Vấn đề ôn tập môn tư tưởng hồ chí minh - Pdf 34

Vđ1. Cơ sở hình thành tư tưởng HCM:
1/ Cơ sở khách quan:
a. Bối cảnh lịch sử ra đời tư tưởng HCM:
-

Xã hội VN thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

+ Thứ nhất, chính sách bế quan tỏa cảng, cự tuyệt mọi đề nghị cải cách của triều đình Huế
đã không phát huy được nội lực để bảo vệ và chấn hưng đất nước.
+ Thứ hai, do sự bóc lột nặng nề của cả đế quốc và phong kiến, các phong trào kháng chiến
chống Pháp nổ ra ở khắp nơi, song do không nhận thức đúng bản chất của kẻ thù, do bế tắc
về đường lối nên tất cả các phong trào đấu tranh của nhân dân ta đều thất bại.
-

Quê hương và gia đình Hồ Chí Minh:

+ Xứ Nghệ là vùng rất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, còn là vùng đất có truyền
thống xuất hiện nhiều doanh nhân, anh hùng cứu nước, đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”.
Con người nơi này có những phẩm chất nổi trội, khả năng chịu đựng gian khổ, ý chí vượt
khó cao, tinh thần hiếu học, coi trọng lễ giá, văn hóa.
+ Gia đình: sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, thương dân, chịu ảnh hưởng lớn
từ cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc – yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc. Gia đình có lễ
giáo, nề nếp. văn hóa sâu sắc chính vì thế đã có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành văn hóa
HCM.
-

Thời đại:

Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị trong bối cảnh thế giới:
+ CNTB tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn ĐQCN. Chính sách xâm chiếm thuộc địa
của các nước đế quốc đã khiến cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không còn là hành

tích cực như đường lối đức trị, coi trọng văn hóa giáo dục và đạo đức, đề cao việc nêu
gương đạo đức của người cầm quyền, coi trọng vai trò của dân. Nêu cáo triết lý nhân
sinh hành động, nhập thế hành đạo và chủ trương xây dựng một xã hội an bình, thịnh
trị, xã hội có lễ giáo có đạo đức. Bên cạnh đó, Nho giáo còn có nhược điểm là phân chia
xã hội thành đẳng cấp, yêu cầu sự phục tùng tuyệt đối của dưới đối vối trên (tam
cương), coi thường phụ nữ.
HCM đã chịu ảnh hưởng khá lớn tư tưởng của Nho giáo, Người đã sử dụng nhiều
kinh nghiệm à tư tưởng của Nho giáo về các mặt chính trị, đạo đức, văn hóa, giáo
dục nhưng đã phát triển tư tưởng đó trên cơ sở mới gắn với những nội dung mới
nhằm truyền tải những tư tưởng khoa học cách mạng của CNMLN.



Phật giáo: Là một tôn giáo triết học, HCM có tiếp thu một số tư tưởng tích cực của Phật
giáo như tư tưởng vị tha, từ bi, cứu khổ cứu nạn, bình đẳng, chất phác, yêu và sống
cùng lao động, đề cao lao động và lối sống lương thiện, gắn bó với dân với nước.



Lão giáo: Là học thuyết triết học do Lão Tử sáng lập. Đó là tư tưởng con người phải
sống từ ái, khiêm nhường, gắn bó với thiên nhiên, không tham lam, nhất là công danh
phú quý.

+ Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông cận đáy:


HCM tiếp thu tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn: Dân tộc độc lập – Dân quyền tự do
– Dân sinh hạnh phúc.



2




Nhờ có CNMLN HCM mới có được một thế giới quan và phương pháp luận khoa học,
để nhận rõ mặt tích cực và mặt hạn chế trong tư tưởng văn hóa dân tộc cũng như tư
tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây để từ đó kế thừa và phát huy nâng cao.

2/ Các nhân tố chủ quan:
-

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo kết hợp với khả năng phê phán tinh tường, sáng suốt.

-

Khả năng tiếp thu, xử lý, chuyển hóa tri thức của nhân loại, thời đại thành bản lĩnh trí
tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của cá nhân.

-

Sự khổ công học tập ở mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện hoàn cảnh, nhằm chiếm lĩnh
đỉnh cao tri thức của thời đại và kinh nghiệm đấu tranh của phong trào CM thế giới.

-

Vốn sống và năng lực hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú.

-



-

Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân.

