THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ LỚP 9 Ở TRƯỜNG THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2014- 2015
4. Tác giả:
Họ và tên: Trần Thị Hiệp
Năm sinh: 1976
Nơi thường trú: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Ngữ văn
Chức vụ công tác: Phó hiệu trưởng
Nơi làm việc: Trường THCS Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 03503.895706
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Địa chỉ: Xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 03503.895706
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà rất nhiều các quốc gia trên thế giới coi là
quốc sách hàng đầu. Sự nghiệp giáo dục của nước ta cũng được đề cao và không
ngừng phát triển, điều đó được thể hiện ở sự luôn đổi mới, nâng cao chất lượng dạy
và học. Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới
đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức
đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới phương pháp dạy học.
Trong nghị quyết II khoá VIII( 12/1996) Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ
con đường đổi mới giáo dục và đào tạo của nước ta là : “Đổi mới mạnh mẽ các
các vấn đề đổi mới phương pháp dạy học thì tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
là một vấn đề từ lâu đã được các nhà sư phạm quan tâm. Những nhóm học tập, đôi
bạn học tập (thường là người khá, giỏi kèm người yếu, kém) được giáo viên THCS
thực hiện phân chia trước khi thay đổi chương trong và sách giáo khoa những năm
80. Có điều, hoạt động nhóm khi ấy chủ yếu là hoạt động tự học của các em ở nhà.
Bây giờ, hoạt động nhóm được nhìn nhận dưới góc độ hợp tác, giải quyết nhiệm vụ
học tập. Nó không chỉ diễn ra ở nhà mà còn diễn ra trong lớp học nhằm giúp mọi học
sinh tham gia một cách chủ động và quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thề
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội
dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp
tác giải quyết những nhiệm vụ chung. Khi thay đổi chương trình và SGK từ năm
2002-2003 và hoàn tất vào năm học 2005-2006, chúng ta đã rất chú ý đến dạy học
phân hóa, đồng thời với việc tăng cường kĩ năng hợp tác làm việc theo nhóm, tổ.
Việc phân chia các nhóm làm bài tập và nhiệm vụ có tính thi đua, việc áp dụng một
số khâu của tổ chức trò chơi làm cho không khí học tập sôi động, thoải mái mang
tính chất vừa chơi, vừa học quả là một nét mới. Tuy nhiên, việc phân chia nhóm, tổ
không phải là điểm mới của phương pháp. Mặt khác phân chia nhóm, tổ trong học
tập lịch sử không phải là một hoạt động lúc nào cũng cần thiết. Phân nhóm nếu chỉ
mang tính hình thức sẽ không đạt hiệu quả mong muốn. Bản thân nhà sư phạm V.Ô
kôn, người kiến tạo lí thuyết dạy học nêu vấn đề cũng đã khuyến nghị: “Không dạy
học theo nhóm ở mọi tiết học”. Việc chia nhóm và hoạt động nhóm chỉ thích hợp cho
những tiết ôn tập, luyện tập và 1 số ít phần thực hành củng cố lí thuyết và chỉ đạt
hiệu qua cao khi giáo viên có chuẩn bị kĩ càng, biết phối hợp nhuần nhuyễn với các
phương pháp khác.
Đối với môn Lịch sử, thực tế cho thấy những năm gần đây, việc dạy Lịch sử ở
trường phổ thông đã có những bước tiến đáng kể về nhận thức, nội dung, phương
pháp dạy học. Song vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại. hiệu quả dạy học bộ môn ở các
trường phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra: đa số học sinh vẫn chưa có
hành, sơ đồ, biểu đồ, lược đồ… Những sự thay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất
lượng giáo dục ở đối tượng học sinh, mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu
vào phương pháp dạy học và áp dụng một số kĩ thuật dạy học mới của giáo viên.
