LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới đất nước ta được khởi xướng từ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI và hiện nay chúng ta đang trong quá trình thực
hiện.Tại Đại hội VI Đảng đã khẳng đònh “ Việc chuyển nền kinh tế mang
tính tự cấp với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thò trường có sự quản lý Vó
mô của Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, là cần thiết để giải phóng và
phát huy các tiềm năng sản xuất của xã hội”. Sự nghiệp này đồng nghóa
với việc vực dậy và phát triển một nền kinh tế lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu
kém về nhiều mặt do đó chúng ta cần có rất nhiều vốn. Đảng và Nhà
nước đã chỉ rõ “ Nguồn vốn trong nước là chủ yếu, nguồn vốn nước ngoài
là quan trọng”, phải đi lên bằng chính đôi chân của mình, bằng nội lực của
mình là chính. Thực hiện chủ trương đó chúng ta cần phải tổ chức thật tốt
các kênh dẫn vốn mà quan trọng nhất là hệ thống Ngân hàng. Đây là hệ
thống huyết mạch của nền kinh tế giúp vốn lưu chuyển đến những nơi cần
thiết, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, để hệ thống
này có thể phát huy hết khả năng, hoàn thành tốt nhiệm vụ đó thì còn
nhiều vấn đề được đặt ra cần giải quyết trong đó có vấn đề rủi ro tín dụng.
Tín dụng Ngân hàng được coi như là“ đòn bẩy” cho sự phát triển
kinh tế, là nguồn vốn quan trọng chủ động để phát triển nguồn vốn trong
nước. Nghiệp vụ tín dụng cũng là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghóa quan
trọng quyết đònh của mỗi Ngân hàng. Giống như mọi hoạt động kinh doanh
khác, hoạt động tính dụng cũng chứa đựng những rủi ro. Do đặc thù kinh
doanh tín dụng là kinh doanh của yếu dựa trên tiền của người khác, kinh
doanh qua tay người khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng còn cao hơn rủi ro của các doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết
qủa kinh doanh của Ngân hàng, vừa phụ thuộc vào kết qủa kinh doanh của
1
doanh nghiệp. Hơn nữa, rủi ro xảy ra trong hoạt động của Ngân hàng nói
Chương III : Một số giải pháp, kiến nghò nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội.
3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI.
I. VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Khái niệm Ngân hàng thương mại :
“ Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng kinh doanh trên lónh
vực tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng mà hoạt động chủ yếu thường
xuyên của nó là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, để đầu tư, chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán”
Như vậy, ngân hàng thương mại trước hết là một trung gian tài chính
trên thò trường tài chính, làm nhiệm vụ thu hút và chuyển giao vốn giữa
người có vốn nhàn rỗi và người cần vốn để đầu tư. Trong nền kinh tế luôn
xảy ra trạng thái mất cân bằng về vốn giữa các doanh nghiệp, dân cư…Tại
một thời điểm có người thừa vốn sẽ có nhu cầu cho vay lấy lãi, lại có
những người thiếu vốn muốn có vốn để kinh doanh. Với tư cách là trung
gian tài chính, ngân hàng thương mại đứng ra thu hút mọi khoản tiền nhàn
rỗi trong xã hội để cung cấp cho nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác
nhau, làm cho đồng tiền luôn ở trạng thái vận động mang lại lợi nhuận
đồng thời góp phần điều hòa vốn cho toàn bộ nền kinh tế.
2. Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
thò trường :
4
- Nghiệp vụ thanh toán :
Các Ngân hàng mại thực hiện nghiệp vụ thanh toán thông qua việc
phát hành các công cụ thanh toán như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc,
cung cấp các dòch vụ thanh toán cho công chúng, thực hiện các dòch vụ thu
chi hộ. Để làm tốt chức năng này Ngân hàng đã tham gia vào hệ thống
thanh toán liên ngân hàng, hệ thống thanh toán bù trừ hay thông qua các
ngân hàng đại lý.
