Luận văn thạc sỹ Thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong – Trung tâm bán miền Bắc 1 - Pdf 34

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1. Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của PGS.TS Lê Hoàng Nga.
2. Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên
tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
3. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo hay gian trá, tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả

Đinh Thị Diệu Thu

MỤC LỤC
MỤC LỤC..............................................................................................................i


ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

iii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
MỤC LỤC..............................................................................................................i


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế thông qua chức năng cấp tín dụng, nhận
tiền gửi và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, các ngân hàng có xu
hướng mở rộng các loại hình dịch vụ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao. Tín dụng là hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại, để
đảm bảo an toàn rủi ro tín dụng thì thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng để giảm thiểu
rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Trung tâm bán miền Bắc 1 ngay từ khi
thành lập đã chú trọng đến công tác thẩm định dự án đầu tư. Các cán bộ tín
dụng khi có dự án phải trực tiếp tiến hành thẩm định để từ đó đưa ra quyết
định cho từng món vay và giúp Ban lãnh đạo có quyết định đúng trong việc
cho vay, giúp cho Ngân hàng giảm bớt các rủi ro trong hoạt động cho vay.
Bên cạnh những đóng góp của công tác thẩm định đối với hoạt động cho vay
thì công tác thẩm định tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Trung tâm bán
miền Bắc 1 còn có phát sinh những tồn tại cần tháo gỡ như việc thu thập
thông tin còn bị động và phụ thuộc vào sự cung cấp số liệu của khách hàng,
trình độ của cán bộ tín dụng chưa đồng đều... Chính vì vậy, để góp phần giải
quyết vấn đề trên tôi chọn đề tài “Thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Tiên Phong – Trung tâm bán miền Bắc 1” làm đề tài

pháp tối ưu trong công tác thẩm định tại Ngân hàng.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, danh mục chữ viết tắt,
danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:


3

Chương 1: Tổng quan về dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng
TMCP Tiên Phong – Trung tâm bán miền Bắc 1
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thẩm định dự án đầu tư tại Ngân
hàng TMCP Tiên Phong – Trung tâm bán miền Bắc 1


4

CHƯƠNG 1: DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm
Đầu tư được coi là động lực của sự phát triển nói chung và sự phát triển
kinh tế nói riêng của mọi quốc gia trên thế giới. Có thể hiểu đầu tư là việc huy
động nguồn lực để biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một khoảng
thời gian đủ dài trong tương lai. Trong đó: các nguồn lực chính là vốn, chất
xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian.. ; lợi ích dự kiến có thể lượng hóa
được( hay đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi
nhuận..) mà cũng có thể không lượng hóa được ( như sự phát triển trong các

động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động có liên quan
với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra
các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các
nguồn lực xác định.
Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các
thành phần chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Cụ thể là khi thực hiện
dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản nhà đầu
tư nói riêng. Những mục tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể như
tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, mang
lại lợi nhuận cho chủ đầu tư…
- Các hoạt động của dự án: Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể
phải thực hiện, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết
để hoàn thành và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hành động đó.


6

- Các nguồn lực: hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu
thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính, con người…Vì vậy, phải nêu rõ các
nguồn lực cần thiết cho dự án, tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu
tư cần cho dự án.
Tóm lại, dự án đầu tư là tập hợp kết quả nghiên cứu các nội dụng có liên
quan, ảnh hưởng đến sự vận hành và tính sinh lời của công cuộc đầu tư.
1.1.1.2 Những yêu cầu của 1 dự án đầu tư
Để một dự án đầu tư có sức thuyết phục, khách quan, có tính khả thi cao
đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
 Tính pháp lý:
Tính pháp lý là cơ sở bước đầu để một dự án đầu tư được quyết định có

Dự án đầu tư có tính khả thi có nghĩa là dự án phải có khả năng ứng
dụng và triển khai trong thực tế. Vì vậy, muốn đảm bảo yêu cầu này, dự án
đầu tư phải đặt trong đúng hoàn cảnh môi trường đầu tư, phản ánh những điều
kiện cụ thể về môi trường, mặt bằng, vốn, khả năng của dự án...
Nói cách khác, dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch tổng thể của
ngành, của vùng. Mục đích của dự án đầu tư phải trùng với mục đích phát
triển kinh tế - xã hội.
 Tính hiệu quả:
Tính hiệu quả của dự án đầu tư được thực hiện thông qua các chỉ tiêu
hiệu quả kinh tế - tài chính. Các chỉ tiêu này đòi hỏi phải chính xác, phải
được xây dựng trên cơ sở các số liệu điều tra hợp lý, phương pháp tính toán
kỹ lưỡng. Chỉ có như vậy tính hiệu quả của dự án mới có thể đạt được.
1.1.1.3 Ý nghĩa của dự án đầu tư
Đối với cơ quan nhà nước, dự án đầu tư là cơ sở đầu tiên, là tài liệu cơ
bản để cơ quan quản lý nhà nước xem xét và phê chuẩn, cấp giấy phép đầu tư.


