NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA - Pdf 34

1
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

TRẦN THU HẰNG
CQ47/15.05

LUẬN VĂN CUỐI KHÓA
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM – CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA

CHUYÊN NGÀNH: NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS HÀ MINH SƠN

HÀ NỘI - 2013

Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


2
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

cam

đoan

.................................................................................................................................
ii
Mục

lục

.................................................................................................................................
iii
Danh

mục

từ

viết

tắt

.................................................................................................................................
viii
Danh

mục

các


CIC

: Trung tâm thông tin tín dụng

CP

: Cổ phần

CSTD&QLTSĐB

: Chính sách tín dụng và quản lý tài sản đảm bảo.

DN

: Doanh nghiệp

ĐTNN

: Đầu tư nước ngoài

GSTD&QLN

: Giám sát tín dụng và quản lý nợ.

HĐQT

: Hội đồng quản trị

KHCN



QLTD&ĐT

: Quản lý tín dụng và đầu tư.

RR

: Rủi ro

RRTD

: Rủi ro tín dụng

TCTD

: Tổ chức tín dụng

TMCP

: Thương mại cổ phần

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TSĐB

: Tài sản đảm bảo.

Trần Thu Hằng



7
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngân hàng là một trong những bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Cùng với
các ngành kinh tế khác, ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ,
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp đỡ
các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn, thị trường ngoại hối, tham gia thanh toán
và hỗ trợ thanh toán...
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một lĩnh vực quan
trọng, quan hệ tín dụng là quan hệ xương sống, quyết định mọi hoạt động kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân và nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn
tại, phát triển của ngân hàng. Nhưng hoạt động tín dụng mang lại nhiều rủi ro nhất
ngay cả đối với các khoản vay có tài sản cầm cố, thế chấp cũng được xác định có
hệ số rủi ro. Rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có tác động rất lớn và ảnh hưởng trực
tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng (TCTD), cao hơn nó tác
động ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Để đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và bền vững, một mặt
NHNN đã ban hành một số văn bản liên quan đến công tác quản trị rủi ro yêu cầu
các NHTM thực hiện( Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của
Thống đốc NHNN về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng: Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày
19/04/2005 của Thống đốc NHNN về tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của
NHNN), thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn
của TCTD, luật tổ chức tín dụng năm 2010( luật số:47/2010/QH12), cần có biện

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi Nhánh Đống Đa
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân
hàng thương mại.
- Phạm vi: Nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi Nhánh Đống Đa từ năm 2010 đến năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu

Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


9
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là
phương pháp phỏng vấn, điều tra nghiên cứu, thống kê, phân tích, tổng hợp và so
sánh.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân
hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi Nhánh Đống Đa.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi Nhánh Đống Đa.


thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói các
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín
dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi
vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


11
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
1.1.2.1. Căn cứ theo mục đích cho vay
Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng công nghiệp và thương mại: Là loại hình cho vay đối với các
doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Tín dụng nông nghiệp: Là loại hình cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
cá nhân.
1.1.2.2. Căn cứ theo thời hạn cho vay
Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù
đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của

Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, hoạt động tín dụng có thể
chia thành:
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng. Loại hình cho vay này thường chỉ được áp dụng đối với một
số khách hàng tốt nhất và đã có quan hệ tín dụng lâu năm với ngân hàng.
- Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu cầu khách
hàng phải có bảo đảm như thế chấp cầm cố tài sản hoặc phải có sự bảo lãnh của
người thứ ba. Loại hình cho vay này thường áp dụng đối với các khách hàng không
có uy tín cao đối với ngân hàng. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có
thêm nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
1.1.2.5. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả của khách hàng, hoạt động tín dụng có thể
chia thành:
- Tín dụng có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể
theo hợp đồng, bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ, cho vay có nhiều kỳ
hạn trả nợ.

Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


13
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

- Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Đối với loại cho vay này ngân hàng có
thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo

Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

Nước và cá nhân, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế, những người có nhu
cầu về vốn và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.3.3. Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và
ngành mũi nhọn
Trong điều kiện nước ta, Nhà Nước tập trung tín dụng để tài trợ cho các
ngành kinh tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở lôi cuốn các
ngành kinh tế khác phát triển như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí…
1.1.3.4. Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của
các doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi
tức. Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và sử dụng có hiệu
quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín
dụng, tức phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, tôn trọng các điều kiện khác đã ghi
trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải
quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng
vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
1.1.3.5. Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước
ngoài
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với
kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối
liền kinh tế các nước với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng
đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ
nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế.


Với mục tiêu là đúng hạn theo hợp đồng tín dụng nhận được đầy đủ gốc và
lãi như đã nêu ở trên, thì rủi ro tín dụng có thể được hiểu là những tổn thất tiềm
năng có thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng không có khả năng
hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng
hạn theo cam kết.
Như vậy rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả, hoặc không trả
đầy đủ, hoặc không trả đúng hạn gốc và lãi cho ngân hàng. Nói một cách khác rủi
Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


16
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

ro tín dụng là rủi ro mà bên vay trong một giao dịch không thực hiện được theo
thời hạn và điều kiện của hợp đồng làm cho người cho vay phải gánh chịu tổn thất
tài chính.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia thành các loại sau:
- Rủi ro giao dịch (Transaction rish): là một hình thức của RRTD mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay,
đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro
bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích
tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra
quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản

bản sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp:
Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách
hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong
quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp:
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu
quả của rủi ro tín dụng do ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh
trong lĩnh vực tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý
đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín
dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại:
Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt
được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ
khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực
chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.

Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


18
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

1.2.4. Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng

Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn lần đầu;
Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Các khoản nợ gia hạn tới hạn trả nợ lần đầu;

Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


19
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
+
+
+

thanh toán lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời

+
+
+


20
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam
kết này đã đến hạn.
- Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có khả
năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi.
- Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc
và lãi.
- Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản nợ
quá hạn trên 90 ngày.
- Một tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong giới hạn
cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá tỷ lệ 5% thì tổ chức đó cần phải xem xét,
rà soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chỉ tiết và thận trọng
hơn.
1.2.5. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
1.2.5.1.Nguyên nhân khách quan
Sự tác động của môi trường bên ngoài thường khó dự đoán, vượt quá tầm
kiểm soát gây ra những thiện hại lớn cho người vay và ngân hàng, bao gồm các
loại sau:
- Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…
- Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn.
- Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân
thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường.
- Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.
1.2.5.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
-

lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyęn tắc của tài sản đảm bảo là dễ
định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ.
1.2.6. Hậu quả của rủi ro tín dụng
1.2.6.1. Đối với ngân hàng
- Rủi ro làm giảm uy tín của ngân hàng.
Một khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản có là cao thì ngân
hàng đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường. Không
một ai muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn và
nợ xấu vượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều
vụ thất thoát lớn. Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao thường
được báo chí nêu lên và lan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho việc huy
động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc giảm uy tín còn
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng đó, càng làm cho hoạt động của
ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn.
-

Rủi ro làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.

Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


22
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nếu các khoản tín
dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn trong khi đó các

Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

1.2.6.2. Đối với khách hàng
Rủi ro tín dụng không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng đối với ngân hàng mà
nó còn có tác động xấu đối với khách hàng.
Đối với người gửi tiền: Khi ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng, tức là ngân
hàng không thu hồi được gốc và lãi của những khoản đã cho vay. Vốn để ngân
hàng tài trợ các doanh nghiệp lại chính là từ nguồn tiền gửi của người gửi tiền. Bên
cạnh đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng dẫn đến
khách hàng kéo đến rút tiền ồ ạt, vì vậy ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán.
Khách hàng cũng phải đối mặt với rủi ro là họ không thể thu hồi lại khoản tiền đã
gửi ngân hàng.
Đối với người vay tiền: Khi ngân hàng có rủi ro tín dụng ở mức độ cao ảnh
hưởng đến uy tín của ngân hàng, người gửi tiền tới ngân hàng sẽ ít đi và ngân hàng
sẽ phải trả cho họ một lãi suất cao đồng thời ngân hàng áp dụng chính sách thận
trọng hơn khi cho vay. Như vậy, ngân hàng sẽ hạn chế cho vay và áp dụng các điều
khoản cho vay chặt chẽ hơn, đồng thời phải áp dụng với lãi suất cao hơn để đủ bù
đắp lãi suất cao từ các khoản tiền gửi. Do đó, người đi vay sẽ gặp khó khăn trong
việc huy động vốn và phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, ảnh hưởng đến chi
phí và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với người khách hàng gây ra nợ xấu, nợ quá hạn đối với ngân hàng:
Khách hàng sẽ bị áp dụng một mức lãi suất phạt cao hơn đồng thời cơ hội để khách
hàng tìm các nguồn tài trợ sẽ giảm đi rất nhiều.
1.2.6.3. Đối với nền kinh tế
Hoạt động của ngân hàng có tính chất xã hội hoá cao, nó liên quan đến nhiều
ngành nghề. Ngân hàng thương mại được coi là trung gian tài chính quan trọng của
nền kinh tế có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với tất cả các tổ chức kinh tế và
mọi thành phần trong nền kinh tế. Do đó khi rủi ro tín dụng xảy ra có thể gây tổn

trước đó.
Việc quản trị rủi ro tín dụng là quá trình đo lường, đánh giá rủi ro trong quá
trình cho vay; theo dõi, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời để đảm bảo quyền lợi
của ngân hàng nếu có bất kỳ một sự thay đổi hoàn cảnh nào cho đến khi khoản vay
được hoàn trả. Chính sách quản trị rủi ro tín dụng có tính chất phòng ngừa, ngăn
ngừa và làm giảm những tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo
các khoản cho vay được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn.
Trần Thu Hằng

CQ47/15.05


25
Luận văn cuối khóa

Học Viện Tài Chính

1.3.2. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng
Việc quản trị rủi ro tín dụng phải được quan tâm và đáp ứng các yêu cầu sau:
– Tạo lập được một danh mục tín dụng hợp lý, có khả năng sinh lời cao, ít rủi ro và
khi cần thiết có thể chứng khoán hoá để hỗ trợ thanh khoản.
– Tạo sự chủ động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bộ phận tác nghiệp
nhằm tìm kiếm các khoản vay có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro.
– Có những quy định để thực hiện thống nhất, minh bạch các bước công việc trong
quá trình cho vay; có các quy định hợp lý về cơ cấu, tỷ lệ.
– Đảm bảo phản ảnh minh bạch, chính xác chất lượng danh mục tín dụng, trích đủ dự
phòng để bù đắp những rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay.
– Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp để phát hiện, ngăn ngừa và xử lý
kịp thời các rủi ro phát sinh đối với danh mục tín dụng.
1.3.3. Đo lường rủi ro tín dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status