SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG TRUNG CẤP CÔNG NGHỆ VÀ TRUYỀN THÔNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
TÊN SÁNG KIẾN:
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH,
BIÊN SOẠN GIÁO TRÌNH DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG
TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP CÔNG NGHỆ
VÀ TRUYỀN THÔNG NAM ĐỊNH
Tác giả:
HOÀNG VĂN QUYỀN
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
Chức vụ:
Hiệu trưởng
Nơi công tác: Trường trung cấp Công nghệ
và Truyền thông Nam Định
Nam Định, năm 2015
2
1. Tên sáng kiến: Biện pháp chỉ đạo xây dựng chương trình, biên soạn
giáo trình dạy nghề phổ thông tại trường trung cấp công nghệ và truyền thông
Nam Định.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong giảng dạy nghề phổ thông
gồm các nghề: Quay phim, dựng phim; Dẫn chương trình.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2014-2015.
hình thức khuyến khích nên không quy định trong chương trình giáo dục phổ
thông. Theo các văn bản của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động
giáo dục nghề phổ thông là một hình thức, là con đường chủ yếu của công tác
hướng nghiệp. Điều này đòi hỏi cán bộ quản lí trường học và giáo viên dạy
nghề phổ thông phải hiểu rõ và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ, nội
dung giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục nghề phổ thông để từ đó
giúp học sinh có thêm cơ sở cần thiết trong việc chọn hướng học, ngành học,
chọn nghề phù hợp với hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu lao
động của xã hội. Tuy nhiên, thực tế tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông
trong những năm qua cho thấy, yêu cầu giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động
này hầu như chưa được cán bộ quản lí trường học và giáo viên dạy nghề phổ
thông nhận thức đầy đủ nên chưa được quan tâm thực hiện đúng mức. Sự đầu tư
về mọi mặt cho hoạt động giáo dục nghề phổ thông còn nhiều bất cập so với yêu
cầu thực tế. Việc tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông còn mang nặng
tính hình thức, phong trào, ít chú ý tới hiệu quả giáo dục hướng nghiệp nên chưa
đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp đã được xác định
trong các văn bản của Chính phủ và Bộ Giáo dục & Đào tạo.
4
Để đổi mới công tác dạy nghề phổ thông Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ
đạo tại công văn số 3119/BGDĐT-GDCN ngày 17/6/2014 về việc hướng dẫn
phối hợp để thực hiện giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho học
sinh phổ thông. Thực hiện chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh
Nam Định có công văn số: 1157/SGDĐT ngày 22/9/2014 về việc phối hợp tổ
chức giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh trung
học.
Theo các văn bản của Chính phủ và chỉ thị, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT,
việc tổ chức dạy NPT ở cấp THCS, THPT nhằm tạo điều kiện, cơ hội cho học
sinh được thực tập làm quen với một số nghề, đồng thời trang bị cho học sinh
Truyền thông Nam Định (CNTT).
Trải qua hơn 35 năm xây dựng và trưởng thành, trường trung cấp CNTT
Nam Định đã có sự chuyển biến rõ nét. Quy mô giáo dục ngày một phát triển.
Chất lượng giáo dục toàn diện các ngành nghề được giữ vững, chất lượng giáo
dục mũi nhọn được nâng cao. Đội ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý giáo
dục, có sự phát triển về số lượng và chất lượng.
Thuận lợi:
Theo các văn bản của Chính phủ và chỉ thị, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT,
việc tổ chức dạy NPT ở cấp THCS, THPT nhằm tạo điều kiện, cơ hội cho học
sinh được thực tập làm quen với một số nghề, đồng thời trang bị cho học sinh
các kiến thức, kĩ năng lao động cần thiết trong lĩnh vực nghề phổ biến, cần phát
triển ở địa phương, đất nước và phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học. Trên cơ
sở đó, góp phần định hướng nghề nghiệp và chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc
sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu
cầu của xã hội. Nói cách khác, việc tổ chức dạy học NPT nhằm mục đích chủ
yếu là giáo dục hướng nghiệp (GDHN), góp phần định hướng nghề nghiệp và
phân luồng hợp lí học sinh sau THCS, THPT.
