Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước cách mạng :
Luận văn ThS. Văn học: 60 22 34 / Phạm Thị Thanh Thủy ;
Nghd. : PGS.TS. Hà Văn Đức
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong dòng văn học hiện đại Việt Nam, Tô Hoài được đánh giá là một cây đại
thụ. Ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 1996. Nhà phê bình Vương Trí
Nhàn đã nhận xét : “So với các cây bút đương thời, Tô Hoài có lẽ là nhà văn giàu
chất chuyên nghiệp bậc nhất. Sống đến đâu viết đến đấy. Việc viết lách đối với ông là
một thứ lao động hàng ngày”. Quả thật, Tô Hoài đã miệt mài sáng tác 70 năm nay và
đã cho ra đời 160 đầu sách. Ông thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện
dài, truyện đồng thoại, tiểu thuýêt, kịch, hồi kí, chân dung văn học. Nghiên cứu nghệ
thuật văn chương Tô Hoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ hơn những đóng
góp của ông với nền văn học nước nhà.
Tô Hoài nổi tiếng với những tác phẩm như truyện dài Dế Mèn phiêu lưu kí, Quê
người, Quê nhà, Đêm mưa, Xóm giếng, tiểu thuyết Nhớ Mai Châu, Kẻ cướp bến Bỏi, hồi
kí Cát bụi chân ai, Tự truyện, tập truyện ngắn Tây Bắc...
Không chỉ thành công ở truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, ở thể loại truyện ngắn
ngay từ ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã tạo được cho mình một phong cách riêng.
Ngày nay, truyện ngắn vẫn là một thể loại chiếm vị trí quan trọng trong đời
sống văn học
Với đề tài “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng”,
chúng tôi muốn có cái nhìn đầy đủ, trọn vẹn về những đóng góp của Tô Hoài trong
quá trình vận động và phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tô Hoài bước vào con đường văn học khá sớm. Ông cầm bút và nổi danh từ
trước năm 1945. Đến nay, Tô Hoài vẫn là nhà văn viết nhiều, dẻo dai, sung sức ở các
thể loại. Truyện ngắn Tô Hoài đã được giới phê bình văn học chú ý ngay từ những
ngày đầu cầm bút.
Các truyện ngắn của Tô Hoài trước năm 1945 được nhà xuất bản Hoa Tiên Sài
Gòn in lai với tựa đề “Chuột thành phố”, năm 1967 đã khẳng định các truyện ngắn O
Tuyển tập Tô Hoài, nhà xuất bản Văn học năm 1987, do giáo sư Hà Minh Đức
sưu tầm, tuyển chọn gồm 26 truyện ngắn.
IV. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
1. Nhiệm vụ
Với đề tài nghiên cứu như trên, chúng tôi mong muốn:
+ Tìm ra những đặc điểm nổi bật về truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách
mạng.
+ Đánh giá được những đóng góp của ông trong sự nghiệp văn chương của dân
tộc và đặc biệt là mảng truyện ngắn trước Cách mạng.
2. Phương pháp
+ Phương pháp phân tích tác phẩm.
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp tổng hợp, thống kê
+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành như ngôn ngữ, văn hóa...
V. Kết cấu luận văn
2
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn gồm có bốn
chương
Chương I. Diện mạo truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 và sự nghiệp văn
chương Tô Hoài.
Chương II. Đặc điểm nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Tô
Hoài trước Cách mạng.
Chương III. Đặc điểm kết cấu và tình huống trong truyện ngắn Tô Hoài trước
Cách mạng.
Chương IV. Đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Tô Hoài
trước Cách mạng.
CHƯƠNG I. DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM 1930-1945
Hoài được coi là môt cây bút xuất sắc, đóng góp không nhỏ cho sự thành công của
truyện ngắn nước nhà.
