Tiểu luận triết học nguyên tắc phát triển được vận dụng trong thực tiễn của thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay như thế nào - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA SAU ĐẠI HỌC

BÀI THẢO LUẬN NHÓM
TRIẾT HỌC NÂNG CAO

ĐỀ TÀI: Nguyên tắc phát triển được vận dụng trong thực
tiễn của thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay như thế nào ?
Nhóm: 3

THD: PGS.TS Phương Kỳ Sơn

Lớp : TCNH CH19B ( Tối)

Hà Nội 2013
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ


Stt

Họ và Tên

1

Nông Tuấn Anh

2

Vũ Đức Anh

3

CV

TĐG NĐG

Ghi
Chú

10 Nguyễn.T. Hồng Hà
11

Nguyễn Anh Tuấn

Nhóm trưởng kí
Đời là cuộc đấu tranh liên tục; nó luôn được cải biên với nhưng khó khăn mới.
Và chúng ta sẽ chiến thắng nhưng bao giờ cũng phải trải giá!
Mirko Gomex


Mọi sự vật hiện tượng đều diễn ra quá trình vận động tiến lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Để quá trình
vận động đạt được mục tiêu thì tất yếu phải có đấu tranh xảy ra. Các sự vật; hiện
tượng nói chung; con người nói riêng : để đạt thành công đều phải trải qua những
thời kì gian khổ. Cũng như để chiến thắng 2 cường quốc Pháp và Mỹ; đất nước ta
phải đấu tranh liên tục; không ngững đối mặt với thách thức. Cuối cùng chúng ta
giành độc lập nhưng cái giá phải trả rất đắt. Đó chính là nạn đói 1945 cướp đi hàng
triệu sinh mạng người dân Việt. Trải qua hơn 40 đất nước hòa bình; chúng ta không
ngừng nâng cao nhận thức phát triển mọi mặt từ văn hóa, kinh tế, xã hội … Bởi sự
vật, hiện tượng không ngững vận động và phát triển, con người chúng ta luôn sẵn
sàng đấu tranh tìm ra cái mới tốt đẹp hơn. Mirko Gomex có câu:
Đời là cuộc đấu tranh liên tục; nó luôn được cải biên với nhưng khó khăn mới.

thời lâm vào thoái trào. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái , con
đường lãnh đạo của một số gia rơi vào tình trạng khủng hoảng Việt Nam vẫn tiếp
tục tỏ rõ sự trung thành của mình đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và lý tưởng xã
hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập,
tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác,
đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc
dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng
trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình
độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt. Tôn trọng nguyên lý phát triển
trong chủ nghĩa Mác- Lênin. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê
nin vào trong thực tiễn Việt Nam.
I . Nguyên lý về sự phát triển
1. Khái niệm phát triển
Quan điểm siêu hình xem xét sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn
thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật. Những người theo
quan điểm siêu hình coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì trong quá
trình tồn tại của chúng. Sự vật ra đời với những chất như thế nào thì toàn bộ quá


trình tồn tại của nó vẫn được giữ nguyên, hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất
thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra trong một vòng khép kín. Họ cũng coi sự phát
triển chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại mà sự vật đang có chứ không có
sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những ngườitheo quan điểm siêu
hình còn xem sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục không có những bước
quanh co, thăng trầm, phức tạp.
Quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp
đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái
mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện thực kháchquan hay trong tư duy, sự phát triển
diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm

trường, ở sự hoàn thiện thường xuyên quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi
trường ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao hơn và từ
đó làm xuất hiện ngày càng nhiều các giống loài mới phù hợp với môi trường sống.
Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên và cải biến xã
hội cũng như bản thân con người. Sự phát triển của mỗi con người biểu hiện ở khả
năng tự hoàn thiện mình cả về thể chất và tinh thần, phù hợp với sự vận động và
phát triển của môi trường trong đó có con người sinh sống .
Như vậy, sự phát triển trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ là hiện
tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân con người,
trong tư duy. Nếu xem xét từng trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên,
vận động tuần hoàn, thậm chí có vận động đi xuống. Song nếu xét cả quá trình vận
động với không gian rộng và thời gian dài thì quá trình vận động đi lên là khuynh


