Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Năm 2012, nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang phải đối mặt với khủng
hoảng và những khó khăn rất lớn. Từ những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
tài chính đòi hỏi sự trung thực và minh bạch ngày càng cao của các thành phần
tham gia trong nền kinh tế. Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán
là công cụ không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại. Với hơn 20 năm hoạt động,
kiểm toán Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất
lượng của hoạt động kiểm toán. Ngày nay, kiểm toán đã thực sự là “quan tòa
công minh của quá khứ, người dẫn dắt cho hiện tại và người cố vấn sáng suốt
cho tương lai”.
Chu kỳ bán hàng – thu tiền là chu kỳ cuối cùng trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Không chỉ đánh giá hiệu quả của các chu kỳ
trước, chu kỳ này còn đánh giá toàn bộ hoạt động kinh doanh trong kỳ và được
xem như là chu kỳ quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng nói trên, trong thời gian thực tập tại công
ty TNHH IMMANUEL, em đã tiến hành nghiên cứu cũng như tìm hiểu thực tế
để thực hiện đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ bán hàng –
thu tiền trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán
IMMANUEL thực hiện”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là vận dụng lý thuyết về kiểm toán, đặc
biệt là kiểm toán chu kỳ bán hàng – thu tiền trong kiểm toán BCTC và xem xét
thực tiễn công tác kiểm toán của công ty TNHH Kiểm toán IMMANUEL, từ đó
rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác
Lê Thị Phương
kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán IMMANUEL thực hiện;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán
chu kỳ bán hàng - thu tiền trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán
IMMANUEL thực hiện.
Mặc dù đã cố gắng hết sức song luận văn tốt nghiệp của em không thể
tránh khỏi nhiều thiếu sót, vì vậy em kính mong sự góp ý chân thành của thầy cô
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
để luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
nhiệt tình của Ths. Đỗ Thị Thoa và các anh chị trong Công ty TNHH Kiểm toán
IMMANUEL.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm 2013
Sinh viên:
Lê Thị Phương
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
sâu sắc về chu kỳ trước hết phải nắm được các đặc điểm cơ bản của chu kỳ, đó
là:
- Mật độ phát sinh các nghiệp vụ tương đối lớn.
- Có liên quan đến các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu.
- Các chỉ tiêu dễ bị phản ánh sai lệch.
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn của
nhau, công nợ dây dưa khó đòi. Việc lập dự phòng khó đòi lại mang tính chất
chủ quan và thường dựa vào các ước đoán nên rất khó kiểm tra và có thể bị lợi
dụng để ghi tăng chi phí.
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ xảy ra theo nhiều chiều
hướng khác nhau có thể ghi tăng, ghi giảm hoặc vừa ghi tăng vừa ghi giảm theo
ý đồ của doanh nghiệp hoặc một số cá nhân.
Do những đặc điểm đó, việc kiểm toán chu kỳ này tương đối tốn kém và
mất thời gian. KTV cần quan tâm đến đặc điểm của chu kỳ và ảnh hưởng của nó
tới phương pháp kiểm toán để có thể thiết kế phương pháp kiểm toán phù hợp
với từng loại hình doanh nghiệp.
1.1.2. Chức năng của chu kỳ bán hàng – thu tiền
Chu kỳ bán hàng –thu tiền ở mỗi loại hình doanh nghiệp bao gồm những
chức năng cụ thể, không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên về cơ bản các chức
năng đó cũng giống nhau, bao gồm các giai đoạn sau:
Xử lý đơn đặt hàng của người mua: Khi nhận được đơn đặt hàng từ phía
khách hàng, doanh nghiệp xác định có chấp nhận đơn đặt hàng hay không. Cơ sở
cách hàng hóa, mẫu mã, giá cả bao gồm giá gốc hàng hóa, chi phí vận chuyển,
bảo hiểm và các yếu tố khác theo luật thuế giá trị gia tăng.
Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền bán hàng: Sau khi thực hiện các chức
năng về bán hàng và ghi sổ các nghiệp vụ cần thiết, cần thực hiện cả nghiệp vụ
thu tiền trong điều kiện bình thường và không bình thường.