Qua quá trình bồi dưỡng chuyên môn khi thay sách và thực hiện đổi mới giáo dục,
đa số giáo viên đã nhận thức được tầm qua trọng của việc đổi mới phương pháp dạy
học. Tuy nhiên còn một bộ phận không nhỏ giáo viên đã hiểu một cách hạn hẹp:
Điểm mới trong đổi mới phương pháp là phải tổ chức hoạt động nhóm. Không ít lần
dự giờ, chúng tôi đã chứng kiến việc phân chia nhóm có tính chất hình thức. GV nêu
câu hỏi hoặc ra bài tập (có những câu hỏi hoặc bài tập quá dễ học sinh có thể làm
việc độc lập để trả lời, cũng có câu hỏi quá lớn, yêu cầu kiến thức quá cao mà trong
thời gian quá ngắn không thể giải quyết được) rồi yêu cầu các nhóm thảo luận. Các
em ở bàn trên quay xuống bàn dưới. Nhóm trưởng cùng cả nhóm chụm đầu rì rầm
một lát. Rồi GV yêu cầu đại diện mỗi nhóm trình bày. Không thấy sự nhất trí nào
của nhóm cả. Nhóm trưởng trình bày ý kiến riêng đã được chuẩn bị ở nhà. Vả lại
thời gian quá ít, phần hướng dẫn của GV quá hời hợt làm sao đủ cho hoạt động tư
duy tập thể? Nhiều GV dạy xong khi được góp ý về tính hình thức và sự không hiệu
quả của việc chia nhóm cũng thừa nhận: “Tôi cũng biết thế nhưng nếu không chia
nhóm, lại sợ không đúng với tinh thần đổi mới”. Sau những lần tổ chức hoạt động
nhóm không hiệu quả, tâm lý GV ngại chuẩn bị đã bỏ qua hoạt động này. Bên cạnh
đó một bộ phận GV không thấy được tầm qua trọng của hoạt động nhóm trong đổi
mới phương pháp dạy học, cho rằng hoạt động nhóm chỉ mang tính hình thức nên
không áp dụng trong bất kì loại bài nào, tình huống nào. Tất cả những quan điểm
trên trong một bộ phận không nhỏ GV đặc biệt là GV dạy Lịch sử - Môn học không
được coi trọng như Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ, đã dẫn đến hoạt động nhóm trong
dạy học lịch sử THCS đang dần mang những tác dụng không mong muốn cho đổi
mới và nâng cao chất lương dạy và học. Có thể khái quát những tồn tại cơ bản của
việc tổ chức thảo luận nhóm hiện nay như sau:
* Về phía giáo viên
Khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm, GV còn lúng túng ở một số thao tác
sau:
TL, dẫn tới tình trạng có HS làm việc riêng, nói chuyện trong thời gian này. GV
cũng không nắm bắt được những khó khăn, lúng túng của HS trong quá trình TL để
có sự gợi ý, hỗ trợ kịp thời.
Thứ sáu, thao tác tổng kết. Sau khi viết phương án trả lời ra bảng hoặc ra giấy,
nhóm trưởng thay mặt nhóm đọc kết quả thảo luận trước lớp hoặc viết lên bảng. GV
gọi HS khác nhận xét, bổ sung. GV kết luận. Thao tác này được lặp đi lặp lại khá
đơn điệu, nhàm chán.
* Về phía HS
- HS hầu như không được giao nhiệm vụ về nhà chuẩn bị trước cho thảo luận
nhóm nên có phần bị động trong quá trình thảo luận trên lớp. Mặt khác, nếu được
giao nhiệm vụ trước thì HS cũng không chuẩn bị, hoặc chuẩn bị mang tính đối phó.
- Trong thời gian TL, chỉ có số ít HS làm việc thật sự (nhóm trưởng và HS khá,
giỏi trong nhóm), còn lại các em thường ngồi chơi, nói chuyện, làm việc riêng. Hiện
tượng độc diễn cá nhân bên cạnh “người chầu rìa”, “ người ngoài cuộc” diễn ra khá
phổ biến, kể cả khi có người dự giờ trong lớp. HS không ý thức được sự cần thiết
phải hợp tác để chiếm lĩnh tri thức nên nhiều khi các em biến hoạt động TLN thành
cơ hội để tán gẫu, lãng phí thời gian.
- Câu trả lời của HS thường lặp lại những vấn đề trong SGK, thiếu sức sáng tạo.