Từ năm học 2013-2014 đến nay, Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm
cơ sở vật chất trường học, tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên nâng cao trình độ
chuyên môn và có chế độ bồi dưỡng lý luận chính trị. Giáo dục của trường luôn
kế thừa và phát huy những kết quả đáng khích lệ của những năm trước góp phần
khích lệ giáo viên và học sinh phấn đấu vươn lên.
6
Giáo dục nghề nghiệp nói chung, dạy nghề phổ thông trong các nhà trường
trong những năm gần đây đã được Đảng và nhà nước quan tâm, Bộ GDĐT chỉ
đạo thường xuyên, bài bản. Các tỉnh nói chung, tỉnh Nam Định nói riêng đã có
các trung tâm Hướng nghiệp Dạy nghề bên cạnh đó các trường THPT hầu hết đã
có biên chế giáo viên dạy môn công nghệ.
hiện đại hóa của đất nước.
- Huy động mọi nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất và xây dựng trường học
theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.
- Làm tốt công tác điều tra cơ bản về nhu cầu học nghề, tuyên truyền động
viên, có chính sách động viên, khuyến khích với học sinh gia đình khó khăn có
thành tích cao trong học tập. Đầu tư cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho học sinh
học tập tốt nhất.
- Đầu tư xây dựng mới, sửa chữa cải tạo, đầu tư trang thết bị hiện đại nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tăng cường công tác giáo dục
đạo đức, giáo dục truyền thống. Đổi mới công tác giảng dạy học, tăng cường sử
dụng đồ dùng dạy học hiện đại. Sử dụng hiệu quả các thiết bị đồ dùng dạy học.
- Tăng cường công tác đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề phổ thông nói
riêng, tiếp tục phát huy thế mạnh các ngành, nghề có nhiều thiết bị, lực lượng
giáo viên có nhiều kinh nghiệm, trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Tiếp tục điều
tra nhu cầu của người học và định hướng các ngành nghề của xã hội để đi trước
đón đầu xây dựng chương trình, tài liệu tổ chức tuyển sinh và giảng dạy.
- Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng giáo viên. Đặc biệt quan tâm đến việc nâng
cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng thường xuyên, tự học, tự bồi dưỡng. Tạo
điều kiện thuận lợi để cán bộ, giáo viên tham dự các khóa đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ.
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị hiện đại trong nhà trường. Chú trọng
thiết bị phục vụ việc đổi mới chương trình và chương trình công nghệ thông tin
trong trường học.
- Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng các phòng học bộ môn, phòng
học thực hành, phòng chức năng, thư viện, nhà giáo dục thể chất đạt chuẩn.
8
- Thực hiện nghiêm quy chế dân chủ, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng
hướng học tiếp THPT, có thể là THPT công lập hoặc dân lập. Tỉ lệ HS đăng kí
thi vào các trường nghề, từ cao đẳng nghề đến sơ cấp nghề còn thấp, mặc dù
hiện nay Nhà nước đang có chính sách hỗ trợ cho các trường nghề rất tốt. Sự
phân luồng không hợp lí này kéo dài đã gây ra tình trạng “thừa thày, thiếu thợ”
trong nguồn lực lao động ở nước ta. Đó là chưa kể tới tình trạng nhiều em chọn
ngành, nghề không đúng với sở thích, khả năng, giá trị nghề nghiệp của bản
thân, dẫn đến hậu quả là sau 4-5 năm học tập ở trường đại học, tốt nghiệp ra
trường không thể tìm kiếm hoặc tự tạo được việc làm, phải xin làm những công
việc không cần đến trình độ đại học hoặc làm trái ngành nghề được đào tạo.
Điều này đã gây ra lãng phí không nhỏ cho bản thân các em, gia đình các em và
nguồn lực lao động của đất nước. Cùng với tình trạng trên, gần 60% HS cấp
THPT không thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và gần 20% HS học xong
cấp THCS không học tiếp lên THPT đã tham gia ngay vào cuộc sống lao động
sản xuất trong nhiều lĩnh vực, trong đó chủ yếu là lĩnh vực nông nghiệp. Các em
thường tham gia lao động phổ thông như những người lao động bình thường.