-

Từ thực tiễn về các dân tộc bị áp bức, HCM đã khái quát một chân lý lớn của thời đại:
độc lập tự do là quyền bất khả xâm phạm của các dân tộc và đối với các dân tộc trên thế
giới thì không có gì quý hơn độc lập, tự do.

b/ Vấn đề giải phóng dân tộc:
-

Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách
mạng vô sản:



Sau khi giác ngộ CNMLN, HCM đi đến khẳng định muốn cứu nước bằng giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác con đường của CMVS. CMVN phải đi theo con
đường CMVS, phải trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới.

3




Tính chất CMVN: Theo HCM, đó là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra dưới
hình thức đấu tranh tự giải phóng.

chính, có tổ chức chặt chẽ, có đường lối và phương pháp CM đúng đắn, có mối lien hệ
mật thiết với đông đảo quần chúng nhân dân.



Từ thực tiễn của xã hội VN, HCM khẳng định: chỉ có Đảng của giai cấp công nhân VN
mới đủ điều kiện và khả năng lãnh đạo CM đi đến thành công.

-

Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân tộc (qđ sáng tạo):



HCM khẳng định CM là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, không có gì lớn mạnh
bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân, có dân là có tất cả.



CM giải phóng dân tộc phải là sự nghiệp chung của toàn thể dân chúng bị áp bức chứ
không phải sự nghiệp riêng của những người CM. Vì vây lực lượng của CM phải bao
gồm lực lượng toàn dân tộc.



Để xây dựng lực lượng toàn dân tộc phải xác định đúng vị trí, vai trò của các giai cấp,
lực lượng xã hội: giai cấp công nhân phải giữ vai trò lãnh đạo CM, giai cấp nông dân là
lực lượng CM to lớn nhất và nếu không thu phục được giai cấp nông dân thì giai cấp
công nhân không thể nắm giữ được vai trò lãnh đạo CM.


CM giải phóng dân tộc có tính chủ động, sáng tạo.



Xuất phát từ đặc điểm tình hình của CM thế giới, HCM đã khắng định: CM giải phóng
dân tộc có khả năng giành thắng lợi trước CMVS chính quốc vì: nó có động lực vô
cùng mạnh mẽ từ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc; nó là một bộ phận của CM thế giới,
được sự ủng hộ, giúp đỡ của CM thế giới; Sự tàn bạo của CNTBTD đã làm tang them
tinh thần phản kháng và đấu tranh CM của các dân tộc thuộc địa; thuộc địa là mắt khâu
yếu hơn trong hệ thống CNTB thế giới mà theo quy luật CM sẽ bùng nổ và thắng lợi ở
những mắt khâu yếu nhất trong hệ thống của CNTB thế giới.



Ý nghĩa: Về mặt lý luận, quan điểm HCM là 1 quan điểm mới, có ý nghĩa bổ sung, phát
triển lý luận của CNMLN về CM thế giới. Về mặt thực tiễn, quan điểm này có ý nghĩa
chỉ đạo quá trình CMVN, làm tang them tính chủ động, sáng tạo cho CMVN, dẫn đến
thắng lợi của CM giải phóng dân tộc của VN cũng như thắng lợi của nhiều phong trào
giải phóng dân tộc trên thế giới.

-

Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực:



HCM khẳng định tính tất yếu của BLCM nhưng phải là BLCM của quần chúng nhân
dân chứ không phải bạo lực có tính khủng bố cá nhân.



như những truyền thống lâu đời của dân tộc…, họ sẽ có thêm động lực để đứng lên đấu
tranh, hình thành nên một số lượng lớn các phong trào yêu nước.

Vđ 3. Quan điểm sáng tạo của HCM về CNXH và thời kì quá độ tiến lên XHCN ở VN:
5


1/ Tính tất yếu về CNXH ở VN:
-

CNXH ra đời xuất phát từ quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử loài
người, từ xu thế vận động tất yếu của thời đại.

-

CNXH ra đời từ sự tàn bạo của CNTBTD.

-

CNXH ra đời bắt nười từ quy luật chuyển biến CM không ngừng của CM giải phóng
dân tộc đi theo con đường CMVS.

-

CNXH ở VN ra đời xuất phát từ sự vận động tất yếu của lịch sử dân tộc, xuất phát từ
tương quan so sánh lực lượng giữa giai cấp tư sản à giai cấp vô sản trong cuộc vận động
cứu nước của giải phóng dân tộc.