Xử lý và ghi sổ các khoản giảm doanh thu hàng bán phát sinh: Các khoản
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
giảm trừ doanh thu này do khách hàng không đồng ý với chất lượng hàng hóa
dịch vụ cung cấp (như hàng lỗi, hàng hỏng, hàng không đúng qui cách…). Các
khoản giảm trừ doanh thu cần được phê duyệt bởi người có thẩm quyền và ghi sổ
kịp thời.
1.2. Kiểm toán chu kỳ bán hàng-thu tiền trong kiểm toán BCTC
1.2.1. Tầm quan trọng của kiểm toán chu kỳ bán hàng thu tiền trong kiểm toán BCTC:
Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền có ý nghĩa quan trọng, liên quan
đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh
doanh. Tính đúng đắn của chỉ tiêu doanh thu liên quan đến cả sản nghiệp thông
qua chỉ tiêu kết quả trên Bảng cân đối kế toán lẫn kết quả (lãi, lỗ) trên Báo cáo
kết quả kinh doanh. Đối với Nhà nước, xác định đúng đắn chỉ tiêu doanh thu còn
là cơ sở để xác định đúng số thuế tiêu thụ (thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt) cũng như thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà
nước. Vì vậy, kiểm toán chu kỳ bán hàng - thu tiền có ý nghĩa rất quan trọng
trong bất kì cuộc kiểm toán BCTC nào.
sở dẫn liệu cụ thể hay không:
- Sự hiện hữu: Xác minh các khoản nợ phải thu khách hàng trên sổ kế
toán có thưc sự đang tồn tại hay không.
- Sự tính toán, đánh giá: Xác minh các khoản nợ phải thu khách hàng có
được tính toán, đánh giá đúng đắn, chính xác hay không.
- Sự cộng dồn: Xác minh các khoản nợ phải thu khách hàng có được
tổng hợp – cộng dồn đầy đủ, chính xác hay không.
c) Xác minh xem việc trình bày trên BCTC có phù hợp với quy định của
chế độ kế toán và nhất quán với số liệu trên sổ kế toán của đơn vị hay không.
1.2.3. Căn cứ kiểm toán chu kỳ bán hàng-thu tiền
Các nguồn tài liệu (hay các căn cứ) cụ thể để kiểm toán rất phong phú, đa
dạng về hình thức, nguồn gốc và nội dung. Có thể khái quát về các nguồn tài liệu
(các căn cứ) chủ yếu gồm:
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
- Các chính sách, quy chế hay quy định về kiểm soát nội bộ đối với hoạt
động bán hàng và thu tiền mà đơn vị đã áp dụng trong công tác quản lý và kiểm
soát nội bộ. Các chính sách và quy chế KSNB này bao gồm các quy chế do cấp
có thẩm quyền của Nhà nước ban hành; thông thường, quy chế thể hiện dưới góc
độ quản lý; nhưng đồng thời cũng bao hàm cả góc độ kiểm soát
- Các BCTC chủ yếu có liên quan, gồm Bảng cân đối kế toán (báo cáo các
thông tin tài chính như phải thu khách hàng ngắn hạn, dài hạn; người mua trả
tiền trước và các thông tin tài chính liên quan khác: tiền, hàng hóa,...); Báo cáo
bày trên báo cáo tài chính được kiểm toán.
1.2.4. Các sai phạm thường gặp trong kiểm toán chu kỳ
bán hàng thu tiền
Chu kỳ bán hàng - thu tiền có ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu trên BCTC, do
đó chu kỳ này sẽ chứa đựng nhiều gian lận và sai sót:
a) Đối với doanh thu
Theo đặc điểm của từng doanh nghiệp: tùy theo từng đặc điểm loại hình
doanh nghiệp mà xảy ra các gian lận và sai sót khác nhau.Các công ty cổ phần
niêm yết trên thị trường chứng khoán, mục tiêu chính là giá trị của cổ phiếu cao
để thu hút nhiều nhà đầu tư. Vì vậy, ban giám đốc thường có xu hướng khai tăng
doanh thu, khi đó tiền thu được và các khoản phải thu cũng tăng, lợi nhuận tăng
và giá trị cổ phiếu cũng tăng cao. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước cũng
muốn chạy theo thành tích nên thường khai khống doanh thu. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH cũng có xu hướng ghi giảm doanh thu để
trốn thuế đầu ra và thuế thu nhập doanh nghiệp
- Doanh thu bị bỏ quên, doanh thu khai giảm hay ghi trùng các nghiệp vụ
bán hàng làm tăng doanh thu. Tuy nhiên điều này thường ít xảy ra, chỉ trong một
số trường hợp do hệ thống KSNB của doanh nghiệp quá yếu kém.
