1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI:
ĐẦU TƯ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO
THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
GVHD
: TS. ĐINH ĐÀO ÁNH THUỶ
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
Lớp
: KINH TẾ ĐẦU TƯ F
MSV
: CQ507597
2
Hà Nội, 11 - 2011
1.2.6.1. Phát triển hệ thống giao thông vận tải bền vững, hài hoà và
bảo vệ môi trường.....................................................................................18
1.2.6.2. Quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông
.....................................................................................................................19
3
1.2.6.3. Xây dựng cơ chế chính sách đầu tư cho giao thông một cách
hợp lý .........................................................................................................19
1.2.6.4. Phát triển hệ thống giao thông công cộng đô thị ổn định, thuận
tiện..............................................................................................................20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO
THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001 - 2010......................................................................................22
2.1.1. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông đô thị..................................22
2.1.2. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn...........................24
2.1.3. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ..........................25
2.1.4. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt..........................27
2.1.5. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ.......................28
2.1.6. Thực trạng kết cấu hạ tầng hàng không..........................................29
2.2. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO
THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2010............................30
2.2.1. Quy mô và các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng
giao thông vận tải..........................................................................................30
2.2.2. Cơ cấu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải theo
nội dung..........................................................................................................34
2.2.2.1. Giao thông đường bộ...................................................................36
2.2.2.2. Giao thông đường sắt..................................................................38
2.2.2.3. Giao thông đường thủy nội địa..................................................40
2.3.2.2. Một số nguyên nhân chủ yếu.....................................................55
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
GIAO THÔNG VẬN TẢI.......................................................................................58
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO
THÔNG VẬN TẢI GIAI ĐOẠN 2011 – 2015..................................................58
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI.................................................60
3.2.1. Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư cho phù hợp với chủ trương đa
dạng hoá nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận
tải....................................................................................................................60
3.2.2. Xúc tiến việc tìm kiếm các nguồn vốn và phương thức huy động
vốn để bổ sung và hỗ trợ cho vốn ngân sách.............................................60
3.2.3. Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch, quy hoạch................61
3.2.4. Giải pháp về quản lý hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông vận tải..........................................................................................62
3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát..........................62
3.2.6. Hoàn thiện cơ chế đấu thầu và tăng cường quản lý công tác đấu
thầu.................................................................................................................63
3.2.7. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...............................................64
KẾT LUẬN..............................................................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................67
5
LỜI MỞ ĐẦU
Những thập kỳ vừa qua trong tiển trình đổi mới, nền kinh tế của nước ta đã và
đang phát triển với tốc độ cao hơn, nhu cẩu vận tải tăng nhanh đã đặt ra yêu cầu cấp
thiểt đấy mạnh phát triển hệ thống hạ tầng giao thông vận tải. Giao thông vận tải là một
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1.1. Khái niệm, vai trò của giao thông vận tải và kết cấu hạ tầng
1.1.1.1. Khái niệm và vai trò của giao thông vận tải
Khái niệm giao thông vận tải không chỉ phản ánh hệ thống các phương tiện đi lại,
mà còn hàm chứa trình độ, trạng thái giao tiếp giữa con người, sản phẩm hàng hóa ở
vùng đất này với vùng đất khác (giao lưu, giao tiếp, giao nhận hàng hóa, thông tin,
thông thương giữa các vùng...).
Vì thế, có thể định nghĩa giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập
và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân vì nó không sản xuất ra hàng hóa mà chỉ thực hiện
nhiệm vụ lưu thông hàng hóa. Đối tượng của giao thông vận tải chính là con người và
những sản phẩm vật chất do con người và các ngành sản xuất vật chất như công nghiệp
chế biến, khai thác, nông nghiệp… tạo ra.
Chất lượng của sản phẩm giao thông vận tải là đảm bảo cho việc đi lại của hành
khách được thuận tiện, an toàn, nhanh chóng; sản phẩm hàng hóa trong quá trình vận
chuyển không bị hư hại, hao hụt hay mất mát... Và do đặc điểm của giao thông vận tải
là chỉ thực hiện lưu thông hàng hóa, vì thế, sản phẩm của giao thông vận tải không thể
dự trữ hay tích lũy được mà chỉ có thể tích lũy được qua năng lực vận tải.
Giao thông vận tải là một ngành xuất hiện muộn hơn so với các ngành sản xuất
vật chất khác như công nghiệp, nông nghiệp nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng
trong khâu lưu thông, góp phần tích cực trong phát triển kinh tế xã hội, “mạng lưới
đường là một trong các nhân tố cơ bản nhất để nâng cao chức năng kinh tế khu vực” .
Đồng thời, kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả
về chất lẫn về lượng. Giao thông vận tải phát triển nhanh hơn góp phần đẩy mạnh nền
kinh tế thế giới nói chung, trong khu vực và mỗi quốc gia nói riêng phát triển nhanh
hơn và vững chắc hơn.