hướng chung của mọi sự vật.
2. Tính chất của sự phát triển
2.1 Tính khách quan
Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi vì như trên đã phân
tích, theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay
trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh
trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển. Vì thế,
sự phát triển là tiến trình kháchquan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý
chí, ý thức con người. Dù con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát
triển theo khuynh hướng chung nhất của thế giới vật chất.
2.1 Tính phổ biến
Sự phát triển mang tính phổ biến vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự nhiên,
xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan. Ngay cả
các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động
và phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của tư duy cũng luôn phát triển. Chỉ
trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các

sự vật, hiện tượng chúng ta phải cóquan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến
diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất
hay về tính quy luật của chúng.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ
qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự


tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và
mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức của khoa học triết học, chúng
ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức triết học với tri thức khoa học khác, với
tri thức cuộc sống và ngược lại, vì tri thức triết học được khái quát từ tri thức của
các khoa học khác và hoạt động của con người, nhất là tri thức chuyên môn được
chúng ta lĩnh hội.
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối
liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối
liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên ... để hiểu rõ bản chất của sự vật và có
phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong sự phát triển
của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cần lưu ý tới
sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định.
Trongquan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho
phù hợp với từng con người. Ngay cả quan hệ với một con người nhất định ở
những không gian khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách
giao tiếp, cáchquan hệ phù hợp như ông cha đã kết luận: "đối nhân xử thế".

Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật,
chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải
chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời chúng ta
phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động
nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu : "dân giàu, nước mạnh, xã

trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã
hội, kể từ Ðại hội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam
đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng. Thực hiện đường lối đổi
mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được
những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ
tăng trưởng nhanh.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảo
đảm sự ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được
nhiều lợi thế của đất nước, của từng vùng và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế,
từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý và hệ thống điều hành; cải
cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính, tiền tệ; phát triển
nguồn và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ;…
Trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt
7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế
giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1
lần năm 2000 (thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm) Năm 2012, GDP
tăng 5,03% so với năm 2011.Chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81%. Đầu tư
phát triển tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP. Xuất, nhập khẩu hàng
hóa tăng 18,3% .Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim
ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế
giới. Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực
hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD,


giải ngân đạt trên 35 tỷ USD
Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá,
trong đó sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương

ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả,
tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh
tế. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo
hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hình công ty, phát huy quyền tự chủ và trách
nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh. Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy
động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động
lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực
kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước. Kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển
giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước và tạo việc
làm cho nhiều người dân.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành,
kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận
hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương
đối đồng bộ. Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều
thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng.


Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của
Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã
tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện các cam kết về
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),... Đến nay, Việt Nam đã có
quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định
thương mại song phương với các nước, tạo ra một bước phát triển mới rất quan
trọng về kinh tế đối ngoại
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Theo chuẩn
quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm
2010. Còn theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống
kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và
nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm
2002 và còn khoảng 17% năm 2008. Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn
so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu
Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc đã đề ra . Tại cuộc Hội thảo quốc tế với
tiêu đề Xóa đói, giảm nghèo: Kinh nghiệm Việt Nam và một số nước châu Á do Bộ
Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam được
đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại
hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Năm 2000, cả nước
đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến


cuối năm 2010, hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ
sở. Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm
1980 lên 90,3% năm 2007. Từ năm 2006 đến nay, trung bình hằng năm quy mô
đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại học tăng 7,4%. Năm
2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với
lãi suất ưu đãi để theo học.
Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận. Đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối,
chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; tiếp thu, làm chủ và ứng
dụng có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực
thông tin - truyền thông, lai tạo một số giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao,
thăm dò và khai thác dầu khí, xây dựng cầu, đóng tàu biển có trọng tải lớn, sản
xuất vắc-xin phòng dịch,... và bước đầu có một số sáng tạo về công nghệ tin học.

