BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH THỦY Ý THỨC CÁ NHÂN
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH
GIAI ĐOẠN 1932-1939
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI- 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………
1
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu …………………………………….
2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………….
3
4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………
3
5. Những đóng góp của luận án ……………………………………….
4
6. Cấu trúc của luận án ………………………………………………
4
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1. Về chủ đề cá nhân trong văn học Việt Nam ……………… 6
1.1.1. Trong văn học trung đại………………………………………
6
46
Nhất Linh- con người và tính cách… ………………………… 46
Quá trình học tập, hoạt động xã hội…… …………………… 50
Chương 3. DIỆN MẠO VÀ DIỄN BIẾN CỦA Ý THỨC CÁ
NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT NHẤT LINH
54
3.1. Những bình diện cấu thành ý thức cá nhân của Nhất Linh… 55
3.1.1. Quyền sống của cá nhân………………………………………
55
3.1.1.1. Đấu tranh cho quyền sống cá nhân, chống lại sự áp chế của
lễ giáo phong kiến ………………………………………………………… 55
3.1.1.2. Khẳng định tự do cá nhân, tự do sống và làm chủ cuộc đời
mình…………………………………………………………………………….59
3.1.1.3. Đề cao tự do hành vi và lối sống……………………………… 63
3.1.1.4. Khám phá những tầng sâu ý thức cá nhân………………………
65
3.1.2. Quyền sống của phụ nữ…………………………………………
69
3.1.2.1. Vấn đề phụ nữ Việt Nam trong lịch sử………………………… 70
3.1.2.2. Ý thức nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX……………………
4.3. Ngôn ngữ nhân vật……………………………………………… 142
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án “Ý thức cá nhân trong tiểu thuyết của
Nhất Linh giai đoạn 1932- 1939” là công trình nghiên cứu khoa học của cá
nhân tôi. Các thông tin trong luận án và kết quả nghiên cứu đều trung thực,
chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào.
TÁC GIẢ NguyẢn ThẢ Thanh ThẢy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án “Ý thức cá nhân trong tiểu thuyết của
Nhất Linh giai đoạn 1932- 1939” là công trình nghiên cứu khoa học của
bản thân tôi. Các thông tin trong luận án và kết quả nghiên cứu đều trung
thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào.
TÁC GIẢ
động của nền văn hóa phương Tây, của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
cũng như nền giáo dục Tây học đến những quan điểm, tư tưởng xã hội và
2
nghệ thuật của nhà văn. Vì vậy, nghiên cứu về Nhất Linh để từ đó có cái nhìn
thật toàn diện, thật khách quan về con người tư tưởng và sự nghiệp của nhà
văn này trong diễn trình văn hóa và lịch sử Việt Nam hiện đại vẫn là một đòi
hỏi nghiêm túc cần tới sự đóng góp của nhiều người.
1.3. Nhất Linh là nhà văn, nhà báo cổ súy cho cách tân, dân chủ, đấu
tranh mạnh mẽ cho giải phóng cá nhân. Ý thức cá nhân là hạt nhân tạo nên
điểm thống nhất giữa con người cải cách và con người nghệ sĩ của Nhất Linh,
thể hiện qua các hoạt động xã hội, các luận thuyết tiến bộ và qua những những
sáng tác văn chương, đặc biệt là trong những cuốn tiểu thuyết của ông. Trước
sự nghiệp sáng tác trải dài trong gần 40 năm, chúng tôi lựa chọn 7 cuốn tiểu
thuyết tiêu biểu của Nhất Linh giai đoạn 1932- 1939 làm đối tượng nghiên
cứu chính của luận án. Đây là giai đoạn đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của
nhà văn Nhất Linh, thể hiện rõ nhất tư tưởng và cách tân nghệ thuật kết tinh
thành tác phẩm xuất sắc đưa ông lên bục vinh quang.