- Tham gia hoạt động trên thò trường ngoại hối :
Nghiệp vụ này xuất phát từ sự phát triển hoạt động kinh doanh theo
xu hướng hội nhập và phân công lao động quốc tế. Đồng thời, nó cũng là
động lực thúc đẩy trở lại sự phát triển của hoạt động này. Các Ngân hàng
thương mại thu được lợi nhuận từ việc mua bán ngoại tệ, kim loại quý…
trên thò trường ngoại hối trên cơ sở mua vào với giá thấp, bán ra với giá
cao. Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại còn kinh doanh trên cơ sở chên
lệch tỷ giá giao dòch ngay, giao dòch có kỳ hạn…
- Tham gia các hoạt động trên thò trường chứng khoán :
Trên thò trường chứng khoán, các Ngân hàng thương mại tham gia
với tư cách là người phát hành, người mua bán, người môi giới, người đầu
tư… trong đó chức năng môi giới của Ngân hàng rất được quan tâm thông
qua các hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các công ty, mua
chứng khoán hộ khách hàng.
6
- Cung cấp các dòch vụ khác cho khách hàng:
Lợi nhuận đem lại từ việc cung cấp dòch vụ cho khách hàng chiếm tỷ
trọng ngày càng cao trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Do đó ngân hàng
rất chú trọng tới việc đa dạng hoá các dòch vụ, nâng cao hiệu quả chất
lương phục vụ. Hiện nay, các dòch vụ của Ngân hàng rất đa dạng phong
phú từ việc bảo lãnh đến việc cung cấp các dòch vụ tư vấn tài chính, quản
lý tài sản cho khách hàng, lưu giữ và bảo quản các chứng từ, tài sản có giá,
nghiệp phải hạch toán kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng khả
năng sinh lợi… để doanh nghiệp có thể trả được lãi vay mà Ngân hàng vẫn
đảm bảo có lãi. Mặt khác, qua khâu thẩm đònh dự án vay của doanh
nghiệp, Ngân hàng chỉ quyết đònh cho vay với những đơn vò có khả năng
hoàn trả nợ và lãi vay. Vì vậy. Để được Ngân hàng cho vay vốn thì các
doanh nghiệp cần phải sắp xếp tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh sao
cho tốt nhất và sao cho tạo được lòng tin đối với Ngân hàng.
- Ngân hàng giúp cho nền kinh tế phân bổ vốn giữa các vùng
trong một quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế vùng.
Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên mà giữa các vùng thường có sự phát
triển kinh tế xã hội không đồng đều. Ngân hàng TW sẽ đứng ra điều hoà
vốn từ nơi ế thừa(không sử dụng hết) sang nơi thiếu(huy động không đủ)
đảm bảo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế vùng, xoá dần sự khác biệt
giữa các vùng trên lãnh thổ về kinh tế xã hội.
- Ngân hàng góp phần chống lạm phát và là một trong những
công cụ quản lý Nhà nước có hiệu quả, tạo nên sự ổn đònh và tăng trưởng
trong nền kinh tế.
8
- Ngân hàng là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh
tế thế giới, tạo môi trường quyết đònh phát triển ngoại thương và các
ngành kinh tế có liên quan. Ngày nay, sự phát triển kinh tế của một nước
luôn gắn liền với thò trường thế giới và Ngân hàng thương mại có vai trò
quan trọng trong việc mua bán hàng hoá giữa các nước, đồng thời nhờ
nguồn tín dụng ở bên ngoài để có thể công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước.
II. MẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG:
1. Rủi ro trong kinh doanh nói chung :
1.1.Khái niệm rủi ro kinh doanh :
nhận rủi ro, điều đó cũng có nghóa là mạo hiểm nhưng không phải là sự
liều lónh, thiếu cân nhắc.
1.2. Phân loại rủi ro :
Tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta đã phân loại rủi ro theo
những tiêu thức khác nhau.