Ngày nay, giao thông vận tải được coi là một trong những ngành kinh tế cơ bản
và chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống
của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Giao thông vận tải giúp cung ứng vật tư, hàng hóa,
gia trên thế giới thuận tiện và nhanh chóng hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu lưu thông, đi
lại của người dân. Ngoài ra, ngành giao thông vận tải còn tạo ra hàng ngàn chỗ làm
việc vào các lĩnh vực liên quan như công nghiệp chế tạo máy, sản xuất xe, công nghiệp
đóng tàu, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống, bến bãi, nhà ga, cảng, sân
bay…) góp phần giải quyết công ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động ở đủ
mọi trình độ.
1.1.1.2. Khái niệm và vai trò của kết cấu hạ tầng
Hiểu một cách khái quát, kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật
chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo
những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng và trong
đời sống xã hội được diễn ra bình thường, liên tục như đảm bảo sự di chuyển, các
luồng thông tin, vật chất.
8
Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật,
kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một
cách bình thường.
Kết cấu hạ tầng có tính thống nhất và đồng bộ giữa các bộ phận, nó có sự gắn kết
hài hòa với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo phát huy được sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống. Các công trình kết cấu hạ tầng thường có quy mô lớn và chủ yếu
ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước, chịu ảnh hưởng nhiều của các điều
kiện tự nhiên, xã hội. Ngoài ra, kết cấu hạ tầng còn có tính chất đa dạng và thiết thực,
nó được hình thành và xây dựng với nhiều loại hình khác nhau như đường sá, cầu
cống, nhà xưởng, bến bãi… và phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên.
Với tính chất đó, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng lãnh
thổ, tạo động lực cho sự phát triển.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và thuận tiện thì nền kinh tế mới có
giảm thiểu sự bất bình đẳng trong các vấn đề xã hội.
1.1.2.2. Phân loại kết cấu hạ tầng giao thông vận tải
Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải được phân loại theo nhiều tiêu thức tùy thuộc
vào bản chất và phương pháp quản lý. Có thể phân loại theo 2 tiêu thức chủ yếu sau:
Theo tính chất và đặc điểm các loại đường:
+ Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường bộ bao gồm các loại đường quốc lộ,
đường tỉnh lộ, đường đô thị… và hệ thống các loại cầu như cầu vượt, cầu chui... cùng
những cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc vận chuyển trên bộ như bến bãi đỗ xe, tín
hiệu, biển báo giao thông, đèn đường chiếu sáng, vạch ngăn cách, vạch báo…
+ Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường sắt bao gồm các tuyến đường ray, các
nhà ga và hệ thống thôn tin tín hiệu đường sắt…
+ Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường thủy gồm hạ tầng giao thông đường
biển (hệ thống các cảng biển, cảng nước sâu và các công trình phục vụ vận tải đường
biển như hoa tiêu, hải đăng…) và hạ tầng giao thông đường sông (các cảng sông, luồng
lạch, kè bờ…).
+ Kết cấu hạ tầng hàng không gồm sân bay, đường băng…
Theo khu vực địa lý:
+ Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị gồm: các đầu nút giao thông đường bộ, đường
thủy, đường sắt, đường hàng không nối liền hệ thống giao thông nội thị và hệ thống
giao thông quốc gia, quốc tế. Và hệ thống các loại đường năm trong phạm vi địa giới
hành chính của đô thị như nhà ga, bến xa, các điểm đỗ xe…
+ Kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn chủ yếu là đường bộ bao gồm các tuyến
đường liên xã, liên thôn và mạng lưới giao thông nội đồng phục vụ sản xuất nông –
ngư nghiệp. Kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn cũng góp một phần quan trọng vào
hệ thống giao thông quốc gia, nó là điểm đầu và cũng là điểm cuối của quá trình vận
10
chuyển phục vụ sản xuất, tiêu thụ nông sản phẩm và hàng tiêu dùng cho khu vực nông
tiện và kịp thời hơn, nó liên kết các ngành và các lĩnh vực với nhau. Vì nếu chỉ quan
tâm đầu tư cho các ngành, lĩnh vực năng lượng, viễn thông, công nghiệp hoặc các cơ
sở hạ tầng xã hội mà không quan tâm xây dựng mạng lưới giao thông thì sẽ không có
sự kết nối hữu cơ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội. Kết cấu hạ tầng của nền
11
kinh tế sẽ trở nên lỏng lẻo, không liên kết với nhau và không đảm bảo được sự phát
triển bền vững.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nhằm đảm bảo cho ngành giao
thông vận tải phát triển một cách nhanh chóng; nhờ đó thúc đẩy quá trình sản xuất
hàng hóa và lưu thông hàng hóa giữa các vùng trong cả nước phát triển; khai thác và sử
dụng một cách hợp lý mọi tiềm năng của đất nước nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa. Đồng thời khi giao thông vận tải phát triển cũng thúc đẩy phát triển giao lưu
văn hóa giữa các vùng, nâng cao tính đồng bộ về đầu tư giữa các vùng trong cả nước.