- TLN thường gây ồn ào, ảnh hưởng tới lớp khác.
Vì những hạn chế trên mà PPTLN thường được vận dụng mang tính hình thức,
đối phó, chủ yếu trong các giờ hội giảng. Phỏng vấn một số GV dạy Lịch sử trường
THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy và một số trường trên địa bàn các huyện khác
thuộc tỉnh Nam Định, chúng tôi được biết, hầu như rất ít GV vận dụng PPTLN trong
những giờ học bình thường: 11, 4% GV thường xuyên vận dụng; 57, 7% GV thỉnh
thoảng mới vận dụng; 30,8% GV chưa bao giờ vận dụng PP này.
Nguyên nhân việc GV ngại áp dụng PP này là:
1.Thói quen sử dụng các PP dạy học truyền thống (83, 3%);
2. TLN là PP khó, tốn nhiều thời gian trong khi lượng kiến thức phải truyền đạt
*Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triển trên
cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại
hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho
những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động
như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Lịch sử…
*Những năng lực chuyên biệt cần chú trọng hình thành và phát triển cho
HS trong môn Lịch sử cấp THCS:
Năng lực
Tái hiện sự kiện,
hiện tượng,
nhân vật
Xác định và giải
quyết mối liên
hệ, ảnh hưởng,
tác động giữa
các sự kiện, hiện
tượng lịch sử
với nhau
Thực hành với
đồ dùng trực
quan
Ví dụ
Tái hiện lại sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử quá
khứ tiêu biểu, có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới và dân
tộc
Vận dụng, liên hệ
kiến thức lịch sử
đã học để giải
quyết những vấn
đề thực tiễn đặt
ra
Khả năng nhận xét, đánh giá, khái quát hóa, rút ra bài học
cho bản thân từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật, vấn
đề lịch sử.
Khả năng biết vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học
để giải quyết một vấn đề thực tiễn đặt ra như ô nhiễm môi
trường, xung đột trên thế giới, tranh chấp biển đảo, xu thế
toàn cầu hóa…
3.2. Nắm vững những vấn đề chung về tổ chức thảo luận nhóm trong dạy học
nhằm định hướng năng lực HS:
* Mục đích của thảo luận nhóm trong dạy học:
Việc tổ chức thảo luận nhóm trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói
riêng là một trong những hình thức, phương pháp dạy học nhằm thực hiện tốt nhất
việc dạy học phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh. Dưới hình thức học
tập này học sinh được khuyến khích thảo luận và hợp tác với nhau, được trao đổi
chia sẻ và có cơ hội để sử dụng kiến thức và các kỹ năng mà các em được lĩnh hội và
rèn luyện. Cùng với đó học sinh được lôi cuốn vào các hoạt động học tập, thu lượm
kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự hướng dẫn của giáo viên.
Hơn nữa trong lớp học thường có học sinh giỏi – khá – trung bình – yếu. Trong
nội dung bài học có nội dung dễ nhận biết, có nội dung trừu tượng, khó nhận biết,
mà để phát huy tính tư duy của học sinh thì giáo viên là người hướng dẫn, giúp đỡ
các em khai thác kiến thức, không nên tự giải thích, thuyết trình kiến thức cho các
đỡ nhau học tập, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn. Thành công của bài học
phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy dạy học hợp tác
trong nhóm nhỏ gọi là phương pháp cùng tham gia.
+ Thảo luận nhóm giúp những học sinh nhút nhát, diễn đạt kém có điều kiện
rèn luyện, tập dượt, để dần tự tin khẳng định bản thân trong sự hấp dẫn của các hoạt
động nhóm, hứng thú trong học tập và sinh hoạt tập thể, dễ hòa nhập với cộng đồng.
+Thảo luận nhóm còn giúp các vấn đề về kỷ luật lớp học, nâng cao thành tích
học tập của nhóm. Do có thời gian làm việc độc lập, tự giải quyết các vấn đề nên học
sinh trong nhóm sáng tạo hơn.