2/ Luận điểm sáng tạo của HCM về đặc trưng bản chất CNXH ở VN:
-

-

Phương châm chỉ đạo: Cần phải quán triệt những nguyên lý cơ bản của CNMLN về
CNXH và thời kỳ quá độ. Có thể học tập kinh nghiệm của các nước XHCN anh em
nhưng chủ yếu phải xuất phát từ đặc điểm tình hình của đất nước, từ nhu cầu và khả
năng thực tế của nhân dân để xác định bước đi và biện pháp xây dựng XHCN cho phù
hợp.

a. Bước đi:
-

Thời kỳ quá độ phải trải qua nhiều bước, bước dài hay ngắn là do hoàn cảnh cụ thể
nhưng nói chung là phải tiến lên dần dần từ thấp tới cao, đi bước nào vững chắc bước
ấy, phải coi trọng các hình thức trung gian quá độ, không được chủ quan, nôn nóng, đốt
cháy giai đoạn trong xây dựng CNXH.

-

Bước đi cụ thể của xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ ở nước ta:



Tập trung phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu.



Tập trung ưu tiên phát triển tiểu thủ công nghiệp, CN nhẹ, thương nghiệp.
6



Thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội hài hòa, đảm bảo cho các thành phần kinh
tế, các tầng lớp xã hội đều có điều kiện phát triển.



Phương thức chủ yếu để xây dựng CNXH: “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho
dân”.



Coi trọng các biện pháp tổ chức thực hiện, phát huy nỗ lực chủ quan trong việc thực
hiện các kế hoạch kinh tế - xã hội.

Vì sao độc lập dân tộc phải đi đôi với CNXH? Vì:
-

CNXH là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc: Theo HCM, CMGPDT nhằm làm
cho “nước Nam hoàn toàn độc lập” mới chỉ giải phóng cho nhân dân ta khỏi thân phận
nô lệ. Nhưng nước độc lập rồi mà dân vẫn chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng
không làm gì. Nước độc lập nhân dân ta còn phải được giải phóng triệt để về mặt xã
hội, giai cấp, đói nghèo, ngu dốt. HCM đã chỉ rõ, sự ngiệp giải phóng này là sự nghiệp
của cuộc CM XHCN.

-

CNXH trong quan điểm HCM: (mục 2) CNXH theo tư tưởng HCM thể hiện một hệ
thống giá trị về độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, hòa bình – phản ánh khát vọng tha
thiết của loài người.

-


Xác lập, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng.

-

Thiết lập mỗi liên minh công – nông – tri thức làm nền tảng xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc.

-

Thường xuyên gắn bó CM VN với CM thế giới.

Vđ 4. Tư tưởng HCM về Đảng CSVN:
1/ Luận điểm sáng tạo của HCM về ĐCSVN:
a. ĐCSVN là sự kết tinh của CNMLN với phong trào công nhân và phong trào yêu

nước. (Sự ra đời của ĐCSVN)
-

Quy luật hình thành ĐCSVN: Sự kết tinh của CNMLN với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước. Tuân theo quy luật phổ biến sự hình thành ĐCS trên thế giới,
đồng thời có thêm một yếu tố đặc thù là phong trào yêu nước.

-

Cơ sở khách quan: VN là nước thuộc địa cho nên phong trào yêu nước có trước và là cơ
sở để phát triển phong trào công nhân.

-



-

Phong trào công nhân kết hợp được với phong trào yêu nước bởi vì 2 phong trào đó đều
có mục tiêu chung. Khi giai cấp cong nhân VN ra đời và có phong trào đấu tranh kể cả
8


lúc đầu là đấu tranh kinh tế, tự phát và sau này là đấu tranh chính trị, thì phong trào
công nhân ngay từ đầu đã kết hợp được và kết hợp liên tục với phong trào yêu nước.
Hơn nữa, chính bản thân phong trào công nhân, xét về ý nghĩa nhất định, cũng mang
nội dung của phong trào yêu nước, vì phong trào đấu tranh của công nhân không những
chống lại ách áp bức giai cấp mà còn chống lại ách áp bức dân tộc.
-

Phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân. Nói đến phong trào yêu nước
VN phải kể đến phong trào nông dân, giai cấp nông dân là bạn đồng minh tự nhiên của
giai cấp công nhân. Do điều kiện lịch sử chi phối, đầu thế kỷ XX không có công nhân
nhiều đời mà họ xuất thân trực tiếp từ người nông dân nghèo. Do đó giữa phong trào
công nhân và phong trào yêu nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giai cấp công
nhân và giai cấp nông dân hợp thành quân chủ lực của CM.

