động của BĐKH được thực hiện cho 2 mốc thời gian là 2020 và
2030. Kịch bản phát triển nuôi tôm nước lợ đến 2020 và 2030 được
lợ của Thanh Hóa đã được xác định và phân loại thành 3 nhóm
chính: (i) Tác động đến đối tượng nuôi và môi trường ao nuôi; (ii)
Tác động đến các HST liên quan; và (iii) Tác động đến điều kiện
KTXH của cộng đồng người nuôi. Các yếu tố BĐKH có tác động
đến nuôi tôm cũng đã được xác định bao gồm sự thay đổi nhiệt độ
(đặc biệt là số ngày nắng nóng trên 350C kéo dài), thay đổi lượng
mưa, NBD và thay đổi cường độ và tần xuất của bão, lũ lụt.
16
Chính vì vậy, các giải pháp thích ứng cũng được đề xuất tương
ứng 3 nhóm tác động ở trên. Giải pháp đề xuất sẽ tập trung vào giải
quyết các vấn đề: đa dạng hóa đối tượng nuôi; thay đổi kỹ thuật nuôi;
đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng; quản lý và giảm sát môi
trường ao nuôi, và nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH và
phòng chống thiên tai để góp phần giảm nhẹ tác động của BĐKH tại
địa phương. Các giải pháp này được phân thành 4 nhóm chính: (i)
Giải pháp thích ứng với sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa; (ii)
Thích ứng với sự thay đổi tần xuất và cường độ bão, lũ và NBD; (iii)
Giám sát môi trường, dịch bệnh và quản lý chất thải; và (iv) Nâng
cao nhận thức về BĐKH cho cộng đồng.
3.5. Thảo luận chung
Kết quả đánh giá tác động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ tại
Thanh Hóa ở cả 2 cấp độ cộng đồng và cấp tỉnh là tương đối tương
đồng với nhau, cho thấy các yếu tố thay đổi về tần suất và cường độ
của bão, lũ và nhiệt độ tăng cao trên 35°C gây ảnh hưởng lớn nhất
đến hoạt động nuôi tôm nước lợ tại vùng nghiên cứu. Kết quả này
góp phần khẳng định nghiên cứu của các tác giả Staples và Heales
(1991), Fast & Boyd (1992), Bùi Quang Tề (2003) và Ngô Đăng
Nghĩa (2008) khi cho rằng, nhiệt độ tăng cao trên 35°C làm cho tôm
nhiệt độ nước trong mô hình hồi quy số (12) là có cơ sở khoa học
đáng tin cậy.
Mức độ suy giảm sản lượng tôm nuôi cũng đã được lượng hóa
trong mô hình tương quan hồi quy được xây dựng. Nguyên nhân
chính của việc suy giảm sản lượng này được cộng đồng người nuôi
18
tôm xác định là do nắng nóng kéo dài đã làm tôm bị giảm khả năng
miễn dịch, giảm ăn, dễ bị mắc bệnh, giảm tốc độ lớn và thâm chí có
thể bị chết hàng loạt.
Ở cấp độ cộng đồng, sức khỏe của tôm nuôi như sức đề kháng,
khả năng nhiễm bệnh và môi trường trong ao nuôi bị ảnh hưởng
mạnh nhất do tác động của nhiệt độ tăng trong mùa hè và thay đổi
lượng mưa trong mùa mưa. Hệ thống CSHT vùng nuôi là đối tượng
bị thiệt hại nhiều nhất do NBD và bão lũ vì gây sạt lở đê bao, kênh
mương, đường nội vùng. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu
của Bùi Quang Tề (2003) và Mai Văn Tài và cộng sự (2014).
Ở cấp tỉnh, mô hình tương quan hồi quy cho thấy, số lượng
cơn bão và số ngày nắng nóng trên 35°C trong năm không chỉ tác
động tới sản lượng tôm trong một năm mà còn ảnh hưởng kéo dài
trong hai, ba năm tiếp theo. Nếu không có các giải pháp thích ứng,
BĐKH sẽ làm giảm sản lượng tôm nuôi nước lợ khoảng 8,6% và
13,1% tương ứng với các giai đoạn đến năm 2020 và 2030.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của luận án còn bộc lộ một số
hạn chế nhất định, như tính chưa chắc chắn trong các nghiên cứu về
BĐKH, đặc biệt là tính không chắc chắn trong xây dựng kịch bản
phát triển của lĩnh vực nghiên cứu để làm cơ sở cho dự báo tác động
(IMHEN, 2011); sự thiếu chắc chắn trong nguồn số liệu đầu vào cho
việc chạy mô hình; và chưa xem xét được tác động của yếu tố NBD
khuyến khích áp dụng với tư cách là phương pháp hỗ trợ trong
hướng dẫn quốc gia của Bộ TN&MT do Viện Khí tượng, Thủy văn
và BĐKH biên soạn (IMHEN, 2011).