8

Đối với chủ đầu tư, đó là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu
tư, thu hút đối tác cùng tham gia liên doanh bỏ vốn đầu tư, là phương tiện
thuyết phục các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước tài trợ cho vay vốn.
Dự án là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi đôn đốc
và kiểm tra quá trình thực hiện dự án đầu tư. Từ đó đánh giá chính xác và
điều chỉnh kịp thời những vướng mắc trong quá trình xây dựng và hoạt động
của dự án.
Nó có tác dụng tích cực trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
quan hệ giữa các bên tham gia thực hiện dự án đầu tư, xử lý hài hoà về quyền
lợi và nghĩa vụ của các bên.
1.1.2. Phân loại dự án đầu tư

bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Nhìn
trên giác độ xã hội thì loại dự án này không tạo ra của cải vật chất cụ thể một
cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt động của dự án đầu tư này đem
lại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các địa phương, các tầng
lớp dân cư trong xã hội.
Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hạn hoạt động dài hạn
(từ 5, 20 năm hoặc lâu hơn), với vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực
hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động
của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán
chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào, đầu ra, cơ chế chính sách…).
Thực hiện loại dự án này cần phải chuẩn bị kỹ, cố gắng dự đoán những gì có
liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư trong tương lai xa,
phải xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra để đảm bảo
thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động của dự án đầu tư kết thúc.


10

1.1.2.4. Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn
đã bỏ ra
Theo hình thức này có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư
ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án
đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ
tầng…)
1.1.2.5. Theo phân cấp quản lý
Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo nghị định 59/2015/NĐ
- CP ngày 18/06/2015 của Thủ tướng Chính phủ phân chia dự án thành 3
nhóm A, B, C tuỳ theo tính chất và quy mô của dự án. Trong đó nhóm A do
thủ tướng Chính phủ quyết định, nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh (và thành phố

cũng đưa ra các mục tiêu của dự án đầu tư (tiêu dùng trong nước, xuất khẩu,
thay thế nhập khẩu...). Phân tích tình hình thị trường, đánh giá kết luận về nhu
cầu hiện tại, dự báo nhu cầu tương lai (khu vực, trong nước, ngoài nước nếu
có dự kiến xuất khẩu) về cả số lượng, chất lượng, giá cả... các nguồn đáp ứng
nhu cầu hiện tại. Dự báo mức độ gia tăng cung cấp cho tương lai, sự thiếu hụt
so với nhu cầu thị trường. Các căn cứ về khả năng phát triển về năng lực sản
xuất. Quy mô năng lực hiện tại của ngành và năng lực huy động. Đánh giá
tình trạng hoạt động hiện tại và nhịp độ tăng trưởng tương lai... Dự báo số
lượng, giá cả hàng hoá bán ra, khả năng cạnh tranh với các nhà sản xuất trong
và ngoài nước, khả năng xâm nhập thị trường, hướng lựa chọn thị trường.
Ba là, lựa chọn hình thức đầu tư, công suất
Phân tích các điều kiện và lợi ích của việc huy động năng lực hiện tại,
đầu tư chiều sâu, mở rộng các cơ sở đã có, so với đầu tư mới từ đó lựa chọn
phương thức đầu tư.


12

Phân tích các điều kiện, yếu tố để lựa chọn hình thức đầu tư (Công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp quốc
doanh...).
Phân tích lựa chọn công suất thích hợp. Nêu các phương án và chọn
công suất tối ưu, khả thi.
Bốn là, chương trình sản xuất và các yêu cầu đáp ứng . Trong phần này
nêu lên cơ cấu sản xuất: số lượng sản phẩm hàng năm, chất lượng giá cả. Số
hàng bán dự kiến. Lượng lưu kho trung bình. Lịch trình sản xuất như thế nào
(vận hành, chạy thử, chạy hết công suất ...). Bán thành phẩm, phế liệu. Các
nhu cầu đầu vào và các giải pháp đảm bảo. Phải xác định được nhu cầu đầu
vào cho từng loại sản phẩm và toàn bộ nhu cầu sản xuất hàng năm: Nhu cầu
và đặc điểm nguyên vật liệu (vật liệu thô, các hoá phẩm, vật liệu đã qua chế