1.2. Sự nghiệp sáng tác văn chương Tô Hoài
1.2.1. Quan niệm của Tô Hoài về văn chương nghệ thuật
Tô Hoài sinh năm 1920, tên thật là Nguyễn Sen. Ngoài tên thật khi viết báo,
ông còn dùng những bút danh khác như: Mắt biển, Mai Trang, Duy Phương... Quê
nội ông ở thị trấn Kim Bài huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nhưng nhà văn lại sinh ra
và lớn lên và rất gắn bó với quê ngoại ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông
Cũ (nay là phường Nghĩa Đô quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Sớm đến với văn chương, ban đầu Tô Hoài cũng chịu ảnh hưởng của xu hướng
sáng tác lãng mạn đương thời, cây bút trẻ ấy cũng bắt đầu sự nghiệp bằng những bài
thơ lãng mạn, nhưng sau này ông chuyển hướng. Quan niệm văn chương phải bắt
nguồn từ cuộc sống đã chi phối toàn bộ các sáng tác của Tô Hoài. Bên cạnh đó, ở thể
loại truyện ngắn, Tô Hoài cũng có suy nghĩ riêng.
Là người có sở trường viết truyện ngắn, ông đã có những quan điểm rõ ràng nhất
quán về thể loại này trong suốt cuộc đời hoạt động văn chương của mình. Trong Sổ tay
viết truyện ngắn, ông đã từng bày tỏ niềm say mê của mình với truyện ngắn: “Tôi
thích truyện ngắn, bao giờ cũng tìm đọc truyện ngắn bởi nó là thể loại có tính chiến
đấu mạnh mẽ”. Tô Hoài còn quan niệm truyện ngắn là “cưa lấy một khúc đời sống”
nhưng không thể vì ngắn gọn mà làm mất đi “chất khoẻ khoắn của đời sống” [22, tr
8].
Quan niệm của Tô Hoài cũng giống với các nhà viết truyện ngắn khác. Song
Tô Hoài nhấn mạnh hơn yếu tố ngắn gọn. Đồng thời, ông khẳng định một tác phẩm
truyện ngắn có giá trị phải phản ánh hiện thực cuộc sống và sự sáng tạo, hoài bão của
nhà văn.
1.2.2. Những thành công trong sự nghiệp văn chương Tô Hoài
Năm 1940, ông chính thức vào nghề văn từ truyện ngắn Nước lên. Năm 1941,
ông viết Dế Mèn phiêu lưu kí để lại một tiếng vang lớn trên văn đàn Việt Nam cho
đến tận bây giờ.
Từ đó cho đến nay, Tô Hoài đã hơn bảy mươi năm lao động miệt mài không
mạng là những người nông dân thợ thủ công. Họ là hình ảnh người dân làng Nghĩa
Đô, là người chính người thân trong gia đình Tô Hoài.
Không giống như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài viết về người
nông dân, người thợ thủ công, ông không đi vào những sự kiện quan trọng, những
tình huống gây bất ngờ, hay những cuộc đấu tranh giai cấp. Dưới con mắt của Tô
Hoài, những người nông dân, những người thợ thủ công đều là con người bình
thường, có suy nghĩ, tâm trạng vận động theo quy luật đời thường.
Cuộc sống của người dân thời bấy giờ khăn túng quẫn. Truyện ngắn Đôi ri đá,
Tô Hoài đã dựng lại khung cảnh làng quê tiêu điều. Người ta ăn tết Nguyên Đán
trong thầm lặng, trong nỗi buồn tê tái.
Tô Hoài viết về những con người thật bình thường, những chuyện diễn ra hàng
ngày. Ông còn nhìn thấy ở những người nông dân thợ thủ công những cái hay cũng
như cái dở, cái xấu và cái tốt. Con người miêu tả một cách tự nhiên, không tô vẽ, con
người với đúng nghĩa là “con người”. Vì vậy, ở họ còn nhiều thói tật. Đàn ông nóng
nảy, đàn bà lắm điều.
Điều đáng nói khi xây dựng nhân vât, Tô Hoài không chỉ nhìn ra sự thấp kém
của những nông dân thợ thủ công, ông còn nhận thấy những phẩm chất đáng quí ở
họ.