-

Phong trào yêu nước của trí thức VN là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các yếu
tố cho sự ra đời của ĐCSVN.

b. ĐCSVN là nhân tố quyết định hàng đầu để đưa CMVN đến thắng lợi. ( Vai trò của

ĐCSVN)


Xuất phát từ thực tiễn của 1 nước thuộc địa, HCM đã đi đến 1 luận điểm mới về ĐCS,
đó là “ĐCS là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động của cả dân tộc”.
Nghĩa là cần phải xây dựng 1 Đảng CS vừa là Đảng của giai cấp công nhân, vừa là
Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc.

-

Cơ sở lý luận: theo HCM, giai cấp và dân tộc là thống nhất, lợi ích của giai cấp công
nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động. Vì vậy Đảng của giai cấp công nhân
cũng sẽ đồng thời là Đảng của nhân dân lao động, Đảng của cả dân tộc.

-

Về thực tiễn: nếu ĐCS chỉ là Đảng của giai cấp công nhân, thì cơ sở xã hội của Đảng sẽ
hạn chế, Đảng không thể quy tụ, tập hợp được những người ưu tú giác ngộ CM nhất
trong toàn dân tộc, không tự thiết lập được mối liên hệ mật thiết với đông đảo quần
chúng nhân dân. Ngược lại, nếu ĐCS vừa là Đảng của giai cấp công nhân, vừa là Đảng
9


của nhân dân lao động và của cả dân tộc thì cơ sở xã hội của Đảng sẽ rộng mở, Đảng sẽ
được các tầng lớp nhân dân coi như Đảng của chính mình, nhân dân sẽ bảo vệ Đảng,
ủng hộ Đảng, tham gia xây dựng Đảng, Đảng sẽ lớn mạnh không ngừng, sẽ dẫ dắt CM
đi đến thành công.
2/ Ý nghĩa:
-

Về lý luận: Đây là luận điêm mới có ý nghĩa bổ sung, phát triển lý luận ĐCS của
CNMLN.

Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân trong
cuộc đấu tranh tự giải phóng, là nhu cầu nội tại khách quan của quần chúng nhân dân
lao động.

-

Đảng và những người CM phải ra sức tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước và
đoàn kết cộng đồng cho các tầng lớp nhân dân ở mọi nơi, mọi lúc, mọi điều kiện hoàn
cảnh, tập hợp và chuyển nhu cầu khách quan đó thành tổ chức, thành sức mạnh to lớn
để đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

c. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân:
-

Theo HCM, muốn thực hiện được đại đoàn kết dân tộc thì phải kế thừa truyền thống
yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết dân tộc; phải biết khoan dung độ lượng với con
người, kể cả những người lầm đường lạc lối khi họ biết hối cải, hoặc những kẻ trước
đây chống chúng ta nhưng nay không còn chống nữa, ta vẫn mở rộng cửa đoàn kết với
họ.

-

Theo HCM, đại đoàn kết dân tộc không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, tự phát, nhất
thời, mà phải là một tập hợp bền vững của các lực lượng xã hội có định hướng, có tổ
chức, có sự lãnh đạo dựa trên một cơ sở lý luận khoa học. Lực lượng tạo nền tảng vững
chắc cho đoàn kết rộng rãi chính là công – nông và các tầng lớp nhân dân khác. Liên
10


minh công – nông – tri thức là cơ sở, là lực lượng nòng cốt để đoàn kết toàn dân trên

lao động trí óc.



Hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ.



Đoàn kết phải lâu bề, chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ.

-

Trong quá trình đoàn kết cần chống 2 khuynh hướng là “cô độc” ,“hẹp hòi” và đoàn kết
một chiều, không đấu tranh đúng mức.

-

Trong khối đại đoàn kết, Đảng không chỉ là một bộ phận bình đẳng mà còn là lực lượng
lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc.

2/ Vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết ở nước ta hiện nay:
a. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc:
-

Thuận lợi:



Thế giới đang vận động theo chiều hướng các dân tộc trên thế giới ngày càng xích lại



Nền kinh tế thị trường cùng với quá trình nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra
nhiều vấn đề như sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng..., các hiện
tượng tiêu cực trong xã hội vẫn còn là hiện tượng tương đối phổ biến.

b. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới ở nước ta:
-

Mục tiêu chung: khơi dậy tinh thần tự tôn dt, quyết tâm chấn hưng đất nước, không bỏ
lỡ cơ hội, vận hội rửa được cái nhục đói nghèo, lạc hậu, cái nhục tụt hậu xa hơn về kinh
tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

-

Các nhiệm vụ cụ thể:



Về chính trị: cần tiếp tục phát triển tư tưởng HCM và truyền thống phương Đông về
“Cầu đồng tồn dị”, xóa bỏ dần những mặc cảm, những thiên kiến khác nhau, lấy liên
minh công - nông - trí thức làm nòng cốt, xây dựng một nước VN dân giầu, nước mạnh
xã hội dân chủ công bằng văn minh.