+ Thảo luận nhóm còn giúp cho học sinh sống trong thế giới hiện thực – thế
giới của sự hợp tác, nâng cao vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội, kĩ năng giao tiếp,
phát triển kỹ năng hợp tác.
+ Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong
nhóm chia sẽ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận
thức mới. Mỗi học sinh có thể nhận thức rõ trình độ hiểu biết về chủ đề nêu ra, thấy
mình cần học hỏi lẫn nhau giữa học sinh chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ
giáo viên.
Như vậy việc nâng cao chất lượng thảo luận nhóm thông qua tiết dạy học ở bộ
môn là vấn đề rất cần thiết trong hoạt động dạy và học lịch sử 9. Với các kĩ thuật dạy
học tích cực nhằm gíúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo,
rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến
thức vào tình huống khác nhau trong học tập làm cho học là quá trình kiến tạo, học
sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, tự hình thành tri thức, có năng lực và
phẩm chất năng động, sáng tạo trong cuộc sống. Chính vì vậy việc nâng cao chất
lượng thảo luận nhóm thông qua tiết dạy học ở bộ môn lịch sử 9 có vai trò rất quan
trọng góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học.
* Cơ cấu nhóm:
- Nhóm là một tổ chức gồm 2 đến 8 học sinh, nhóm là môi trường cơ sở, nơi
diễn ra các quan hệ trực tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh
và học sinh với giáo viên.
- Nhóm 6- 8 học sinh: Dùng khi thảo luận với nội dung có nhiều vấn đề, nhiều
quan điểm trong khả năng giải quyết của học sinh, các vấn đề cần so sánh hay đi sâu
hơn vào một nội dung đã thảo luận ở nhóm nhỏ nhưng khó thực hiện chung cho cả
lớp.
- Nhóm xuất phát và nhóm chuyên sâu: Dùng khi thu thập thông tin và các vấn
đề thảo luận, rèn luyện kỹ năng xử lý và trình bày thông tin.
* Các bước tiến hành hoạt động thảo luận nhóm:
- Chuẩn bị nội dung thảo luận :
+Trước tiên giáo viên cần chọn bài, chọn vấn đề thích hợp cho học sinh thảo
luận.
+Cần lưu ý khi chọn đề tài thảo luận là phải xem xét nghiên cứu xem học sinh
đã biết gì về chủ đề đã nêu ra.
+Khi đã chọn được vấn đề thảo luận đúng yêu cầu, giáo viên cần thông báo
cho học sinh chuẩn bị ý kiến (viết thành văn bản) tham gia thảo luận.
+Từ đó học sinh ý thức được yêu cầu nội dung của đề tài, các nguồn tài liệu
chính, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ của tập thể cũng như của từng cá nhân…
- Tổ chức thảo luận :
+Giáo viên chia nhóm, thông báo về chủ đề cần thảo luận, quy trình và nguyên
tắc thảo luận, cần quy định rõ thời gian thảo luận, mỗi nhóm nên cử một nhóm
trưởng để điều khiển và mộ thư kí ghi biên bản thảo luận nhóm. Học sinh cần luân
phiên nhau làm nhóm trưởng và thư kí để đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận.
+Hướng dẫn thảo luận: Trong quá trình thảo luận giáo viên làm nhiệm vụ quan
sát, theo dõi, lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết mà không tham gia ý kiến
thảo luận, không cắt ngang lời học sinh, không tỏ phản ứng nếu câu trả lời, tranh
luận không đúng với ý mình. Tuy nhiên nhằm làm tăng thêm hứng thú khi thảo luận,
giáo viên cũng có thể đưa ra các câu, giống như “ván nhún” hoặc nêu ra cách thảo
luận để tạo không khí sôi nổi cho buổi thảo luận, tạo không khí thân mật, cởi mở,
khuyến khích sự tham gia của mỗi học sinh trong thảo luận. Khi thảo luận, giáo viên
- Khi chia nhóm thảo luận nên cơ cấu có đủ thành phần (giỏi – khá – trung bình –
yếu – kém, hiếu động – trầm lặng…). Nên để học sinh luân phiên nhau làm nhóm
trưởng, thư kí. Qui mô nhóm không nên quá đông.