Đằng sau những cuộc cãi vã, những vụ ẩu đả, họ lại trở về với con người thựcđó là con người giàu tình yêu thương, yêu gia đình, và khát khao hi vọng về một cuộc
5
sống tươi đẹp hơn. Họ cáu gắt cũng vì mệt nhọc, vì đói kém chứ bản chất thì hiền
lành, chăm chỉ, cũng mong muốn có một cái gì tốt đẹp hơn dù đơn giản chỉ là một
bữa cơm với món nhái nướng, là cái kẹo để chia nhau. Họ sống trong niềm tin hi
vọng ngay cả khi đó chỉ là tình yêu đơn phương đi chăng nữa.
2.2.2. Nhân vật trí thức
Truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng không đề cập nhiều đến nhân vật trí
thức như Nam Cao. Tuy vậy, những nhân vật này thể hiện một phần nào đó tư tưởng
6
Nhân vật là linh hồn của tác phẩm. Các phương diện thể hiện nhân vật hết sức
đa dạng. Nhà văn miêu tả chân dung, ngoại hình, tả hành động tâm trạng hoặc đưa
những chi tiết mô tả ngoại cảnh, môi trường, đồ vật xung quanh con người làm nổi
bật bức chân dung về con người. Nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài được miêu tả
những tâm trạng suy nghĩ phức tạp. Nhân vật được xây dựng trong môi trường lao
động, sinh hoạt, được đặc tả ở ngoại hình, lời nói, được tác giả thể hiện ở những chi
tiết rất đặc sắc thú vị.
2.3.1. Nhân vật gắn với môi trường lao động, sinh hoạt
Tô Hoài không quá cầu kì vào việc lựa chọn môi trường lao động sinh hoạt,
ông viết đơn giản tự nhiên những gì diễn ra xung quanh mình. Đó là môi trường lao
động và sinh hoạt của người ở làng quê Nghĩa Đô.
2.3.2. Nhân vật được chú trọng miêu tả ở ngoại hình, hành động, lời nói.
Tô Hoài có biệt tài miêu tả ngoại hình nhân vật. Mỗi bức chân dung con người
trong truyện ngắn của ông thật sinh động, cụ thể và riêng biệt.
Cô gái thôn quê mượt mà đằm thắm, người phụ nữ quê khốn khổ. Tuổi già,
nghèo đói và những hủ tục đã quây lấy họ khiến hình hài của những con người ấy
cũng trở nên biến dạng. Kẻ đòi nợ thuê vừa có vẻ dữ dằn lại vừa đáng thương. Những
người đi làm ăn ở các đồn điền cao su mắc chứng bệnh sốt rét. Họ tiều tuỵ, đen đúa,
tội nghiệp. Trông họ chẳng khác nào những bóng ma vật vờ.
Không chỉ tả hình dáng, trang phục, các nhà văn cũng chú ý đến đặc tả khuôn
mặt. Nếu Nam Cao miêu tả khuôn mặt chủ yếu bộc lộ tính cách và cuộc đời số phận
thì Tô Hoài chủ yếu để diễn tả trạng thái cảm xúc nhiều hơn. Đó là cái mặt già nua
tàn tạ của lão Móm giỗi cơm vợ. Đó là khuôn mặt tươi tắn của cô Mây thẹn thùng khi
gặp người yêu. Đó là khuôn mặt buồn rầu đến thẫn thờ vì phải xa người yêu của Lụa
và Nguyên.
Bên cạnh xây dựng ngoại hình, Tô Hoài còn miêu tả tỉ mỉ chi tiết những hành
que tăm”, “cây lứa nép”, “quả mít”, “mắt vịt”, “múi quít”, “vàng nghệ”, “đẵn mía”...
Tiểu kết
Nhân vật trong tác phẩm Tô Hoài là những con người bình dị, chủ yếu sinh sống ở
làng quê Nghĩa Đô. Họ là nông dân thợ thủ công, trí thức tiểu tư sản và những con
vật quen thuộc gắn bó với cụôc sống hàng ngày. Nhờ khiếu quan sát, sự miêu tả
tường tận tỉ mỉ ngoại hình, hành động, cử chỉ của nhân vật và những chi tiết về phong
tục cùng với hình ảnh so sánh độc đáo mà bức chân dung những người dân quê ấy
hiện lên thật sinh động với nhiều dáng vẻ, tính cách, số phận khác nhau. Hiện lên
trong tâm trí người đọc, một vùng quê nghèo đói, tăm tối, những con người bình dị
khốn với biết bao khát vọng, lo toan và cả những thói tật đời thường. Qua đó, ta thấy
được tài năng văn chương và tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương của nhà văn
Tô Hoài.