Vào thế kỷ XIX, John Bates Clavek, học giả người Mỹ đã chia rủi ro
thành 2 loại : rủi ro tónh và rủi ro động. Cách phân loại này dựa trên cơ sở
phân biệt trạng thái tónh và trạng thái động của nền kinh tế từ đó có thể
10
phân biệt các rủi ro tónh và rủi ro động do xuất phát điểm của nó là tónh
hay động.
Có 3 cách phân biệt :
- Cách thứ nhất : dựa vào cách thức ảnh hưởng đến tài sản. Các
rủi ro tónh xảy ra khi tài sản bò hủy hoại về vật chất ( cháy, bão lụt … ) hoặc
bò chuyển giao sở hữu cho người khác bằng các hành vi phi pháp như : giả
mạo giấy tờ, ăn cắp, lừa đảo. Trái lại, các rủi ro động xảy ra khi giá trò của
một số sản phẩm hoặc một dòch vụ bò suy giảm do kết quả của quá trình
vận động của nền kinh tế : cung cầu, giá cả sản phẩm thay đổi, năng suất
lao động tăng…
- Cách thứ hai : là dựa vào mức độ ảnh hưởng. Các rủi ro tónh
thường ảnh hưởng tương đối ít đến các tài sản và thường là trong mỗi
trường hợp riêng biệt nào đó. Còn các rủi ro động thường ảnh hưởng đến
nhiều loại tài sản với mức độ nặng nề hơn.
- Cách thứ ba : là dựa vào mức độ đều đặn hay bất thường của
các rủi ro. Các rủi ro tónh thường xuất hiện đều đặn trong một giai đoạn
nào đó.Trong khi đó các rủi ro động thường xuất hiện bất thường cả về
thời gian và không gian. Ví dụ như hỏa hoạn, bão lụt thường xảy ra đều
đặn hơn ở những thời kỳ nào đó hàng năm, còn biến động giá cả thò trường
thì có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, ở đâu.
12
dễ gây thiệt hại, trước hết là đến Ngân hàng sau đó là đến toàn bộ nền
kinh tế. Có rất nhiều loại rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại, bao gồm các loại chủ yếu sau :
2.1. Rủi ro lãi suất:
Lãi suất được đònh nghóa là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê
vốn trong một thời gian nào đó. Trong Ngân hàng có 2 loại lãi suất : lãi
suất cho vay và lãi suất huy động, chúng tạo ra thu nhập và chi phí cho
Ngân hàng. Trong nền kinh tế thò trường, lãi suất là một loại giá cả luôn
biến động theo quy luật cung cầu. Rủi ro lãi suất mà Ngân hàng phải gánh
chòu là sự biến động về lãi suất làm thay đổi tiền lãi của Ngân hàng.
Chẳng hạn, lãi suất cho vay giảm trong khi lãi suất tiền gửi hoặc trái phiếu
giữ nguyên làm giảm thu nhập của Ngân hàng. Những thiệt hại do rủi ro
lãi suất gây ra làm cho chi phí nguồn vốn cao hơn thu nhập từ sử dụng vốn
làm cho kinh doanh Ngân hàng bò thua lỗ.
2.1. Rủi ro hối đoái :
Là rủi ro xảy ra khi có sự biến động giá cả ngoại tệ so với bản tệ
của Ngân hàng. Việc Ngân hàng nắm giữ các chứng khoán, các khoản vay
ngoại tệ hoặc ngoại tệ tiền mặt sẽ khiến Ngân hàng gặp rủi ro khi tỷ giá
thay đổi. Ngân hàng lỗ hay lãi phụ thuộc phụ thuộc vào Ngân hàng có tình
thế ngoại hối trường hay đoản. Khi Ngân hàng có tình thế trường một
ngoại tệ, nếu ngoại tệ đó lên giá, Ngân hàng có lãi qua đánh giá lại và
Ngân hàng lỗ khi ngoại tệ xuống giá. Ngược lại, Ngân hàng có tình thế
13
ngoại hối đoản, Ngân hàng này bò lỗ khi ngoại tệ đó lên giá và có lãi khi
ngoại tệ đó xuống giá.