- Giáo viên nên chuẩn bị kỹ vấn đề cần thảo luận và dự kiến các tình huống xảy
ra cùng các phương án xử lý
- Giao nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, đảm bảo mỗi học sinh đều hiểu nhiệm vụ
- Trong quá trình học sinh làm việc, giáo viên phải theo dõi từng nhóm, có sự
giúp đỡ, hướng dẫn kịp thời, đảm bảo tất cả học sinh đều làm việc.
- Trong mỗi nhóm cần có sự phân công rõ ràng nhiệm vụ cụ thể trong đó đề cao
vai trò hợp tác
- Cần tạo không khí thi đua giữa các nhóm để khuyến khích học tập
- Giáo viên nên nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc của các nhóm để kịp
thời động viên, khuyến khích các nhóm thảo luận tốt hơn và rút kinh nghiệm các
nhóm làm việc chưa tốt.
* Vai trò của giáo viên:
Để đạt kết quả cao, giáo viên phải biết tổ chức nhóm, hướng dẫn cách thực hiện,
phân bổ thời gian hợp lý, giải đáp thắc mắc của học sinh trước khi chính thức đi vào
hoạt động, đồng thời ghi lại chủ đề và chỉ dẫn lên bảng hoặc máy chiếu… Quan
trọng hơn là việc giám sát của người thầy. Khi học sinh tiến hành hoạt động, giáo
viên chuyển từ vị trí người hướng dẫn sang vị trí người giám sát. Nhiệm vụ của giáo
viên lúc này là nhận biết tiến trình hoạt động của các nhóm từ đó có thể có những
can thiệp kịp thời để mang lại hiệu quả. Muốn vậy khi giám sat hoạt động nhóm giáo
viên cần:
+ Chú ý đến hoạt động mà giáo viên yêu cầu lớp thực hiện. Không nên tranh thủ
làm việc riêng khi học sinh đang thảo luận, vì như vậy học sinh sẽ không tập trung
vào hoạt động. Di chuyển, quan sát toàn bộ lớp để giám sát được mọi hoạt động.
Lắng nghe quá trình trao đổi của học sinh trong nhóm. Từ đó giáo viên có thể có
những phát hiện thú vị và khả năng đặc biệt của từng em, hướng thảo luận của từng
tham khảo theo sự hướng dẫn của giáo viên các em mới tiến hành nhanh mang tính
đoàn kết có hiệu quả sau giờ thảo luận.
3.4. Tổ chức thảo luận nhóm ở một số tiết học trong chương trình lịch sử lớp9
theo định hướng phát triển năng lực HS.
* Các dạng câu hỏi thảo luận nhóm thường dùng trong dạy học lịch sử
nhằm phát triển năng lực học sinh.
Có nhiều cách xây dựng nội dung thảo luận nhóm trong quá trình dạy học Lịch sử.
Song về cơ bản nhằm phát triển năng lực của HS có thể quy về 4 dạng câu hỏi như
sau :
Dạng 1: Có thể đưa ra một sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử và yêu cầu HS nhận
xét, đánh giá.
Ví dụ: Phong trào Ngũ Tứ (1919) nêu cao khẩu hiệu “Trung Quốc của người Trung
Quốc”, “Xóa bỏ hiệp ước 21 điều…”. SGK Lịch sử 8. Từ phong trào này em có suy
nghĩ gì về hành động của Trung Quốc khi đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng
biển chủ quyền của Việt Nam.
Dạng 2. Có thể nêu nhận định, đánh giá về sự kiện, nội dung hoặc nhân vật lịch
sử và yêu cầu HS bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình về vấn đề đó.
Ví dụ: Em đánh giá như thế nào về vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến
với chiến thắng Điện Biên Phủ
Dạng 3. Yêu cầu rút ra quy luật, bài học lịch sử và yêu cầu HS giải thích, bình
luận, đánh giá.
Ví dụ: Phân tích bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong
những bài học đó, bài học nào Đảng ta có thể vận dụng để giải quyết vấn đề biển
đảo hiện nay?