- Vi phạm tính đúng kỳ của doanh thu dẫn đến sai lệch doanh thu: Kế toán
viên ghi nhận doanh thu không căn cứ vào ngày trên vận đơn hay thời điểm hàng
hóa dịch vụ được chuyển giao cho khách hàng mà dựa trên ngày lập hóa đơn bán
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
1.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn hết sức quan trọng trong quá trình
kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao
quát được các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, phát hiện được gian
lận, các rủi ro tiềm tàng, đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành theo đúng
thời hạn. Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm các bước sau:
1.3.1.1. Chuẩn bị kiểm toán và thu thập các thông tin cơ sở về khách
hàng
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi đơn vị kiểm toán tiến hành thu nhận
khách hàng. Trên cơ sở đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện lý do
kiểm toán, đơn vị kiểm toán sẽ có đánh giá ban đầu về doanh nghiệp được kiểm
toán, từ đó lựa chọn đội ngũ nhân viên và soạn thảo hợp đồng kinh tế sao cho
phù hợp nhất.
Để thực hiện tốt một cuộc kiểm toán, KTV cần tìm hiểu về ngành nghề
kinh doanh của khách thể kiểm toán để nhận thức và xác định rủi ro tiềm tàng có
thể ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC. Bên cạnh đó, KTV cũng cần thu thập các
thông tin doanh nghiệp như: dây chuyền hoạt động, quy mô vốn, cơ cấu tổ chức,
chính sách nhân sự, chính sách kế toán và chính sách của khách hàng có liên
quan đến chu kỳ bán hàng –thu tiền, Giấy phép thành lập, các BCTC, báo cáo
kiểm toán, biên bản họp hội đồng quản trị về chính sách bán hàng, các hợp đồng
và cam kết quan trọng giữa doanh nghiệp với khách hàng.
1.3.1.2. Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Căn cứ vào các thông tin đã thu thập, KTV đánh giá rủi ro trọng yếu có
thể ảnh hưởng đến BCTC, nhằm đưa ra chiến lược kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Lê Thị Phương
Đây là bước công việc cuối cùng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Đối với chu kỳ bán hàng và thu tiền, KTV cần soạn thảo chương trình kiểm toán
cụ thể cho từng khoản mục quan trọng: Doanh thu, khoản phải thu của khách
hàng, tiền. KTV cần xác định các thủ tục cần thiết để phục vụ cho việc kiểm toán
chu kỳ bán hàng – thu tiền, bao gồm các thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích
và thủ tục kiểm tra chi tiết.
1.3.2. Thực hiện kiểm toán chu kỳ bán hàng thu tiền
1.3.2.1. Khảo sát về kiểm soát nội bộ đối với chu kỳ bán hàng – thu tiền
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
Tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng là một công việc hết sức quan
trọng trong mỗi cuộc kiểm toán. Đánh giá hệ thống KSNB và rủi ro kiểm soát
không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của KSNB mà làm cơ sở cho việc xác minh
thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ cơ bản của đơn vị. Với
mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hoạt động của hệ thống KSNB cũng
khác nhau, tuy nhiên nhìn chung KTV tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách
hàng trên hai khía cạnh: sự thiết kế của hệ thống KSNB và sự vận hành các quy
chế của hệ thống KSNB đó.
KTV sẽ thực hiện kiểm tra kiểm soát hay soát xét tính hoạt động hữu hiệu
của hệ thống KSNB trong các tình huống sau:
- Khi KTV kì vọng rằng hệ thống KSNB về bán hàng - thu tiền hoạt động
có hiệu quả.
- Chỉ thực hiện các thủ tục kiểm tra cơ bản không cung cấp đầy đủ các
đánh giá về sự biến động của doanh thu.
+ So sánh tỷ lệ hàng bán bị trả lại, các khoản giảm giá với tổng doanh thu
giữa năm nay với năm trước, giữa kỳ này với kỳ trước.
• Đối với nghiệp vụ thu tiền
+ So sánh số dư của khoản phải thu năm nay với năm trước.
+ So sánh khoản phải thu đã đến hạn thanh toán hoặc quá hạn thanh toán
năm nay với năm trước.