nước với những bước tiến cao hơn. Thành tựu này được các nước trong khu vực
cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừa nhận và xem đây là một thuận
lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
3. Về quan hệ quốc tế
Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu
thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến
nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc
tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Việt Nam sẵn
sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc
lập và phát triển”. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập


tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam là bạn, đối tác
tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp
tác quốc tế và khu vực.
Quan hệ hợp tác song phương
Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước
thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng
quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện,
gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác
chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ
quan đại diện của ta ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán,
20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn
phòng kinh tế văn hóa.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới,
mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các
nước và vùng lãnh thổ1, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60

nhà ở cho hộ nghèo; triển khai chương trình giảm nghèo ở 62 huyện; hỗ trợ khuyến
nông, khuyến ngư ở địa bàn khó khăn; xây dựng các công trình cấp nước trên các
đảo có đông dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ lãi suất vay mua vật
liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; xây dựng ký túc xá cho sinh viên; chính
sách xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung,


người có thu nhập thấp ở đô thị; điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung và tiền
lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp...
Các lĩnh vực văn hoá xã hội tiếp tục có bước phát triển tích cực. Hệ thống
pháp luật và các định hướng phát triển về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, khoa
học công nghệ và môi trường tiếp tục được hoàn thiện. Nhà nước tăng đầu tư, đồng
thời đẩy mạnh xã hội hoá và thực hiện nhiều chính sách, giải pháp thích hợp để
phát triển các lĩnh vực này.
Quy mô giáo dục, đào tạo các cấp học đều tăng. Số học sinh bỏ học giảm
41% so với năm học trước. Có thêm 8 tỉnh đạt phổ cập trung học cơ sở, nâng số
tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập trung học sơ sở lên 55. Kế hoạch xây dựng
trường và nhà công vụ được triển khai tích cực. Năm 2009, có trên 1,4 triệu học
sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn tín dụng ưu đãi (chiếm
khoảng 30% học sinh, sinh viên), với tổng dư nợ khoảng 18.800 tỷ đồng, tăng gần
gấp đôi năm 2008.
Hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ được đầu tư phát triển đồng bộ hơn,
nhiều tổ chức hoạt động hiệu quả theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm hoặc cơ
chế doanh nghiệp. Các khu công nghệ cao đang được khẩn trương xây dựng và
bước đầu đã có sản phẩm. Số lượng giao dịch mua bán công nghệ tăng khoảng
37%. Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh. Hạ tầng mạng được
mở rộng và nâng cấp tạo điều kiện phủ sóng đến các vùng sâu, vùng xa, biển Đông
và hải đảo. 9 tháng thuê bao điện thoại phát triển mới tăng 74,1% so cùng kỳ, nâng
tổng số thuê bao toàn mạng đạt 113,6 triệu; số người sử dụng dịch vụ Internet là
22,4 triệu. Một số doanh nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin đã đầu tư ra

thiết thực.


Hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc, tạo
điều kiện rất quan trọng để xây dựng biên giới Việt - Trung hoà bình, hữu nghị,
hợp tác cùng phát triển bền vững, lâu dài. Quan hệ hợp tác giữa nước ta với các
nước láng giềng, các đối tác chiến lược, các đối tác lớn có bước phát triển mới; đã
ký kết và đưa vào thực thi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản
(VJEPA); tạo được bước phát triển sâu rộng hơn về hợp tác kinh tế với một số đối
tác tại Trung Đông; mở rộng quan hệ với các nước châu Phi, Mỹ La tinh. Đảm
nhiệm tốt vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc...
4. Ý nghĩa của việc vận dụng nguyên tắc phát triển trong thực tế nước ta hiện
nay
Nắm bắt và vận dụng được có hiệu quả các quy luật phát tất yếu khách quan
để hoạt động và đem nó vào thực tiễn để kiểm nghiệm là một phương tâm chủ đạo
trong công cuộc đổi mới hiện nay. Chỉ có dám nghĩ, dám làm kết hợp với tri thức
khoa học được trang bị, chúng ta mới thành công được. Đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh tế, nắm bắt quy luật kinh tế, quy luật sản xuất lại càng cần thiết để cải tạo thực
tiễn, tạo ra phương hướng`và mục tiêu đúng đắn phát triển đi lên. Chỉ có thế nước
ta mới theo kịp được trình độ phát triển kinh tế chung của khu vực và trên thế giới.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá hiện nay, những chính sách đổi mới của Đảng
và Nhà nước xuất phát từ thực tiễn tình hình đất nước đáng phát huy mạnh mẽ tính
ưu việt của nó.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, công cuộc đổi mới vì CNXH của Đảng
và của nhân dân ta đang đạt được những thành tựu to lớn: đất nước phát triển và
hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Vị thế của đất nước không
ngừng được khẳng định và nâng cao. Những thành công đó chứng tỏ sự vận động
của một đường lối đúng đắn, sáng tạo. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn vững vàng
kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không chấp nhận đa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status