Dạng 4. Cho phép HS được lựa chọn sự kiện, nhân vật lịch sử yêu thích nhất
trong một giai đoạn lịch sử, một chuỗi các sự kiện được học để trả lời, nhưng
phải lý giải tại sao lại chọn sự kiện, nhân vật lịch sử đó.
Ví dụ: Phân tích những thắng lợi quân sự quyết định bước ngoặc của cuộc kháng
chiến chống Pháp. Trong những thắng lợi đó em thích thắng lợi nào? Tại sao?
* Một số ví dụ tổ chức thảo luận nhóm trong chương trình Lịch sử 9 nhằm
Sau khi giải thích khái niệm: Thế nào là xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của
CNXH, GV nêu câu hỏi thảo luận:
Câu 1 (Nhóm 1, 2): Liên Xô xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật trong hoàn cảnh
nào?
Câu 2 (Nhóm 3, 4): Hoàn cảnh đó có ảnh hưởng gì đến công cuộc xây dựng XHCN
ở Liên Xô?
Tương tự như phần trên, giáo viên có thể cho học sinh thảo luận trong 5 phút,
sau đó các nhóm báo cáo kết quả và nhận xét chéo trong cùng câu hỏi. Giáo viên đưa
ra đáp án, khái quát nội dung và nhận xét kết quả thảo luận của các nhóm.
Đáp án: Các nước tư bản phương Tây luôn có âm mưu và hành động bao vây
chống phá Liên Xô cả về kinh tế chính trị và quân sự. Liên Xô phải chi phí lớn cho
quốc phòng, an ninh để bảo vệ thành quả của công cuộc xây dựng CNXH.
Về kinh tế: Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp, đứng hàng thứ hai thế
giới (sau Mĩ), một số ngành vượt Mĩ.
Về khoa học kĩ thuật: Các ngành khoa học kĩ thuật đều phát triển, đặc biệt là
khoa học vũ trụ.
Về quốc phòng: Đạt được thế cân bằng chiến lược về quân sự nói chung và sức
mạnh hạt nhân nói riêng so với Mĩ và phương Tây.
Hoàn cảnh đó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng cơ sở vật chất – kĩ
thuật, làm giảm tốc độ của công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô.
* Ví dụ 2:
Bài 5: Các nước Đông Nam Á
Mục III: Từ “ASEAN 6” phát triển thành “ASEAN 10”.
Sau khi tìm hiểu nội dung mục này GV cho HS thảo luận trả lời câu hỏi:
? Tại sao có thể nói: “Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, một chương trình
mới đã mở ra trong lịch sử khu vực Đông Nam Á”?
GV hướng dẫn HS tìm hiểu sự phát triển của tổ chức ASEAN.
- Từ những năm 90 của thế kỉ XX xu thế nổi bật là mở rộng thành viên của tổ
gì “đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”, bởi Nhật tuy là một nước “đồng chủng da
vàng” nhưng cũng là một nước đề quốc.
Các nhà yêu nước chống Pháp là các sĩ phu phong kiến, mong muốn của họ là
giải phóng dân tộc, thiết lập lại chế độ phong kiến hoặc đi theo con đường dân chủ tư
sản. Còn Nguyễn Ái Quốc lại đi theo con đường cách mạng vô sản.
Câu hỏi TL: Việc Nguyễn Ái Quốc đọc luận cương của Lê-nin có ý nghĩa thế
nào?
Luận cương của Lê-nin giúp Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước giải
phóng dân tộc- con đường cách mạng vô sản
GV đọc đoạn tư liệu nói về cảm xúc của Người khi đọc luân cương:” Luận
cương của Lê-nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao. Tôi
vui mừng đến phát khóc lên ngồi 1 mình trong phòng mà tôi nói to lên như đang nói
trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết
cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
* Ví dụ 5:
Bài 17: Cách mạng Việt Nam khi Đảng Cộng sản ra đời
Mục III: Việt Nam Quốc dân Đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái
GV giới thiệu sự ra đời của Việt Nam quốc dân đảng ngày 25-12-1927.
GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm về hoàn cảnh ra đời của Việt Nam Quốc dân
Đảng.