+ So sánh số vòng quay của các khoản phải thu năm nay với năm trước,
giữa đơn vị với số liệu của ngành.
+ So sánh tỷ lệ chi phận lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi trên
tổng doanh thu hoặc tổng các khoản phải thu trong năm nay với năm trước.
Trong khi thực hiện các so sánh, cần làm rõ tác động của các yếu tố gây sự
biến động đương nhiên đối với Doanh thu bán hàng, Phải thu khách hàng và chỉ
ra các nghi ngờ về sai phạm có thể có.
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
b) Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết nghiệp vụ bán hàng và thu tiền
Khi thực hiện kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền, KTV
tiến hành chọn mẫu nghiệp vụ để kiểm toán. Kỹ thuật chọn mẫu do KTV lựa
chọn, và thường chú ý đến những nghiệp vụ không có hợp đồng thương mại,
nghiệp vụ bán hàng cho khách hàng mới, nghiệp vụ bán hàng với số tiền lớn,
nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ hạch toán,... KTV tiến hành kiểm tra chi tiết các
để xác nhận các trường hợp thu tiền và đã sử dụng tiền bán hàng để thanh toán,
bù trừ.
Nghiệp vụ bán hàng và thu tiền đã được tính toán, đánh giá hợp lý
Các thủ tục chủ yếu :
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
-
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
Kiểm tra các thông tin là cơ sở mà đơn vị đã dùng để tính doanh thu bán
hàng xem có hợp lý và đúng đắn hay không.
• Kiểm tra về số lượng hàng bán đã ghi trên Hoá đơn bán hàng: so sánh
với số liệu tương ứng trên Hợp đồng thương mại tương ứng đã được phê chuẩn
hay trên Kế hoạch bán hàng đã được phê chuẩn và với số liệu trên chứng từ xuất
kho, chứng từ vận chuyển,...
• Kiểm tra về đơn giá hàng bán ghi trên Hoá đơn bán hàng: So sánh với giá
bán ghi trên Hợp đồng thương mại tương ứng đã được phê chuẩn hoặc trên bảng
niêm yết của đơn vị.
•Trường hợp bán hàng bằng ngoại tệ, kiểm tra tỷ giá ngoại tệ đã ghi nhận
trên Hoá đơn bán hàng.
-
Kiểm tra kết quả tính toán giá của đơn vị:
đúng nguyên tắc kế toán, đúng quan hệ đối ứng tài khoản, chính xác về số
liệu tương ứng đã ghi trên chứng từ.
Các thủ tục kiểm toán chủ yếu và phổ biến thường được áp dụng là:
-
Kiểm tra nội dung ghi chép trên chứng từ về sự rõ ràng và tính đầy đủ,
chính xác, để đảm bảo tính không lẫn lộn nghiệp vụ bán hàng và thu tiền với
nghiệp vụ không phải bán hàng và thu tiền (như thanh lý TSCĐ.
-
Tiến hành đối chiếu giữa bút toán đã ghi nhận doanh thu và thu tiền bán
hàng với từng hoá đơn bán hàng, chứng từ thu tiền hàng tương ứng về yếu tố
tương ứng.
-
Kiểm tra việc hạch toán đồng thời vào các sổ kể toán của tài khoản đối
ứng để đảm bảo các nghiệp vụ đã được ghi nhận đúng quan hệ đối ứng,...
Nghiệp vụ bán hàngvà thu tiền phát sinh phải được hạch toán kịp thời,
đảm bảo phát sinh thuộc kỳ nào phải được ghi sổ kỳ ấy.
Các thủ tục kiểm toán chủ yếu và phổ biến thường được áp dụng:
-
Tiến hành xem xét tính hợp lý trong việc chia cắt niên độ và hạch toán,
tổng hợp doanh thu bán hàng, thu tiền bán hàng của đơn vị.
- So sánh đối chiếu giữa ngày ghi nhận nghiệp vụ vào sổ kế toán với ngày
phát sinh nghiệp vụ tương ứng (ngày ghi trên hoá đơn bán hàng) để đánh giá về
kết quả kiểm toán năm trước hoặc báo cáo kiểm toán năm trước không chấp
nhận toàn phần đối với số dư các khoản phải thu khách hàng thì KTV phải xem
xét nguyên nhân và áp dụng các thủ tục kiểm toán bổ sung.