Nhiều em rất lúng túng trước cuộc sống lao động thực tế, không định hướng
được con đường nghề nghiệp cho bản thân. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng
trên là do trong những năm qua, công tác giáo dục hướng nghiệp chưa được
quan tâm đúng mức. Hiệu quả của các hình thức giáo dục hướng nghiệp, trong
đó có hoạt động giáo dục nghề phổ thông (HĐGDNPT) còn thấp, chưa đáp ứng
được mục tiêu giáo dục hướng nghiệp (GDHN)1.
Để khắc phục, một trong những biện pháp hữu hiệu cần được thực hiện
ngay, đó là cải thiện hiệu quả của HĐGDNPT vì đây là một hình thức hướng
nghiệp quan trọng, chủ yếu trong các hình thức hướng nghiệp.
Dạy nghề phổ thông trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo của
ngành GDĐT giao cho trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề của tỉnh thực hiện
ngoài ra còn được giao cho giáo viên công nghệ của các trường THPT giảng dạy
với các nghề như Điện dân dụng, thêu, nấu ăn, ...
khả năng hướng dẫn được hoặc những nội dung thực hành thường được ra trong
đề thi hàng năm. Những nội dung về hướng nghiệp hầu như rất ít được tích hợp,
lồng ghép vào nội dung các bài học. Các phương pháp dạy học tích cực ít được
giáo viên vận dụng vào quá trình dạy nghề nên các giờ dạy học NPT thường
thiếu tính hấp dẫn, không thu hút được sự quan tâm, chú ý của HS.
- Mục đích tham gia học NPT của hầu hết HS không rõ ràng. Đa số các em
đăng kí học NPT theo yêu cầu của nhà trường và các bạn. Nhiều em tham gia
11
học NPT với mục đích là được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốt nghiệp
THPT hoặc điểm thi vào cấp THPT. Các em tham gia học NPT nhưng ít quan
tâm đến việc tìm hiểu nghề, tìm hiểu sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản
thân, chỉ chú tâm vào những nội dung lí thuyết và thực hành trọng tâm của
chương trình để thi nghề đạt kết quả cao. Trong quá trình học nghề, HS ít đào
sâu suy nghĩ, thiếu sự chủ động vận dụng những trải nghiệm của bản thân vào
quá trình tìm tòi, khám phá, tìm hiểu kiến thức, kĩ năng nghề. Hoạt động thực
hành chủ yếu là làm theo hướng dẫn của giáo viên, ít có sự sáng tạo và kiểm
nghiệm thực tế. Do vậy, chẳng những các kiến thức, kĩ năng nghề các em lĩnh
hội được nhanh chóng bị “rơi rụng” mà bản thân các em vẫn rất lúng túng trong
việc chọn hướng đi tiếp theo cũng như lựa chọn ngành nghề phù hợp với sở
thích, khả năng của bản thân. Việc chọn nghề theo ý kiến của cha mẹ, bạn bè và
trào lưu chung vẫn phổ biến.
- Số nghề được dạy tại các trường THCS, THPT thường chỉ bó gọn trong 34 nghề mà nhà trường có giáo viên và trang thiết bị để dạy như nghề điện dân
dụng do giáo viên vật lí đảm nhận; nghề làm vườn, nghề trồng rừng, nghề trồng
lúa do giáo viên Sinh vật và những giáo viên chưa có đủ số giờ quy định dạy;
nghề tin học văn phòng do giáo viên Tin, giáo viên Toán dạy… Do vậy, HS ít có
điều kiện lựa chọn nghề để học phù hợp với sở thích, khả năng của bản thân và
phù hợp với xu hướng phát triển nghề nghiệp ở địa phương, xã hội. Điều này
dẫn đến tâm lí học nghề phổ thông của nhiều em không thoải mái, các em không
máy, nghề nuôi cá, nghề trồng rừng, nghề làm vườn, nghề thêu tay, nghề cắt
may, nghề nấu ăn, nghề tin học văn phòng, nghề điện tử dân dụng và 10 bộ tài
liệu cho HS, giáo viên (nghề điện tử dân dụng chưa có tài liệu). Các trường
THPT muốn dạy thêm nghề khác phải xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu
và được cấp trên phê duyệt. Còn ở cấp THCS thì có nhiều nghề hơn do được dạy
tất cả các nghề trong danh mục nghề phổ thông (75 tiết) được ban hành từ năm
1992 và những nghề truyền thống của địa phương. Trong tất cả các chương trình
và tài liệu NPT đã ban hành, chưa có hướng dẫn cụ thể việc thực hiện GDHN
qua HĐGDNPT, chủ yếu tập trung vào kiến thức, kĩ năng kĩ thuật của nghề. Chỉ
có bài cuối trong chương trình là bài tìm hiểu nghề - 3 tiết có đề cập tới các đặc
điểm, yêu cầu của nghề; thông tin về thị trường lao động của nghề và vấn đề đào
tạo nghề. Những nội dung này được đưa vào tài liệu từ cách đây gần chục năm
13
nên thiếu tính cập nhật. Do vậy, giáo viên thiếu cơ sở cũng như định hướng để
tiến hành GDHN qua các bài dạy trong chương trình.