Với mục đích khảo sát một cách hệ thống diện mạo ý thức cá nhân, làm
rõ sự vận động, phát triển của ý thức cá nhân trong tiểu thuyết của Nhất Linh
giai đoạn 1932-1939, chúng tôi hi vọng rằng, luận án sẽ mang đến cho độc
giả, người yêu văn học những tư liệu bổ ích về một phương diện thuộc giá trị
tư tưởng của nhà văn Nhất Linh mà đến nay chưa được quan tâm thỏa đáng.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi xác định rõ đối tượng của mình là “ý thức cá nhân” chứ
không phải “con người cá nhân”. Con người cá nhân là khái niệm chỉ hình
tượng trong văn bản nghệ thuật được nhà văn xây dựng dưới dạng khách thể
hóa thuộc vào thế giới hình tượng của tác phẩm. Còn ý thức cá nhân là khái
niệm chỉ tư tưởng thuộc thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả. Trong tác
việc thể hiện các bình diện của chủ nghĩa cá nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu
4
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu, tiếp cận tổng thể tác giả,
chủ yếu như sau:
- Phương pháp tiếp cận lịch sử
Xem xét hoạt động và sáng tác văn học của Nhất Linh trong bối cảnh
lịch sử, văn hóa, xã hội đương thời- những nhân tố tác động đến sự hình thành
nên ý thức cá nhân trong văn nghiệp của nhà văn, chi phối hoạt động xã hội và
hoạt động sáng tác.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Đặt đối tượng nghiên cứu trong hoạt động và sáng tác văn học thời bấy
giờ, đặc biệt là Tự lực văn đoàn. Đồng thời xem xét sáng tác, hoạt động của
Nhất Linh trong một quá trình có tính hệ thống, qua các giai đoạn và trên mọi
phương diện chính trị, văn hóa, văn học để có thể lý giải được sự vận động
trong tư tưởng của nhà văn về ý thức cá nhân qua các giai đoạn; đồng thời góp
phần đưa đến những nhận định, đánh giá mang tính khái quát.
- Phương pháp so sánh
So sánh hoạt động, các sáng tác văn học của Nhất Linh ở các chặng
đường, các giai đoạn với các nhà văn trong Tự lực văn đoàn và các nhà văn
cùng thời, để thấy những đóng góp nổi bật của ông.
- Một số phương pháp bổ trợ như thống kê, phân loại, nghiên cứu liên
ngành
Việc sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi có được những thông số,
dữ liệu mang tính định lượng, xác thực. Sự phối hợp giữa các phương pháp xã
hội học, văn hóa học, tâm lí học… cũng giúp luận án đáp ứng tốt hơn các mục
tiêu đã đề ra.
5. Những đóng góp của luận án
Chúng tôi dự kiến công trình nghiên cứu của mình sẽ có những đóng
1.1.1. Trong văn học trung đại
Trong văn học trung đại, giới nghiên cứu vẫn tồn tại hai luồng ý kiến
khác nhau về vấn đề ý thức cá nhân. Khuynh hướng thứ nhất cho rằng văn học
cổ trung đại thể hiện tính “phi ngã” (đồng nghĩa với việc không có cái tôi cá
nhân). Khuynh hướng thứ hai khẳng định ý thức cá nhân đã được thể hiện
trong văn học trung đại, ở một số tác giả với mức độ đậm nhạt khác nhau. Từ
góc độ của mình, chúng tôi thấy khuynh hướng thứ hai hoàn toàn có cơ sở.
Văn học Lý- Trần, giai đoạn đặt nền móng cho văn học viết, đã quan
tâm tới con người trong tư cách cá thể. Theo đánh giá của giáo sư Trần Đình
Sử, ý thức cá nhân trong văn học Lý- Trần, “được thức tỉnh trong vai trò tự
cứu, tự tìm đường giải thoát, tự tìm thấy yên tĩnh, hoà nhập với thiên nhiên
trước lẽ sinh diệt, huyễn ảo. Đó là một ý thức cá nhân thuần tuý tinh thần, hoà
hợp với thiên nhiên một cách siêu tự nhiên, siêu kinh nghiệm” [179]. Giai
đoạn sau (từ thế kỷ XV đến thế kỉ XVII), ý thức cá nhân xuất hiện dưới các
hình thức chính: hoặc là công thần trung quân ái quốc, hoặc lìa bỏ công danh,
thị phi, lánh đục về nhàn, hoặc đắm theo tiếng gọi của bản năng sắc dục (trong
tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ).
Thế kỷ XVIII-XIX, ý thức cá nhân được khẳng định qua các nhu cầu
sống, nhu cầu hạnh phúc, qua khát vọng công danh, hành lạc, phóng túng
ngoài những khuôn khổ giáo điều (trong tác phẩm của Đặng Trần Côn- Đoàn
Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát).