năng suất...). Nội dung chuyển giao công nghệ và sự cần thiết phải chuyển
giao, phương thức thanh toán, điều kiện tiếp nhận. Những vấn đề môi trường
sinh thái liên quan đến công nghệ, khả năng mức độ gây ô nhiễm hoặc làm
biến đổi môi trường do việc hình thành công trình (nước, không khí, đất đai,
tiếng ồn, phóng xạ, bụi do nguyên vật liệu...) và hậu quả có thể có. Đưa ra các
giải pháp chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái, các phương án xử lý
chất thải... Các phương án trong lĩnh vực khác: Lựa chọn quy mô và phương
án cung cấp nước, thoát nước cho dự án. Lựa chọn các phương án cung cấp
điện, khí cho sản xuất....
(2) Thiết bị: Nêu các phương án về thiết bị. Danh mục thiết bị sản xuất
chính, phụ, hỗ trợ, các phương tiện khác, phụ tùng thay thế, dụng cụ thiết bị
văn phòng... Các phương án mua sắm thiết bị, so sánh, lựa chọn.
Bẩy là, phần xây dựng và tổ chức thi công xây lắp. Về mặt xây dựng nêu
được các phương án thi công xây dựng, xác định tiêu chuẩn cấp công trình,
các giải pháp kiến trúc, phối cảnh, các phương án kết cấu của các hạng mục


14

công trình, yêu cầu kỹ thuật, thiết bị xây lắp đáp ứng kết cấu được chọn. Các
phương án xây dựng công trình bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm, khối lượng
các hạng mục công trình, nhu cầu, điều kiện về nguyên vật liệu xây dựng...Về
mặt tổ chức thi công xây lắp và tổng tiến độ dự án: Nêu được các điều kiện tổ
chức thi công, lựa chọn phương án thi công, các yêu cầu về thiết bị thi công...
Tám là, tổ chức quản lý sản xuất và bố trí lao động
Xác định được nhu cầu nhân lực cách bố trí nhân lực, sơ đồ quản lý tổ
chức sản xuất. Xác định các chi phí: Chi phí quản lý, chi phí nhân công, chi
phí phân xưởng, chi phí hành chính, chi phí đào tạo, chi phí bảo hiểm...
Chín là, phân tích tài chính – kinh tế.
Đây là phần khá quan trọng đối với mội dự án đầu tư. Phần này phản ánh

khả thi của một dự án, từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư (Nguồn:
Giáo trình “Lập và quản lý dự án đầu tư”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân –
PGS.,TS. Nguyễn Ngọc Mai, NXB Giáo dục 1996).
Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một cách
độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Thẩm định dự án đã tạo ra cơ
sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Các kết luận rút ra từ quá
trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết
định đầu tư và cho phép đầu tư.
Đứng trên góc độ ngân hàng, thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem
xét, phân tích một cách khách quan toàn diện, độc lập những nội dung cơ bản
của dự án đầu tư đồng thời đánh giá chính xác những nhân tố ảnh hưởng trực
tiếp đến tính khả thi của dự án nhằm đưa ra quyết định cho vay đảm bảo hiệu
qủa an toàn.
1.2.1.2. Vai trò của thẩm định dự án đầu tư
Đối với chủ đầu tư: Ngân hàng với kinh nghiệm của mình trong thẩm
định dự án đầu tư có thể tư vấn cho doanh nghiệp phương án đầu tư có hiệu


16

quả mà bản thân doanh nghiệp do thiếu khả năng phân tích tổng hợp, thiếu
thông tin không thể lựa chọn được.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Thẩm định dự án đầu tư giúp các
cơ quan quản lý nhà nước đánh giá được sự cần thiết và tính phù hợp của dự
án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương và cả nước trên
các mặt: mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả.
Đối với nền kinh tế: Thẩm định dự án đầu tư giúp xác định được sự lợi
hại của dự án khi đi vào hoạt động trên khía cạnh: cộng nghệ, vốn, ô nhiễm
môi trường và các lợi ích kinh tế - xã hội khác. Nền kinh tế đang cần các dự
án đầu tư phát triển phục vụ cho sự pháp triển đất nước song đó là các dự án