20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1) Luận án đã phân tích, làm sáng tỏ và vận dụng cơ sở lý thuyết
và những thực tiễn tốt về mối quan hệ giữa BĐKH với NTTS ven
biển nói chung. Trên cơ sở đó, luận án đã bước đầu nghiên cứu được
tác động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ ven biển tỉnh Thanh Hóa
ở cả hai cấp độ: cộng đồng người nuôi tôm địa phương và cấp tỉnh.
2) Kết quả đánh giá ở cấp độ cộng đồng cho thấy, hoạt động
nuôi tôm nước lợ tại Thanh Hóa bị ảnh hưởng lớn nhất bởi yếu tố
bão và lũ lụt kèm theo bão, tiếp theo là nhiệt độ tăng và thay đổi
lượng mưa trong mùa mưa. Trong các đối tượng bị ảnh hưởng thì
sức khỏe của tôm nuôi, môi trường ao nuôi và CSHT của vùng nuôi
và ao nuôi là những đối tượng bị ảnh hưởng mạnh nhất do BĐKH.
3) Đánh giá ở cấp tỉnh cho thấy, mô hình tương quan hồi qui về
mối quan hệ giữa sản lượng tôm nước lợ và các yếu tố BĐKH đã
phản ánh phần lớn các yếu tố biểu hiện của BĐKH có ảnh hưởng tiêu
cực tới sản lượng tôm nuôi nước lợ, đặc biệt là các yếu tố về số cơn
bão và số ngày nắng nóng trên 35°C trong năm. Do tác động trên
diện rộng, nên các yếu tố này có ảnh hưởng kéo dài tới hai, ba năm
sau; gây ra những thiệt hại lớn về môi trường nuôi và CSHT quan
trọng. Khi không có các giải pháp thích ứng, tác động của BĐKH sẽ
làm giảm sản lượng tôm nuôi nước lợ tại địa phương khoảng 8,6%
trong giai đoạn tới năm 2020 và 13,1% trong giai đoạn tới 2030.
4) Kết quả nghiên cứu của luận án này đã bước đầu đưa ra điểm
22
BĐKH nói trên; hỗ trợ quản lý các mục tiêu phát triển dài hạn và chỉ
đạo sản xuất nuôi tôm nước lợ của địa phương.
Kiến nghị
1) Trong mô hình tương quan giữa sản lượng tôm nuôi và các
yếu tố BĐKH, yếu tố về nhiệt độ trung bình có ảnh hưởng tích cực
tới tôm nuôi, còn lượng mưa có tác động tiêu cực tới sản lượng tôm
nuôi nhưng cả hai biến này đều không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Yếu tố NBD chưa được xem xét trong mô hình tương quan hồi qui
được xây dựng. Điều này cho thấy mô hình vẫn còn có mặt hạn chế.
Đây cũng là định hướng trong các nghiên cứu tiếp theo, trong đó cần
ưu tiên tiến hành thu thập thêm tài liệu, bổ sung biến số và dữ liệu để
phân tích và kiểm tra, từ đó ước lượng mô hình sẽ có ý nghĩa hơn.
2) Việc dự báo các biến số đầu vào để phục vụ cho dự báo tác
động của BĐKH đến sản lượng tôm nuôi trong tương lai vẫn còn
chứa đựng yếu tố không chắc chắn và thiếu các giả định mang tính
khoa học chặt chẽ, cần được xem xét thêm trong các nghiên cứu sau.
3) Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, do chưa có điều
kiện thử nghiệm các giải pháp thích ứng được đề xuất nên còn thiếu
cơ sở thực tiễn cho việc kiến nghị nhân rộng các giải pháp này ra các
khu vực có điều kiện tương tự trong vùng ven biển Bắc Trung bộ.
Chính vì vậy, để xác định được hiệu quả của các giải pháp thích ứng
được đề xuất, làm cơ sở cho việc kiến nghị nhân rộng, cần có thêm
các nghiên cứu cũng như các mô hình thử nghiệm cụ thể tại địa
phương nhằm tổng kết, đánh giá và khuyến nghị mở rộng việc áp
dụng các giải pháp thích ứng này.
23