7
Khi xã hội phong kiến đi vào giai đoạn suy thoái, mọi quan hệ xã hội
đứt tung, con người sụp đổ niềm tin, ý thức cá nhân được thể hiện trong cảm
xúc thương thân, xót thân trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, dưới những cái
tôi bất lực, vô nghĩa (Nguyễn Khuyến), cười cợt, giễu nhại, tự trào đối với
chính mình và thời cuộc (Tú Xương)… Cái tôi khi tách ra khỏi cộng đồng, ý
thức được sự thiếu thốn tình thân, gia đình, bè bạn, cảm nhận trọn vẹn nỗi cô
đơn một mình một bóng, đặc biệt, cảm nhận về cái hữu hạn của kiếp người, về
thức cá nhân xuất hiện với màu sắc mới, thể hiện khá đậm đặc trong các sáng
tác thuộc khuynh hướng lãng mạn.
Tản Đà là người ý thức rất rõ về cái tài và sự đa tình ở mình, ông kêu
gọi hành đạo lập nghiệp và ngợi ca hưởng thụ, vui thú với trần tục ở đời, ôm
khát vọng “bồi lại tấm dư đồ rách, thiết tha thề nguyền cùng hồn non nước”,
đồng thời thích thả mình trong cái thú hưởng lạc, ăn chơi trong cơn “say nhừ”,
“say tít”… lúc hăng hái nhập thế, hành động, lúc lại buồn chán cảnh trần thế
và nuôi mộng thoát li. Cái tôi Tản Đà vừa là sự tiếp nối của cái tôi nhà nho tài
tử trong xã hội phong kiến, vừa ngông nghênh và đầy mâu thuẫn theo tinh
thần hiện đại. Đó là thói đa tình, phóng túng, hưởng lạc, là ý thức về quyền
năng của cái tôi, là sự mạnh dạn đưa ra những tình cảm riêng tư vào trong thơ,
khơi nguồn đầu tiên cái khao khát sống cho tình yêu, tận hưởng cuộc sống
tràn đầy năng lượng của tuổi thanh xuân. Ngông nghênh, kiêu bạc nhưng Tản
Đà cũng là người thấm thía nỗi cô đơn của một cá nhân tài tình giữa cuộc thế
đen bạc, không có tri âm tri kỉ, và nỗi sầu “vạn thuở” ấy đã được ông khắc họa
đậm nét trong thi ca.
Đến những năm 1930, Thơ Mới làm náo động thi đàn với cái tôi khao
khát mãnh liệt được sống thực là mình, với mọi cung bậc cảm xúc trong tình
yêu, trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Cái tôi xuất hiện trên thi đàn lúc đầu thật
“bỡ ngỡ”, “như lạc loài nơi đất khách” bởi nó mang quan niệm chưa từng có
trong văn học truyền thống- quan niệm về cá nhân. Tuy nhiên, nó nhanh
9
chóng chiếm hữu độc giả bởi đó là tiếng lòng của mỗi cá nhân. Giai đoạn đầu,
nó thể hiện là cái tôi cá thể (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ) đến cái tôi bản thể giai
đoạn sau (Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê…) và đặc biệt là
hiện tượng hướng tới sự giải thoát của cái tôi trong Đạo (như nhóm Xuân Thu
nhã tập).
Mở đầu cho Thơ Mới, là cái tôi bỡ ngỡ, rụt rè, “ngơ ngác” mơ màng và
đắm say của hồn thơ Thế Lữ trong vai người “khách tình si” ham mê vẻ đẹp
chơi tao nhã, với những tài năng thiên bẩm và một tâm hồn “đẹp”. Đa số họ ý
thức về tài năng của mình, dám sống vì cái tài đó, kiên cường bất chấp hệ lụy.
Đó là sự biểu hiện của một thái độ không buông xuôi bất lực, không a dua với
thói đời kệch cỡm, phàm tục trong xã hội đương thời. Có những thời điểm, cái
tôi phủ nhận xã hội một cách cực đoan, nó đắm trong lạc thú trần tục mà quên
đi những gì cần làm trong một kiếp người (Chiếc lư đồng mắt cua) nhưng
vẫn còn sự tự trọng của một con người ý thức về nhân cách. Không thoát khỏi
căn bệnh của chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi Nguyễn Tuân chìm trong cô đơn, bế
tắc đã tìm đến thế giới của yêu ma (Xác ngọc lam, Đới roi, Rượu bệnh, Loạn
âm). Có thể hiểu đó là phản ứng tâm lý tất yếu của một ý thức cá nhân khí
khái, không chấp nhận tấn kịch xã hội. Nhìn một cách khách quan, cái tôi đó
gắng gồng mình lên để bảo vệ cho cái đẹp. Nó tự thấy tủi hổ, rồi hoài nghi
cộng đồng, thậm chí hoài nghi cả chính mình.