2.2. Rủi ro hoạt động ngoại bảng :
Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của một
nghóa là tồn tại tiền dự trữ quá mức không sinh lãi, trong khi đến hàng
ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số tiền huy động và các chi phí nghiệp vụ
khác có liên quan, như vậy sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng.
Tình trạng này kéo dài đến một mức nào đó sẽ đẩy Ngân hàng vào hoàn
cảnh khó khăn thua lỗ hoặc thậm chí phá sản.
2.4. Rủi ro tín dụng :
Là rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng và là loại rủi ro lớn nhất và
thường xuyên nhất vì các món cho vay của Ngân hàng thương mại chiếm
tới 2/3 tổng tài sản có. Hoạt động cho vay sẽ mang lại nguồn thu nhập lớn
nhất cho các Ngân hàng thương mại nếu các khoản tín dụng được cấp ra
không gặp phải rủi ro, ngược lại các khoản tín dụng được cấp ra cũng có
thể gây nên nhiều phiền toái, tổn thất cho Ngân hàng nếu các khoản tín
dụng đó không được thu hồi cả gốc và lãi. Trong nhiều trường hợp rủi ro
tín dụng quá lớn so với vốn tự có của Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ gặp rất
nhiều khó khăn và thậm chí có thể bò vỡ nợ hoặc phá sản.
2.5. Rủi ro mất khả năng thanh toán :
Rủi ro thanh toán phát sinh khi dân chúng mất lòng tin vào Ngân hàng
hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính
trước được đòi hỏi Ngân hàng phải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn
15
mức bình thường. Trong bối cảnh đó, hầu hết các ngân hàng đều phải đối
phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy động vốn bổ sung tăng lên
một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thò trường giảm. Hậu quả là
ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp càng ngày càng
nghiêm trọng, nếu tất cả người gửi tiền đồng loạt yêu cầu chi trả toàn bộ
tiền gửi của họ thì dẫn đến Ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi
ro thanh khoản đến chỗ phải đối mặt với rủi ro phá sản.
2.6.Các rủi ro thuần túy khác :
Đó là những rủi ro do biến động của thiên nhiên gây ra như thiên tai,
ro tín dụng trung-dài hạn.
- Theo các hình thức cho vay : gồm rủi ro tín dụng thông thường,
rủi ro tín dụng chiết khấu, rủi ro tín dụng thuê mua…
- Theo các lónh vực cho vay : gồm rủi to tín dụng nông nghiệp,
rủi ro tín dụng công nghiệp, rủi ro tín dụng thương nghiệp…
- Theo thành phần kinh tế : gồm rủi ro tín dụng kinh tế quốc
doanh và rủi ro tín dụng kinh tế ngoài quốc doanh.
2. nh hưởng của rủi ro tín dụng :
17
Rủi ro của Ngân hàng thương mại tùy theo các mức độ có thể ảnh
hưởng ít hay nhiều đến bản thân ngân hàng và khách hàng, thậm chí toàn
bộ nền kinh tế.
Đối với bản thân Ngân hàng, tác hại của rủi ro tín dụng là rất rõ, nó
ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của Ngân hàng. Khi rủi ro xảy ra ở mức
độ nhỏ, Ngân hàng có thể sử dụng qũy dự phòng, vốn tự có để bù đắp, ở
mức độ này Ngân hàng chỉ bò giảm lợi nhuận kinh doanh. Nhưng nếu rủi ro
ở mức độ cao hơn, vốn tự có cũng không đủ bù đắp thì Ngân hàng có nguy
cơ phá sản. Rủi ro tín dụng còn gây ra khó khăn cho Ngân hàng đến việc
thanh toán tiền gửi đến hạn cho khách hàng. Vốn vay không may chưa thu
hồi đủ tron gkhi đến hạn Ngân hàng vẫn phải trả đủ cả gốc và lãi cho
người gửi. Như vậy, các kế hoạch chi trả của Ngân hàng đều bò đảo
lộn.Trong trường hợp đến hạn trả tiền mà Ngân hàng chưa có đủ tiền trả
cho người gửi thì Ngân hàng còn phải mất các chi phí cho việc bán chứng
khoán, vay Ngân hàng trung ương hay vay các Ngân hàng thương mại
khác… Ngoài ra, rủi ro còn làm giảm uy tín của Ngân hàng trên thò trường,
ảnh hưởng đến việc huy động vốn cũng như tác động xấu đến quan hệ với
các Ngân hàng khác.