Về kinh tế - xã hội phải tạo cho mọi người dân một cơ hội bình đẳng về pháp luật trong
làm ăn kinh tế. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, khuyến khích làm giầu
chính đáng, đi đôi với việc giúp dân xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…


Nhà nước của dân thì dân phải có quyền bầu và bãi miễn những đại biểu thay mặt dân
tham gia vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước.

b. Nhà nước do dân:
-

Nhà nước do nhân dân lập ra.

-

Nhà nước do nhân dân xây dựng, ủng hộ, bảo vệ, phê bình và giám sát.

12


-

Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân,
lắng nghe ý kiến của dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

-

Nhà nước do dân thì dân phải có quyền bãi miễn các cơ quan Nhà nước nếu tỏ ra không
xứng đáng với sự tín nhiệm của dân.

c. Nhà nước vì dân:
-

Là Nhà nước hướng mọi hoạt động vào việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân
dân, đó là một Nhà nước không có đặc quyền, đặc lợi, thật sự cần, kiệm, liêm, chính.


-

Nhà nước tổ chức, quản lý, phát triển kinh tế theo XHCN.

b. Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc:
-

Nhà nước kiểu mới ra đời là kết quả đấu tranh lâu dài, hy sinh xương máu của bao thế
hệ CM.

-

Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng.

-

Ngay khi mới ra đời, Nhà nước ta phải đảm đương nhiệm vụ tổ chức cuộc kháng chiến
toàn dân, toàn diện của dân tộc để giữ vững thành quả CM.

3/ Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước kiểu mới:
-

Đạo đức và pháp luật là hai hình thái ý thức xã hội kết hợp, bổ sung cho nhau trong
thực tế trị nước.

-

Trong lịch sử, những người được coi là thành công trong sự nghiệp trị nước đều biết kết
hợp giáo dục đạo đức với với tăng cường pháp luật.

Người có đạo đức CM thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè,
lùi bước. Khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ được tinh thần gian khổ, vân khiêm
tốn, chất phác, thực sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

-

Muốn hoàn thành được sứ mệnh của mình thì Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”, tiên
phong, gương mẫu.

2/ Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người VN trong thời đại mới:
a. Trung với nước, hiếu với dân:
-

Trung với nước là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nước của
dân, do dân làm chủ.

-

Hiếu với dân là phải lấy dân làm gốc, phải thực hiện dân chủ, phải tôn trọng và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, phải kính trọng, học hỏi dân, hết lòng, hết sức phục vụ
nhân dân.

b. Yêu thương con người, sống có tình nghĩa:
-

Tình yêu thương con người trước hết dành cho những người cùng khổ, người lao động.

-

Nghiêm khắc với mình mà khoan dung, độ lượng với người, nhất là với những người đã

thì không nịnh hót người trên, coi khinh người dưới, luôn đoàn kết, khoan dung, độ
lượng; đối với việc thì phải đặt việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà, đã phụ
trách việc gì thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn, việc thiện dù nhỏ mấy cũng
làm, việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh.

-

Chí công vô tư: làm việc không tư lợi, chống chủ nghĩa cá nhân, là hết lòng, hết sức vì
việc nước, việc dân theo đúng với kỷ cương phép nước.

KL: Thực chất chí công vô tư là sự tiếp nối của cần, kiệm, liêm, chính bởi nếu đã thật sự
cần, kiệm, liêm, chính thì nhất định sẽ trí công vô tư và ngược lại, từ đó sẽ nảy sinh nhiều
phẩm chất tốt đẹp khác.
d. Tinh thần quốc tế trong sáng:

Đó là tinh thần “Bốn phương vô sản đều là anh em”
-

Đây là một phẩm chất đạo đức mới, dựa trên bản chất quốc tế của giai cấp công nhân,
hướng vào những mối quan hệ rộng lớn, vượt ra khỏi những khuôn khổ quốc gia, dân
tộc.

-

Tinh thần quốc tế đòi hỏi phải biết yêu thương không chỉ dân tộc mình mà cả dân tộc
khác, phải biết tôn trọng văn hóa, lối sống của dân tộc khác.

-

Yêu cầu của nguyê tắc này là phải xây dựng khối đại đoàn kết chiến đấu giữa vô sản các


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status