CHƯƠNG III. ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU, TÌNH HUỐNG
TRUYỆN NGẮN TÔ HOÀI TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
3.1. Kết cấu
3.1.1. Khái niệm kết cấu
“Kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm, phục
tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt cho mình.
Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác
phẩm” [35, tr 295].
3.1.2. Kết cấu trong truyện ngắn của Tô Hòai trước Cách mạng
8
3.1.2.1. Kết cấu theo trình tự thời gian
Ghi lại cuộc sống đời thường với bao lo toan vặt vãnh của những dân ở vùng
quê dệt lụa, Tô Hoài sử dụng kiểu kết cấu phù hợp với trật tự của các sự kiện diễn ra
theo thời gian, theo số phận cuộc đời của các nhân vật chính. Có 19 tác phẩm được
viết theo kết cấu theo trình tự thời gian gồm: Lụa, Đêm gác rừng, Lá thư tình đầu
Khảo sát những truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng, chúng tôi nhận
thấy Tô Hoài nhiều lần sử dụng kết thúc bất ngờ và để ngỏ. Có đến 8 truyện như vậy
chiếm 30% trong số những truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng như Nhà
9
nghèo, Lụa, Đêm gác rừng, Lá thư tình đầu tiên, Chuyến định đi xa , Bóng đè , Khách
nợ, Truyện gã chuột bạch.
Những câu chuyện kết thúc bất ngờ lại thường gợi trong lòng người đọc nhiều
suy nghĩ. Truyện đã hết nhưng mạch kể của nó dường như vẫn còn tiếp tục, miên
man trong tâm tưởng của độc giả. Những cuộc đời, số phận của các nhân vật dường
như vẫn còn tiếp tục.
Với lối kể chuyện hóm hỉnh, kết thúc bất ngờ, bên ngoài tưởng như cái hiện
thực bề bộn, tối tăm, những bi kịch ở làng quê đã được làm dịu bớt. Thực tế những
đau thương vẫn ẩn chứa trong mỗi câu chuyện. Mặc dù truyện đã kết thúc nhưng số
phận cuộc đời của những con người ở làng quê ấy vẫn nhức nhối trong lòng người
đọc.
3.1.2.4. Kết cấu đơn giản đan xen với trữ tình ngoại đề
Kết cấu truyện đơn giản thường thông qua ba cảnh. Cảnh một là một biến cố
bất thường hoặc căng thẳng. Ở cảnh hai tác giả dùng ánh sáng của quá khứ để giải
các sự kiện bất thường ở cảnh một. Và ở cảnh ba thường là một kết thúc bi kịch hoặc
một kết thúc buồn chua chát như Chớp bể mưa nguồn, Ông giỗi, Nhà nghèo…
Trong các câu chuyện thường đan xen phần trữ tình ngoại đề như Khách nợ,
Ông giăng không biết nói, Vàng phai, Bóng đè.
Lời văn khi thì xót xa những con người bất hạnh [Khách nợ], có lúc lại mỉa
mai kẻ phụ tình và bộc lộ niềm cảm thông, xót thương với chàng trai đã bị phụ tình [
Ông trăng không biết nói], có lúc lại gợi lên trong lòng người đọc những nghi hoặc
[Bóng đè]
Nhờ những câu văn trữ tình ngoại đề mà độc giả có thể hiểu được những suy
xa. Họ muốn thoát li khỏi làng quê, muốn làm giàu.
Sài Gòn trong con mắt của người dân quê giống như là một miền đất hứa khiến
cho họ có thể đổi đời [Một chuyến định đi xa].Cuộc sống thành phố dù còn nhiều ồn
ào, bon chen nhưng vẫn là nơi hấp dẫn của nhiều chàng trai quê [Giữa thành phố].
Nhưng dù đi đâu, họ vẫn mong muốn trở về quê hương [ Một người đi xa về].