Trong giai đoạn đầu của trào lưu văn học hiện thực, các nhà văn dành
mối quan tâm chính cho con người giai cấp. Đến Nam Cao, ý thức về cá nhân
đã thực sự có một tầm vóc mới. Không giống như con người cá nhân trong
văn học lãng mạn, chủ yếu phơi mở thế giới nội cảm riêng tư, cũng không
hoàn toàn là con người cá nhân thường thấy ở văn học hiện thực, luôn hiện
diện qua xung đột xã hội, tác phẩm của Nam Cao thể hiện sự tự giác cao về
giá trị cá nhân từ việc nghiêm túc nhìn nhận, mổ xẻ cuộc sống của chính nó.
Khát vọng khẳng định bản thân và trách nhiệm làm người khiến nhân vật của
11
ông luôn tồn tại trong trạng thái vật vã trăn trở. Nó ghê sợ cuộc sống mòn rỉ,
vô nghĩa chỉ loanh quanh với việc “làm để có ăn, ăn để sống, sống lại để đợi
chết” (Sống mòn). Nhu cầu được phát huy tận độ giá trị của con người, hướng
tới những mục tiêu nhân văn cao cả khiến nó luôn luôn day dứt. Quá trình tự
tranh đấu để vượt ra khỏi cái kén nhỏ bé, vươn tới một chủ nghĩa cá nhân văn
hóa làm nên vẻ đẹp bất diệt của nhân tính.
Có thể thấy, ý thức cá nhân đầu thế kỷ XX phát triển theo chiều hướng
thứ ba bắt đầu vào khoảng cuối 1939 và kết thúc khi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp bùng nổ. Đây là thời kỳ Tự lực văn đoàn có những tác phẩm ít
nhiều mang màu sắc hiện đại chủ nghĩa như Bướm trắng (1939-1949), Đẹp
(1939-1940), Thanh Đức (1943).
Bản chất khuynh hướng của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là đấu tranh
cho chủ nghĩa cá nhân, khẳng định và giương cao lá cờ của chủ nghĩa cá nhân
tư sản. Khi mới xuất hiện, ngọn cờ chủ nghĩa cá nhân của Tự lực văn đoàn có
sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ, chiếm được sự đồng tình của đông đảo thanh
niên thành thị đương thời vì gắn liền với chủ nghĩa nhân văn, phát huy được
mặt tích cực của nó. Thời gian này, chủ nghĩa cá nhân chưa bị đẩy tới cực
đoan, vẫn còn gắn bó với đạo đức, với luân lý truyền thống. Tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn ở chặng đường đầu (1932-1936) tập trung phản ánh mâu thuẫn,
xung đột giữa cái mới và cái cũ, tức là xung đột giữa ý thức cá nhân, chủ
nghĩa cá nhân và đại gia đình phong kiến, với những tập tục, lễ giáo phong
kiến hủ lậu, hà khắc, trói buộc quyền sống và hạnh phúc cá nhân của con
người. Đó là mâu thuẫn giữa những cô gái mới như Nhung, Loan, Mai với
những bà mẹ chồng, bà án, bà tuần phủ nào đó. Xung đột đó, từ Hồn bướm
mơ tiên đến Nửa chừng xuân, từ Đoạn tuyệt đến Lạnh lùng ngày càng trở
nên căng thẳng, quyết liệt. Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã phê phán
nhiều mặt cổ hủ, lỗi thời của của chế độ phong kiến, nhất là luân lý phong
kiến đối với người phụ nữ. Họ đứng về phía những người mới tiến bộ chống
13
lại lớp người cũ bảo thủ, lạc hậu, đứng về phía cá nhân chống lại chế độ đại
gia đình gia trưởng. Họ đã giương cao lá cờ đòi giải phóng cá nhân, giải
phóng bản ngã, đặc biệt là đấu tranh cho quyền lợi cá nhân chân chính của
người phụ nữ trong tình yêu, trong hôn nhân và gia đình. Tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn, ở những mặt tích cực, đã đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt, không
khoan nhượng cho sự toàn thắng của chủ nghĩa cá nhân.
Khuynh hướng tư tưởng của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, ở những
tôi đã nói, là Âu hóa… Âu hóa là đem những nguyên tắc của nền văn minh
Tây phương áp dụng vào đời ta. Ngày xưa ta không sống theo lẽ phải, ta sống
theo tục lệ thành kiến, theo mệnh lệnh bất khả luận của cổ nhân… Âu hóa là
điều hòa chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa xã hội, là hành động làm sao cho
trong xã hội, cá nhân được tự do phát triển giá trị của mình, cá nhân được tự
do nảy nở tính tình, tri thức của mình” [55].