Trong thời gian vừa qua việc giảng dạy nghề trong các trường trung cấp
chuyên nghiệp nói chung, trường trung cấp Công nghệ và Truyền thông nói
riêng được thực hiện với một số nghề trình độ TCCN và một số nghề trình độ sơ
cấp diễn ra theo sự chỉ đạo của Sở LĐ-TB&XH. Đối với dạy nghề phổ thông thì
không được sự cho phép của Bộ GDĐT, Sở GDĐT nên các trường TCCN mặc
dù có đủ điều kiện để thực hiện tốt song chưa được tham gia giảng dạy.
Các trường TCCN không tham gia giảng dạy NPT dẫn đến:
Lãng phí cơ sở vật chất của trường, sức lao động của các giáo viên đặc biệt
còn có thể dẫn đến công tác dạy nghề phổ thông không đạt kết quả như mong
muốn.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành văn bản 3119/BGDĐT-GDCN
ngày 17/6/2014 về việc hướng dẫn phối hợp để thực hiện giáo dục hướng
Nghề tin học văn phòng
Nghề điện tử dân dụng.
- Thứ hai: Các trường TCCN, các trường có đào tạo trình độ TCCN tham
gia giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học để các
em có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn, phong phú hơn với các nghề truyền thống
cũng như các nghề mà nhu cầu tuyển dụng của các thị trường lao động trong và
ngoài nước đang có nhu cầu tuyển theo tinh thần công văn 3119/BGDĐTGDCN ngày 17/6/2014 về việc hướng dẫn phối hợp để thực hiện giáo dục hướng
nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông của Bộ Giáo dục và
Đào tạo. Tác giả đã tổ chức, chỉ đạo xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu
dạy nghề phổ thông với các nghề Nhà trường có thế mạnh và có thể tổ chức
giảng dạy tốt mà không có trong danh mục các nghề (11 nghề) theo quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Với phương án nêu trên tác giả đã đưa ra “biện pháp xây dựng chương
trình, biên soạn giáo trình giảng dạy nghề phổ thông tại trường trung cấp công
15
nghệ và truyền thông” với các nghề mà nhà trường có thế mạnh và tổ chức triển
khai dạy nghề theo danh mục NPT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và các
nghề do Nhà trường xây dựng,
3.1. Kế hoạch xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình: Qua khảo sát
các học sinh THPT một số trường như THPT A Nghĩa Hưng, THPT B Nghĩa
Hưng, THPT Trần Văn Lan ... về các nghề: Nghề dẫn chương trình, Nghề quay
phim dựng phim. Sau khi tổng hợp ý kiến của học sinh và các ý kiến phân tích
của Hội đồng đào tạo nhà trường, tác giả đã ban hành các quyết định, chỉ đạo tổ
chức xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình giảng dạy nghề phổ thông:
+ Nghề dẫn chương trình
+ Nghề quay phim dựng phim
3.2. Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình.