* Đối với số dư cuối kỳ:
Các khoản phải thu khách hàng trên sổ kế toán là đang thực tế tồn tại
Các thủ tục, kỹ thuật kiểm toán chủ yếu và phổ biến:
-
KTV tiến hành xin xác nhận các khoản nợ còn phải thu từ các khách
hàng – nếu có thể được. KTV yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp bảng liệt
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
kê nợ của các khách hàng, xét đoán khả năng có thể xin xác nhận và sau đó thực
hiện thủ tục gửi thư xác nhận của khách hàng.
-
Nếu không thể có được xác nhận từ khách hàng về nợ còn phải thu,
KTV cần tiến hành kiểm tra các căn cứ ghi sổ của các khoản nợ này, như hoá
đơn bán hàng, chứng từ xuất kho, vận chuyển, hồ sơ tài liệu giao hàng,... và các
chứng từ thu tiền (Phiếu thu, Giấy báo Có của ngân hàng,...).
dồn đối với từng khách hàng và tổng số dư còn phải thu.
Các khoản nợ phải thu khách hàng được trình bày trên BCTC phù hợp
với quy định của chế độ kế toán và nhất quán với số liệu trên sổ kế toán của
đơn vị
Các thủ tục, kỹ thuật kiểm toán chủ yếu và phổ biến:
- Kiểm tra thông tin trình bày trên BCTC về khoản phải thu khách hàng có
phù hợp với quy định của chế độ kế toán hay không.
- Kiểm tra tính nhất quán số liệu trên báo cáo tài chính với số liệu trên sổ kế
toán của đơn vị (đã tổng hợp) và với số liệu trên bảng cân đối thử theo thời gian
của các khoản phải thu do KTV lập.
1.3.3. Kết thúc kiểm toán chu kỳ bán hàng thu tiền
Sau khi thực hiện kiểm toán, dựa trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán đã
thu thập được, KTV tiến hành nhận định lại lần nữa ảnh hưởng của khoản mục
doanh thu, thu tiền tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. KTV có
thể sử dụng thủ tục phân tích (phân tích xu hướng, phân tích tỷ suất) để đánh giá.
Đồng thời, KTV xem xét lại các sự kiện đặc biệt ảnh hưởng đến BCTC của
doanh nghiệp sau ngày kết thúc niên độ như: khách hàng lớn nào đó bị phá sản,
mất khả năng thanh toán nợ.. để có biện pháp xử lý kịp thời.
Sau khi xem xét các khía cạnh trên, KTV đưa ra ý kiến kiểm toán về tính
trung thực và hợp lý của các khoản mục liên quan đến chu kỳ bán hàng –thu tiền.
Lê Thị Phương
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
2.1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Công ty IMMANUEL có cơ cấu tổ chức bộ máy khá hiệu quả. Theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty TNHH Kiểm toán
IMMANUEL
Phòng Giám Đốc
Các
Giám đốc
Phòng
kiểm toán
Ban
Manager 1
Phòng
Hành
Chính
Tổng
Hợp
Phòng
Luật
Trợ lý
5
Trợ lý
6
CQ47/22.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Th.s Đỗ Thị Thoa
2.1.3. Đặc điểm tổ chức quá trình kiểm toán
Ngay từ khi mới thành lập, loại hình dịch vụ của Công ty TNHH Kiểm
toán IMMANUEL rất đa dạng và thể hiện được năng lực chuyên môn qua các
hợp đồng kiểm toán. Chất lượng dịch vụ cung cấp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi
trình độ của đội ngũ nhân viên, do vậy, IMMANUEL luôn lựa chọn nhóm nhân
viên tham gia cung cấp dịch vụ được trang bị đầy đủ kĩ năng, kinh nghiệm, kiến
thức cần thiết. Mỗi cuộc kiểm toán cụ thể luôn được hướng dẫn bởi một KTV có
hiểu biết sâu rộng về ngành nghề kinh doanh.
Công ty xây dựng một hệ thống phương pháp kĩ thuật kiểm toán trên cơ sở
vận dụng Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Chuẩn mực kiểm toán quốc tế, tập
trung vào các vấn đề có mức rủi ro cao giúp các kiểm toán viên vừa tuân thủ các
Chuẩn mực kiểm toán vừa vận dụng linh hoạt các phương pháp đó vào từng cuộc
kiểm toán cụ thể.
Quy trình kiểm toán của công ty gồm các bước như sau:
Lê Thị Phương