 Thẩm định dự án đầu tư giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương án
đầu tư tốt nhất. Khi nhà kinh doanh phát hiện ra cơ hội đầu tư và muốn bỏ
vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, việc đầu tiên họ phải làm là thu thập, xử
lý thông tin, xác định mọi điều kiện, khả năng, trên cơ sở đó xác định nhiều
phương án. Để chọn được phương án tốt nhât mang tính khả thi cao, các dự
án phải được thẩm định một cách khách quan, trung thực, chính xác, từ đó so
sánh và chọn lựa các phương án sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
 Thẩm định dự án đầu tư giúp các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá
được tính phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành,
của địa phương, của vùng hay của cả nước. Thông qua kết quả các báo cáo
thẩm định, cơ quan quản lý Nhà nước xem xét ở tầm vĩ mô: lợi ích kinh tế do
dự án mang lại, hiệu quả thu hút lao động, giải quyết công ăn, việc làm... Xác
định mục tiêu của dự án và phương hướng phát triển chung của vùng, của
ngành. Từ đó đề ra các chính sách, kế hoạch thích hợp.
 Thẩm định dự án đầu tư giúp các nhà tài chính ra quyết định đúng
đắn, chính xác về việc cho vay hay tài trợ dự án đầu tư. Bất kỳ một tổ chức tín
dụng nào khi thực hiện cho vay, tài trợ cho các dự án đều phải xem xét tới các


18

yếu tố: cho vay dự án nào? cho vay với khối lượng bao nhiêu? với lãi suất ra
sao? Khả năng thu hồi nợ, các điều kiện đảm bảo tránh rủi ro... thẩm định dự
án có cung cấp thông tin chính xác thì các câu trả lời cho các vấn đề trên mới
được thoả đáng và giúp ra các quyết định đầu tư đúng đắn.
1.2.1.4 Yêu cầu của việc thẩm định dự án đầu tư :
- Công tác thẩm định dự án đầu tư phải bám sát chủ trương đường lối
phát triển kinh tế của nhà nước, của chính quyền địa phương theo từng thời
kỳ.
- Phải dựa trên chính sách tín dụng của ngân hàng; chính sách khách

trung cũng cho biết một số thông tin nào đó.
 Điều tra nơi hoạt động kinh doanh của người đi vay:
Các doanh nghiệp xin vay phải cho phép nhân viên tín dụng tham quan
nơi kinh doanh của họ. Thông qua việc này, nhân viên tín dụng có thể biết
được một số thông tin về mức độ phát triển của doanh nghiệp, về trình độ
quản lý tổ chức nhân sự. Doanh nghiệp đang phát đạt hay đình trệ, tình hình
hàng tồn kho, tình trạng thiết bị sản xuất, vật thế chấp... là những thông tin
phản ánh khá sát thực thực trạng doanh nghiệp và tương lai dự án xin vay mà
một cán bộ tín dụng có năng lực phải thu thập được. Tuy vậy, cần lưu ý rằng
rất cố thể những thông tin đó không chính xác do doanh nghiệp cố tình “tô
vẽ” hình ảnh của mình trước khi nhân viên tín dụng đến điều tra.
 Các báo cáo tài chính:
Trong hồ sơ xin vay vốn, bất kỳ người xin vay nào cũng phải cung cấp
cho ngân hàng các báo cáo tài chính, đặc biệt là những dự án có số lượng xin
vay lớn, thời gian dài. Ngay cả những dự án nhỏ, người xin vay vẫn phải cung
cấp số liệu về tài sản, những khoản nợ, vốn tự có... và các thông tin khác phản
ánh tình hình tài chính của họ. Rõ ràng là các thông tin thu được từ các báo
cáo tài chính là vô cùng quan trọng trong công tác thẩm định. Tuy vậy, cũng
cần phải thấy là, những thông tin đó phản ánh các kết quả của quá khứ và có


20

thể nói lên điều gì đó trong xu thế tương lai nhưng không hoàn toàn quyết
định tương lai. Vì thế, khi sử dụng những thông tin này, không được coi là
căn cứ duy nhất để ra quyết định tín dụng.
 Một số nguồn thông tin khác:
Ở một số nước phát triển, có các tổ chức chuyên thu thập và bán thông
tin về các doanh nghiệp, hoặc có các cơ quan được quyền quản lý và cung cấp
miễn phí thông tin. Ở nước ta, có Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân

- Căn cứ các văn bản, quy định, quy trình và hướng dẫn nội bộ của ngân
hàng.
+ Các văn bản quy định về quy chế cho vay
+ Các văn bản về lãi suất
+ Các văn bản về tài sản đảm bảo
+ Các văn bản khác về cho vay bằng ngoại tệ và các văn bản xử lý
nợ….
1.2.2.3 Quy trình thẩm định


22

Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định dự án đầu tư
Phòng
QLRR

Khách
hàng

Phòng
QHKH

Nhu
cầu

Tiếp thi, tiếp nhận
hồ sơ và kiểm tra

Nhận hồ sơ,
kiểm tra hồ sơ


Trình lãnh đạo
phòng quản lý rủi ro
Phê duyệt rủi ro
của PGĐ phụ trách

Hội đồng tín dụng (nếu cần)
phê duyệt cấp tín dụng

Soạn thảo ký kết hợp
đồng và giải ngân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status