Chuẩn bị:
b) Biên soạn giáo trình:
Xác định vị trí, ý nghĩa vai trò, mục tiêu cụ thể, số lượng bài/chương của
môn học; nội dung chính, kiến thức cần thiết, các bước thực hiện công việc,
các bài tập để hình thành kỹ năng, đánh giá kết quả học tập theo
bài/chương môn học; biên soạn giáo trình môn học; hướng dẫn giám sát
biên soạn giáo trình; xin ý kiến chuyên gia về giáo trình.
5. Hội thảo hoàn chỉnh dự thảo:
5.1. Hội thảo thiết kế và biên soạn chương trình
Nhóm biên soạn chương trình sau khi hoàn thiện phần dự thảo biên soạn
chương trình tổ chức Hội thảo thành phần mời dự hội thảo là các chuyên gia về
giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô giáo lão thành có nhiều kinh
nghiệm trong giảng dạy ngành học này.
5.2. Hội thảo biên soạn giáo trình
17
Nhóm biên soạn giáo trình sau khi hoàn thiện phần dự thảo biên soạn giáo
trình theo chương trình đã được thông qua, tổ chức Hội thảo thành phần mời dự
hội thảo là các chuyên gia về giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô
giáo lão thành có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy ngành học này.
6. Sửa chữa, biên tập tổng thể chương trình, giáo trình
Sửa chữa, biên tập tổng thể chương trình, giáo trình, sắp xếp, căn chỉnh các
mục sao cho logic.
7. Bảo vệ chương trình, giáo trình
7.1. Bảo vệ chương trình, giáo trình cấp khoa:
- Gửi dự thảo chương trình, giáo trình đến các chuyên gia giáo dục và các
giáo viên có kinh nghiệm trong khoa.
- Khoa chuyên môn tổ chức, chủ trì về nội dung để ban biên tập trình bày
trước các chuyên gia có kinh nghiệm của khoa, trên cơ sở các ý kiến đóng góp
quản lý, các giảng viên trong các trường Cao đẳng, Đại học tham gia trong hội
đồng phản biện, đánh giá bổ xung nên chất lượng chương trình, tài liệu giảng
dạy có tính thực tiễn cao, đảm bảo tính khoa học, có thể tạo thêm NPT, tạo việc
làm, định hướng chọn nghề cho các em học sinh sau khi tốt nghiệp THPT, tạo
thêm việc làm mới cho cán bộ giáo viên trường Trung cấp CNTT là trực tiếp
giảng dạy NPT ở các trường phổ thông. Các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh
và các tỉnh lân cận có thể sử dụng cho giáo viên và học sinh tham khảo trong
quá trình học nghề phổ thông.
3.3. Hiệu quả về mặt giáo dục:
Sau khi tác giả đã tổ chức, chỉ đạo xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu
dạy nghề phổ thông gồm các nghề: Quay phim, dựng phim; Dẫn chương trình;
Điện dân dụng; Điện tử dân dụng và được thông qua tại Hội đồng khoa học, đề
tài đã được triển khai ở một số trường phổ thông như: THPT A Nghĩa Hưng,
THPT B Nghĩa Hưng, THPT Trần Văn Lan, THPT Trần Hưng Đạo, ... thì các
học sinh đăng ký với số lượng lớn như:
19
*Năm học 2014-2015 đã dạy và thi, cấp chứng chỉ:
- THPT A Nghĩa Hưng 9 lớp với 352 học sinh
*Năm học 2015-2016 đang dạy:
- THPT A Nghĩa Hưng 9 lớp
- THPT B Nghĩa Hưng 8 lớp
- THPT Trần văn Lan 7 lớp
- THPT Nguyễn Khuyến 5 lớp
- THPT Quất lâm 7 lớp
- THPT Trần Hưng Đạo 1 lớp
Nhìn chung các em rất hứng thú, say mê học tập do vậy kết quả học tập tốt,
không có học sinh nghỉ học, bỏ giữa chừng.
3.4. Khả năng áp dụng:
(xác nhận, đánh giá, xếp loại)
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
21
CÁC TÀI LIỆU KÈM THEO
1, Các quyết định thành lập Hội đồng
2, Chương trình Nghề phổ thông
3, Giáo trình Nghề phổ thông
4, Phân phối chương trình các nghề
5, Các hợp đồng đã thực hiện năm học 2014-2015 và các hợp đồng đang thực
hiện năm học 2015-2016.
22