HS trình bày kiến thức hiểu biết của mình. Nhóm khác nhận xét bổ sung. GV kết
luận:
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào dân tộc dân chủ trong nước; bên ngoài các
trào lưu tư tưởng mới thâm nhập vào rất mạnh mẽ, ảnh hưởng của Cách mạng Tân
Hợi ở Trung Quốc với chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã dẫn đến sự ra đời
của Việt Nam Quốc dân đảng.
*Ví dụ 6:
Bài 20: Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939
sức mạnh toàn dân, phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng.
- Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng ta đã lịnh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị và khởi nghĩa
từng phần, khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị, chớp thời cơ tiến tới Tổng khởi
nghĩa.
- Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng để ngày càng vững mạnh về tổ
chức, tư tưởng chính trị, đủ năng lực và uy tín để lãnh đạo cách mạng thành công.
* Những bài học cần vận dụng trong thời kì hiện nay:
- Bài học về vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn Việt Nam
- Bài học về tập hợp lực lượng, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Bài học về kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, chớp thời cơ
chống lại các thế lực thù địch
- Bài học về đấu tranh, xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh…
* Ví dụ 8:
Bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc
(1953 – 1954)
Thảo luận hình thức trò chơi: chia 2 đội, mỗi đội 3 em, thi xem đội nào hoàn
thành nhanh hơn bảng thống kê bằng cách chọn dán các mốc thời gian và sự kiện có
ý nghĩa chiến lược của quân dân ta trên các mặt trận quân sự, chính trị trong kháng
chiến chống Pháp từ thu đông 1950 đến đông xuân 1953 - 1954. (GV chuẩn bị 2
bảng thống kê trống và các mốc thời gian, sự kiện…, có cả những sự kiện không phù
hợp yêu cầu của câu hỏi). HS thảo luận chọn những sự kiện theo yêu cầu để hoàn
thiện bảng thống kê.
Thời gian
Sự kiện
6/1950
TƯ Đảng và chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới
12/1953
với trang bị hiện đại
- Âm mưu : Chống lại phong trào cách - Âm mưu : Đàn áp cách mạng miền
mạng của nhân dân ta, tiếp tục duy trì chế Nam, tiến hành phá hoại miền Bắc, nhằm
độ thực dân kiểu mới ở miền Nam.
cứu quân ngụy khỏi tan rã sau thất bại của
« Chiến tranh đặc biệt », tiếp tục giữ miền
Nam dưới ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân mới.
*Ví dụ10 :
Bài Tổng kết lịch sử thế giới từ sau năm 1945 đến nay
Câu hỏi thảo luận : Có nhận định cho rằng : ‘ Hòa bình, ổn định và hợp tác phát
triển vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với Việt Nam’. Hãy cho biết ý kiến về
nhận định trên.
- Về thời cơ : Nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí, thị trường rộng lớn,
sự phân công lao động xã hội... tạo cơ hội cho Việt Nam. Chúng ta có thể mở rộng
quan hệ hợp tác hữu nghị, tận dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật và các nguồn
lực khác của thế giới, nhanh chóng đưa đất nước ta tiến lên kịp với thời đại.
- Thách thức : Thách thức lớn nhất của chúng ta là trình độ lực lượng sản xuất
còn thấp kém. Ngoài ra còn có âm mưu diễn biến hòa bình, nguy cơ chệch hướng xã
hội chủ nghĩa, nguy cơ suy thoái đạo đức, đánh mất bản sắc dân tộc. Tình trạng ô
nhiễm môi trường, bệnh tật, tai nạn giao thông...