Đến Tự lực văn đoàn, ý thức về con người cá nhân đã được nâng lên
thành một vấn đề xã hội. Đó là khát vọng vượt lên trên những ràng buộc của
xã hội phong kiến; giương cao lá cờ tự do yêu đương và tự do hôn nhân; ý
thức về sự bình đẳng nam nữ, về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự; tìm sự
giải thoát trong tình yêu, trong những ước mơ cải cách xã hội.
Nếu so với Thơ Mới, nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ở giai
đoạn đầu ít được biểu hiện trong những cảm xúc ủy mị. Dù chán chường,
tuyệt vọng họ vẫn sẵn sàng đối mặt, lựa chọn đấu tranh để giành lấy cái mình
muốn. Đó là tinh thần nhập thế đầy tích cực. Bên cạnh đó, các nhân vật trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn tự khẳng định cá nhân theo nhiều chiều
hướng khác nhau: thoát li vào tình yêu lãng mạn nhằm trốn chạy nỗi cô đơn,
đề cao tiếng nói của ái tình hoặc ôm giấc mộng cải cách xã hội. Ngọc- một
chàng trai thành phố hào hoa- dành tình yêu say đắm cho Lan- cô thôn nữ hiền
lành chất phác, nương tựa cửa chùa (Hồn bướm mơ tiên); Phong (Nắng thu)
15
một thanh niên con nhà dòng dõi đã bước qua địa vị của mình để yêu Trâm-
cô gái câm nghèo. Dũng (Đoạn tuyệt) bỏ nhà ra đi thực hiện lí tưởng “làm
thay đổi hiện tình của dân quê”…
Giai đoạn sau, Tự lực văn đoàn đề cao sự tự do lựa chọn của cá nhân
trong hành vi và lối sống. Tuyết (Đời mưa gió) coi “lạc thú ở đời như một vị
thuốc trường sinh”, “ái tình là sự gặp gỡ của hai xác thịt” và “không bao giờ
trở thành vật sở hữu của ai”. Hiền (Trống Mái) mời Vọi tới dự sinh nhật mặc
mọi dè bỉu khen chê vì muốn chứng minh mình không hề phân biệt đẳng cấp;
khát vọng dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu là của các tầng lớp tiểu
tư sản trí thức và viên chức thành thị.
Vấn đề ý thức cá nhân được Tự lực văn đoàn thể hiện trên các phương
diện cơ bản sau:
Thứ nhất, Tự lực văn đoàn tiếp nối tư tưởng giải phóng cá nhân từ số ít
nhà văn đầu thế kỷ XX, phát triển lên một tầm cao mới. Dù không đặt vấn đề
giải phóng xã hội nhưng đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản
ngã, đặc biệt đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ
chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia đình
phong kiến một cách quyết liệt.
Thứ hai, đi tiên phong trong công cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân
này, phải kể đến công lao của những cây bút như Nhất Linh, Khái Hưng,
Hoàng Đạo. Trong đó, áp đảo về số lượng tác phẩm, với các luận điểm mạnh
mẽ chính là vai trò của người chủ súy của Tự lực văn đoàn- nhà văn Nhất
Linh.
Thứ ba, thực chất lá cờ văn hóa của Tự lực văn đoàn là lá cờ của chủ
nghĩa cá nhân tư sản. Khi mới xuất hiện, ở những chặng đường đầu, nó đã
phát huy được những mặt tích cực; đến giai đoạn cuối, ý thức cá nhân trong
Tự lực văn đoàn đi theo xu hướng cực đoan, trái ngược với truyền thống đạo
lý của dân tộc, nhấn mạnh tự do cá nhân trong hành vi và lối sống có phần
17
tiêu cực. Ý thức cá nhân vốn là nền tảng tư tưởng của tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn tự bộc lộ, phơi bày những mặt tiêu cực của nó. Dù vậy, những giá trị mà
bút nhóm tạo dựng nên vẫn không thể phủ nhận, đúng như Hoàng Xuân Hãn
khẳng định: Nhóm Tự lực không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm quan
trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại.
Với vai trò chủ súy, tiên phong trong việc thành lập và vận hành tổ
chức văn học Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người tạo nên môi trường của
văn đoàn ấy, từ đó, cùng với các cộng sự đã xây những bước ngoặt quan trọng