Không dừng lại ở đó, rủi ro tín dụng còn ảnh hưởng tới toàn bộ nền
kinh tế. Ngân hàng được coi như trung tâm thần kinh của nền kinh tế và
chức với chức năng bảo đảm mà không hề kinh doanh. Tỷ lệ đóng góp của
các thành viên là 0.03% tính trên tổng số tiền gửi. Tổng số tiền đóng góp
của các thành viên có thể được dùng để mua tín phiếu kho bạc nhà nước
hoặc gửi vào một Ngân hàng thương mại có uy tín là một trong những
19
thành viên của Qũy. Tuy nhiên, việc gửi hay mua tín phiếu không nhằm
mục đích sinh lời nên qua các kỳ hạn gửi hay mua tín phiếu hết sức linh
hoạt, nó có khả năng chi trả khách hàng cả vốn lẫn lãi trong vòng 3 tuần lễ
nếu như một Ngân hàng thành viên phá sản hay thiếu khả năng thanh
khoản.
“Ngân hàng bảo lãnh” là một tổ chức được thành lập theo luật công
ty với chức năng chính là bảo lãnh các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng
nếu các doanh nghiệp không có đủ tài sản thế chấp. Nguồn thu chủ yếu
của các Ngân hàng bảo lãnh là từ lệ phí bảo lãnh và lợi nhuận từ kinh
doanh chứng khoán.
Để đủ điều kiên bảo lãnh, các doanh nghiệp đệ trình các dự án đầu
tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đến Ngân hàn g bảo lãnh.
Sau đó Ngân hàng bảo lãnh có trách nhiệm thẩm đònh xem có tính khả thi
hay không. Nếu kết thúc quá trình thẩm đònh cho kết quả tốt mà doanh
nghiệp không đủ tài sản thế chấp cho khoản tín dụng thì Ngân hàng bảo
lãnh sẽ đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp được vay vốn. Theo luật đònh,
nếu có rủi ro xảy ra Ngân hàng bảo lãnh sẽ chòu 80% giá trò tài sản thiệt
hại và Ngân hàng thương mại chòu 20%.
Theo luật Ngân hàng Đức quy đònh thì tổng mức bảo lãnh tối đa
bằng 36 lần vốn tự có của Ngân hàng, không được bảo lãnh cho doanh
nghiệp quá 1 triệu ĐM, thời hạn bảo lãnh đối với các công trình xây dựng
là 23 năm, các trường hợp khác tối đa là 15 năm. Các khoản tín dụng dùng
để mua sắm vật liệu sản xuất thì chỉ được bảo lãnh từ 35% đến 50% vốn
vay. Thông qua Bộ tài chính, Nhà nước hỗ trợ một phần vốn cho Ngân
21
khó đòi của các quỹ tiết kiệm và sau đó tìm mọi các làm tối đa hoá khả
năng thu hồi thông qua các khoản nợ thông qua việc bán trên thò trường.
Sự thành công của mô hình này đã giúp Mỹ thoát ra khỏi cuộc khủng
hoảng một cách nhẹ nhàng.
Từ kinh nghiệm của Mỹ có thể nêu một số đặc điểm chung của
AMC như sau:
- AMC là một đònh chế tài chính phi ngân hàng có mục tiêu đặc
biệt, có trách nhiệm và quyền lực đặc biệt trong việc thực hiện chức năng
mua các khoản nợ khó đòi từ hệ thống ngân hàng và xử lý các khoản nợ
khó đòi đó một cách tối ưu.