Bỏ làng ra đi chỉ là một giải pháp khốn cùng vì cuộc sống quá nghèo túng, vì
bi kịch gia đình. Thực chất là người dân quê rất gắn bó với quê hương. Thành phố có
hấp dẫn nhưng với họ chỉ là nơi làm ăn. Họ cố gắng làm việc, dè xẻn chắt chui có
tiền để rồi họ lại trở về sống những năm tháng còn lại của cuộc đời mình với làng
quê.
3.2.2.3. Tình huống chia li
Những cuộc chia li cũng là đề tài để nhiều tác phẩm văn chương viết nên. Những
cuộc chia li thường bao giờ cũng thấm đẫm nước mắt. Ở Tô Hoài, những cuộc chia li có
buồn nhưng nó được viết bằng giọng điệu vui đùa, hóm hỉnh, đôi lúc lai dửng dưng. Vì
vậy, nỗi buồn dường như được vơi đi.
Những chàng trai cô gái ở làng yêu nhau tha thiết nhưng rồi tình yêu tan vỡ.
Bởi rất nhiều lí do vì không hợp tuổi [Lụa], vì cô gái phải đi lấy chồng [Ông giăng
không biết nói], vì cô gái đã tìm người khác giàu sang hơn chàng trai [ Một người đi
xa về, Vàng phai]. Có cuộc chia li diễn ra lặng lẽ đường ai nấy đi, chàng trai thì lấy
vợ, còn cô gái cũng nhanh chóng đi lấy chồng [Lụa]. Có cuộc chia li là bi kịch đớn
đau, người con trai chết trong đêm gặp nhau với người yêu lần cuối [Ông giăng
không biết nói]. Có cuộc chia li để lại niềm căm giận nuối tiếc trong lòng [ Một người
đi xa về, Vàng phai].
11
Tô Hoài có biệt tài miêu tả về thế giới loài vật. Chúng hiện lên sinh động với
những tính cách của con người. Thế giới ấy cũng không bình yên, có hợp có tan [Gà
trống ri. Một cuộc bể dâu, Gã chuột bạch].
không thể không tìm hiểu nghệ thuật ngôn ngữ của ông. Trong bài viết Tô Hoài sinh ra
để viết, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng : “Nói đến Tô Hoài không thể không nói đến tài
năng sử dụng ngôn ngữ của ông. Tô Hoài rất ít khi dùng thứ ngôn ngữ óng ả, sặc mùi
12
sách vở. Chữ nghĩa của ông cất lên từ đời sống. Nhưng đó là thứ ngôn ngữ chắt lọc.”
[8, tr 121]; “ngôn ngữ của ông mềm mại, tung tẩy, nẫu nục chất dân gian. Đó là sự
tinh tế của một cây bút cao tay, là ý thức đạt tới sự giản dị của một sự khéo léo lớn.
Chính vì thế mà văn Tô Hoài không mòn cũ theo thời gian” [8, tr 115]
4.1.2.1. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình
Tô Hoài đã từng quan niệm “mỗi câu văn là do từng hình ảnh xuất hiện liên
tiếp, từng chữ mang hình ảnh nối tiếp vào nhau [26, tr 512].
Ngôn ngữ văn chương Tô Hoài nói chung và đặc biệt trong truyện ngắn Tô
Hoài trước Cách mạng nói riêng rất giàu chất tạo hình. Ông thường sử dụng những từ
láy, tính từ, động từ giáu sắc thài biểu cảm và những hình ảnh so sánh, để miêu tả
cuộc sống con người thật rõ nét, cụ thể và vô cùng sinh động.
Nhờ việc sử dụng có hiệu quả, tính tế, chính xác các từ láy, Tô Hoài đã xây
dựng bức chân dung của các nhân vật thật sống động, có hồn.
Bên cạnh đó, những tính từ, động từ được Tô Hoài sử dụng cũng làm cho các
sự vật hiện lên rõ nét với tính chất, trạng thái rất tiêu biểu, không chung chung mờ
nhạt.