IV. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN MANG LẠI
- Qua quá trình thực hiện việc dạy - học theo phương pháp thảo luận nhóm ở
chương trình lịch sử lớp 9 nói riêng và chương trình lịch sử trung học cơ sở nói
chung tôi thấy nếu giáo viên biết xây dựng, lựa chọn các tình huống có vấn đề và
biết sử dụng đúng thời điểm thì phương pháp thảo luận nhóm sẽ mang lại hiệu quả
rất cao, phát huy được cao độ tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, giúp các
em nhớ lâu, hiểu kỹ và tìm được các mối liên quan giữa các sự kiện lịch sử cùng
tiêu cụ thể của bài, giáo viên còn phải dự kiến kế hoạch hoạt động của thầy và trò,
xác định xem đơn vị kiến thức nào thích hợp với phương pháp thảo luận nhóm với kĩ
thuật khăn phủ bàn hoặc sơ đồ tư duy và nếu áp dụng thì nên lựa chọn kiểu nhóm
nào? Trong thời gian bao lâu? Phối hợp với những phương pháp nào?...
- Giáo viên cần phải chuẩn bị kĩ các câu hỏi, phiếu học tập, các tình huống và
cả các câu hỏi gợi mở nếu cần để khuyến khích học sinh suy nghĩ. Bên cạnh đó cũng
cần phải có kế hoạch chia nhóm cho phù hợp với nội dung kiến thức. Đặc biệt là
phải giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm đảm bảo tất cả các em đều phải làm việc
và làm việc một cách tích cực.
- Là người tổ chức, thiết kế, giáo viên phải quản lý, giám sát giúp đỡ hoạt động
thảo luận của học sinh. Phát hiện kịp thời những nhóm hoạt động không hiệu quả để
uốn nắn, điều chỉnh, cũng như động viên khuyến khích khen ngợi những nhóm tích
cực để tạo không khí học tập cởi mở, tự tin của học sinh.
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà một cách chu đáo để chủ động trong
việc tham gia hoạt động nhóm.
2. Đối với học sinh
- Để thảo luận nhóm có hiệu quả cần phải chuẩn bị bài kĩ càng theo hướng
dẫn của giáo viên trước khi vào học bài mới. Bởi có chuẩn bị bài học sinh mới có
tâm thế tự tin tham gia vào nhóm học tập của mình.
- Khi tham gia vào hoạt động thảo luận nhóm, cần chú ý lắng nghe sự hướng
dẫn của giáo viên, thực hiện tốt nhiệm vụ mà giáo viên giao cho, tham gia tích cực
vào hoạt động của nhóm, chú ý lắng nghe người khác phát biểu và cũng sẵn sàng đưa
ra ý kiến của mình, hợp tác thân thiện để nhanh chóng thống nhất ý kiến với toàn
nhóm.
Như vậy tổ chức dạy học theo nhóm theo đúng yêu cầu đổi mới là một trong
những hình thức thực hiện tốt nhất việc dạy học lịch sử phát huy tính tích cực và
tương tác của HS đặc biệt với HS lớp 9. Với hình thức này, học sinh được chủ động
học tập, chiếm lĩnh và làm chủ kiến thức, các em được lôi cuốn vào các hoạt động
học tập, được say mê tìm tòi và ngày càng trở nên yêu thích môn học hơn. Tác dụng
của phương pháp thảo luận nhóm là rất to lớn, không thể phủ nhận. Tuy nhiên không
Trần Thị Hiệp
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN GIAO THỦY
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Giao Thủy xác nhận: Sáng kiến kinh nghiệm
“Nâng cao chất lượng hoạt động nhóm trong dạy học bộ môn Lịch sử lớp 9 ở
trường THCS theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của tác giả Trần Thị
Hiệp xếp loại xuất sắc cấp huyện, đủ điều kiện dự thi cấp tỉnh./.
TRƯỞNG PHÒNG:
Mai Tiến Dũng
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Lịch sử - NXB Giáo dục
2007
2/ Tư duy học sinh tập 1- NXB Giáo dục Hà Nội
3/ Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại – NXB Giáo dục Hà Nội năm 1999
4/ Sách giáo viên, sách giáo khoa lịch sử 9…
5/ Việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông - Tạp chí Giáo viên và nhà
trường số 32
6/ Các tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn lịch sử.
7/ Hướng dẫn thực hiện theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử Trung học cơ sở
của Bộ Giáo dục và Đào tạo. NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009.
8/ Tài liệu tập huấn giáo viên. Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ
năng trong chương trình Giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo.Hà Nội
năm 2010. 9/ Phương pháp dạy học lịch sử – NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2003