- Mục tiêu hoạt động của AMC không vì lợi ích của chính bản
thân công ty mà nhằm phục hồi lại sức mạnh cho cả hệ thống ngân hàng.
- Vai trò: AMC là một tổ chức đóng vai trò trung gian hay như
một công cụ của Chính phủ trong việc giải quyết các khó khăn của hệ
thống Ngân hàng. Nhờ có AMC, chi phí cho quá trình cải tổ hệ thống Ngân
hàng sẽ được giảm nhẹ, hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội đều được
nâng lên.
- Chức năng: AMC mua lại các khoản nợ của Ngân hàng, sau
đó tìm mọi cách để tối đa hoá khả năng thu hồi nợ thông qua các biện
pháp khác nhau như: sử dụng tài sản thế chấp để góp vốn liên doanh, liên
kết; cho thuê; sửa chữa, đầu tư làm tăng giá trò tài sản trước khi bán;
chuyển nợ thành cổ phần để tham gia vào công việc điều hành các công ty
con nợ nhằm làm cho các công ty này hoạt động có hiệu quả hơn và có
khả năng trả nợ…
Sự cần thiết phải thành lập AMC:
22
Một câu hỏi đặt ra là nếu chuyển toàn bộ số nợ khó đòi của Ngân
lý nợ trong kho AMC có thể thúc đẩy các thay đổi pháp lý cần thiết.
- Các Ngân hàng chỉ được áp dụng biện pháp duy nhất để thu
hồi nợ là bán đấu giá các tài sản thế chấp trong khia AMC có thể tối đa
hoá khả năng thu hồi nợ thông qua nhiều biện pháp.
Dù là một công cụ hữu hiệu, nhưng AMC cũng chỉ là một giải pháp
tình thế để giải quyết số nợ khó đòi quá lớn đã phát sinh. Để giải quyết
vấn đề một các căn bản các Ngân hàng vẫn phải cải tổ, nâng cao hiệu quả
các hoạt động đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Vì lý do này, AMC có
thời hạn hoạt động không dài, thông thường từ 5-10 năm. Sau khi giải
quyết xong số nợ, AMC sẽ được giải thể, hoặc cổ phần hoá hoặc sát nhập
lại với các Ngân hàng. Thời gian tồn tại của AMC càng ngắn cộng với tỷ
lệ thu hồi nợ cao chứng tỏ mức độ thành công của mô hình này.
Sau Mỹ rất nhiều nước đã áp dụng mô hình AMC, song để phù hợp
với nhiều tên gọi như y ban cơ cấu lại nợ, Ngân hàng cầu nối và có khi
giữ nguyên là Công ty quản lý tài sản.
Trung Quốc:
Ngày 20/4/1999, Trung Quốc đã quyết đònh thành lập Công ty quản
lý tài sản thí điểm đầu tiên lấy tên là Cinda để xử lý số nợ khó đòi của
Ngân hàng xây dựng Trung Quốc, một trong 4 ngân hàng quốc doanh lớn
nhất nước này. Cinda là một pháp nhân độc lập với Ngân hàng Xây dựng
có số vốn 1,2 tỷ USD do Bộ tài chính cấp và có nhiệm vụ mua lại 80% nợ
24
khó đòi của Ngân hàng Xây dựng. Cinda sẽ tăng lượng vốn cần thiết chính
bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ. Cinda bán toàn bộ số trái phiếu này cho
Ngân hàng Xây dựng (CCB) và dùng số tiền thu được để mua lại số nợ
khó đòi của CCB theo mệnh giá. Trong kế hoạch xử lý nợ của mình Cinda
nhấn mạnh việc chuyển nợ thành cổ phần của Cinda trong công ty đó. Sau
đó, Cinda sẽ có quyền can thiệp vào việc điều hành, buộc các doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh tế để có khả năng trả nợ. Như vậy,