Nét độc đáo trong ngôn ngữ của Tô Hoài còn là sử dụng biện pháp tu từ so
sánh. Nhà văn đã tiếp thu có chọn lọc lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao
động. Họ luôn gắn bó với làng quê, luôn có mặt với khung dệt, vườn ruộng với nắng
và với mưa, với thiên nhiên bốn mùa thay đổi, với nỗi khổ của người đói nghèo, bất
hạnh, phiêu bạt, chia lìa… Vì thế, hình ảnh so sánh của Tô Hoài luôn bình dị, dễ hiểu,
gần gũi.
4.1.2.2. Ngôn ngữ dân giã
phai
Nh ngụn ng đa thanh, phc iu nờn truyn ca Tụ Hoi cú cỏch kể chuyện
linh hoạt, hấp dẫn, đồng thời ngời đọc cảm nhận đợc cái nhìn, suy nghĩ của ngời
kể và các nhân vật tham gia câu chuỵên. Từ đó, ngời đọc tiếp cận với tác phẩm ợc
nhiều diện và hiểu đợc những ý nghĩa sâu sa nằm trong lớp câu chữ của truyện.
4.2.2.4. S dng nhiu cõu vn ngn gõy n tng
c truyn ngn ca Tụ Hoi, ngi c thc s n tng vỡ nhng on trn
thut s dng trit nhng cõu vn ngn. Cõu khụng rm r v cu trỳc ng phỏp,
ớt dng cõu c bit ch yu l cõu n C-V hoc cõu cú b phn song song nh mt
C-V1,V2,V3 hoc C1,C2,C3 V. Cõu vn ngn nh vy mụ t rừ mc , cp ,
tớnh cht nhanh chm gp gỏp ca thot ng hay s vt. Giỏo s H Minh c trong
tuyn tp Tụ Hoi cho rng: Truyn ngn ca Tụ Hoi cú phong v riờng, ụng vit
khụng di, cõu chuyn thu gn li trờn nm by trang giy. õy hin ra vi s vic
v tõm trng ca mt s ngi.[27, tr 20]
Nhng cõu vn ngn thng c s dng miờu t nhng tỡnh hung cng
thng gp gỏp [Mựa n chi, tr 229]. Khụng ch nhng s vic n nhanh, t ngt,
Tụ Hoi cũn s dng nhng cõu vn ngn trong c tỡnh hung ch i, nh nhung,
ngng nghu. Nhng cnh hung m ỏng l cõu vn di s chuyn ti tt hn [La,
tr 161]. Miờu t ni bun, s au kh, cỏc nh vn thng s dng nhng cõu vn di
din t tõm trng day dt khụn nguụi. Ni au bun ca anh Ti khi ngi yờu i
ly ngi khỏc cng c din t bng nhng cõu vn ngn gn [Mt ngi i xa v,
tr 208].
Nh vy, nhng cõu vn ngn gõy n tng cng l c im riờng bit trong
ngụn ng ca Tụ Hoi. Nú giỳp nh vn miờu t liờn tc cỏc s vic, hnh ng, c
ch ca nhõn vt. Nhng ớt nhiu cng cú hn ch khi miờu t ni tõm ca nhõn vt.
4.2. Ging iu trn thut
4.2.1. Khỏi nim v ging iu trn thut
14
nhân vật để qua đó người đọc tự hình dung, tưởng tượng về nhân vật. Bên cạnh đó,
Tô Hoài kìm nén những cảm xúc chủ quan kể lại câu chuyện như những gì vốn xảy ra
ở thực tế khách quan.
4.2.2.3. Giọng điệu trữ tình man mác
Tô Hoài vừa hóm hỉnh, vừa lạnh lùng chỉ ra những thói xấu, những tính cách
hẹp hòi, những hình, những dạng của đời, có chê trách. Nhưng đằng sau đó là một
thái độ xót xa, thương cảm. Xót xa vì họ bị cuộc sống khổ cực làm mất đi bản chất
lương thiện, những tình ý sâu kín rụt rè đáng yêu cũng bị chìm hẳn vào những lo
toan, những tính toán chi li, những vụ lợi nhỏ nhặt.
15
Giọng điệu buồn man mác được nén lại trong mỗi truyện ngắn Tô Hoài. Nó
xuất phát từ tấm lòng yêu quê hương, sự gắn bó tha thiết của ông với cuộc đời. Tô
Hoài nhận ra quanh đâu đây mình vẫn còn nhiều kiếp nghèo, những con người khốn
khó. Nó thể hiện lòng đồng cảm của nhà văn với cuộc sống của người dân quê.
4.2.2.4.Giọng điệu suồng sã, tự nhiên
Bên cạnh giọng điệu hóm hỉnh pha chút buồn, một giọng điệu nữa cũng khá
nổi bật trong các truyện ngắn của ông đó là giọng điệu suồng sã tự nhiên. Chất suồng
sã tự nhiên được thể hiện qua cách gọi nhân vật và đặc biệt qua đối thoại
Giọng điệu suồng sã tự nhiên đã làm cho nhân vật sống động hơn. Họ như
đang sống, đang bước ra từ trang sách để trò chuyện với bạn đọc.
Tiểu kết
Có thể nói ngôn ngữ giọng điệu trong truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách
mạng tháng Tám có tính phức hợp. Đó là sự hòa trộn giữa ngôn ngữ giàu tính tạo
tình, tinh tế chuẩn xác với một ngôn ngữ bình dân nôm na dễ hiểu, giữa ngôn ngữ
người kể chuyện với ngôn ngữ độc thoại và đối thoại của nhân vật, sự hòa trộn giữa
các giọng điệu trữ tình buồn man mác với giọng điệu dí dỏm hài hước, giọng điệu
suồng sã tự nhiên với dửng dưng lạnh lùng. Tuy nhiên, nét nổi bật trong ngôn ngữ,
người kể chuyện với ngôn ngữ độc thoại và đối thoại của nhân vật, sự hòa trộn giữa
các giọng điệu trữ tình buồn man mác với giọng điệu dí dỏm hài hước, giọng điệu
suồng sã tự nhiên với dửng dưng lạnh lùng. Tuy nhiên, nét nổi bật trong ngôn ngữ,
giọng điệu của Tô Hoài là ngôn ngữ dân giã, tự nhiên và giọng điệu dí dỏm hài hước
cùng với những câu văn ngắn gây ấn tượng. Kết cấu và tình huống trong truyện Tô
Hoài rất đơn giản. Đa số các tác phẩm của ông được kết cấu theo thời gian tuyến tính,
cũng có kết cấu đảo lộn trật tự theo dòng tâm lí của nhân vật nhưng không nhiều. Kết
cấu đơn giản thường diễn ra ba màn cảnh. Tô Hoài còn sử dụng những kết truyện bất
ngờ và phần trữ tình ngoại đề làm cho câu chuyện có nhiều giọng điệu, trở nên sâu
sắc hơn. Tình huống truyện của Tô Hoài đều là những tình huống đời thường trong
cuộc sống với những sự việc vụn vặt lẻ tẻ dường như chẳng có gì đáng kể để nói, để
viết. Nhưng tài năng của Tô Hoài ở chỗ làm cho những chuyện tưởng chừng như
không có gì ấy lại là có chuyện. Bức chân dung con người đời thường hiện lên sinh
động gợi cho người đọc suy nghĩ về cuộc sống của họ.
3. Ngày nay, truyện ngắn vẫn là một thể loại chiếm vị trí quan trọng trong đời
sống văn học. Trong đó, Tô Hoài là người đã có đóng góp không nhỏ vào bước phát
triển của truyện ngắn Việt Nam. Truyện ngắn của ông đến nay, vẫn có nhiều độc giả
vẫn yêu thích và say sưa đọc. Bởi nhà văn đã giúp họ nhận ra ở mỗi câu chuyện
17
những bài học cuộc sống, những tâm tình về số phận con người, những hoài bão, ước
mơ cao đẹp. Tô Hoài đã tạo ra truyện ngắn có vẻ đẹp riêng giữa một rừng hoa văn
học đầy hương sắc. Với việc nghiên cứu về đặc điểm truyện ngắn Tô Hoài trước
Cách mạng, chúng tôi hi vọng rằng có một cái nhìn hoàn chỉnh hơn về Tô Hoài, nhà
văn của đời, của thơ văn, của những kiếp người nghèo khổ.
18