Ngày nay, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và tốc độ đô thị hóa ngày
càng cao đòi hỏi phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ngày một cao hơn, do đó, đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng là một yêu cầu tất yếu đảm bảo phù hợp với xu thế phát triển
của nền kinh tế - xã hội. Sự tăng lên của dân số kết hợp với sự xuất hiện ngày càng
nhiều của các phương tiện giao thông vận tải ngày càng được cải tiến, phát triển một
cách nhanh chóng, ngày càng hiện đại nhờ vào các thành tựu của công nghệ khoa học
và kỹ thuật đòi hỏi các công trình hạ tầng giao thông vận tải như đường sá, cầu cống,
nhà ga, bến bãi… cần được đầu tư mở rộng, nâng cấp và xây dựng trên quy mô lớn
hơn, hiện đại hơn và đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với công
trình xây dựng. Có như thế mới khắc phục được những tồn tại trong vấn đề vận chuyển
và lưu thông.
Như vậy, kết cấu hạ tầng giao thông vận tải có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế xã hội của một quốc gia, nó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn
định và bền vững, đồng thời sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải cũng tạo
chuyền công nghệ và khối lượng xây dựng vì nhiều công trình có khối lượng đầu tư lớn
song lại bị thất thoát hay nguyên vật liệu để thi công không đảm bảo tiêu chuẩn, chất
lượng từ đó dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, gây thất thoát, lãng phí vốn
đầu tư. Do đó, trong quản lý hoạt động đầu tư này cần nhận diện và loại trừ đến mức
tối đa các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư.
Song bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư phát triển thì đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải còn có những đặc điểm riêng biệt của nó:
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải mang tính xã hội hoá cao và
có nhiều đặc điểm giống với hàng hoá công cộng: các thành quả của hoạt động đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải chủ yếu là các hàng hóa công cộng vì mục
đích sử dụng của nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống; là tổng hoà mục
đích của nhiều ngành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xã hội. Thời gian xây
dựng lâu, yêu cầu giá trị sử dụng lâu bền nhưng lại được mọi thành phần kinh tế tham
gia khai thác sử dụng, khó thu hồi vốn dẫn đến hiệu quả kinh tế và lợi ích trực tiếp
mang lại cho chủ đầu tư thường không cao song lại đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh
tế - xã hội. Điều này cho thấy đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải cần
phải giải quyết cả mục tiêu phát triển kinh tế và cả mục tiêu cộng đồng mang tính chất
phúc lợi xã hội. Do đó, có thể coi hoạt động đầu tư này là đầu tư cho phúc lợi xã hội,
phục vụ nhu cầu của toàn thể cộng đồng. Vì thế, nó không hấp dẫn các nhà đầu tư cá
nhân mà chủ yếu chủ đầu tư là các tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty lớn.
Vì vậy, cần tăng cường quản lý chặt chẽ các giai đoạn trong chu kỳ xây dựng, lựa
chọn dây chuyền công nghệ thích hợp, hiện đại để có các công trình đạt tiêu chuẩn và
13
chất lượng, đảm bảo an toàn cho mọi hoạt động diễn ra trong nền kinh tế - xã hội. Điều
này là rất quan trọng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam trong
điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹn cùng với đó là thu nhập của người dân vẫn còn
thấp nên không thế đáp ứng hết nhu cầu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
nhất là chính sách phát triển của nhà nước… Do đó đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông vận tải mang tính vùng và địa phương nhằm đảm bảo cho mỗi vùng và địa
phương phát huy được thế mạnh của mình, tăng cường việc đồng bộ hóa trong khai
14
thác tối đa các tiềm năng của vùng, lãnh thổ và đóng góp lớn vào sự phát triển chung
của cả nước. Vì vậy trong kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải
không chỉ chú ý đến mục tiêu phát triển chung của cả nước mà phải chú ý cả đến điều
kiện, đặc điểm tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ.
1.2.3. Các hình thức đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải
Xét theo mỗi khía cạnh khác nhau có các hình thức đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng giao thông vận tải khác nhau nhưng xét trên khía cạnh tổng hợp thì đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải là đầu tư cho các đối tượng sản xuất vật chất,
dịch vụ. Chủ đầu tư là nhà nước nếu thực hiện đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước; chủ đầu tư là doanh nghiệp hoặc tư nhân nếu đầu tư theo hình thức
BOT, BTO, BT…
Xét theo tính chất hoạt động đầu tư thì bao gồm: đầu tư xây dựng mới (nguồn vốn
đầu tư chủ yếu là vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho đầu tư phát triển do Bộ Kế hoạch
và đầu tư quản lý), đầu tư sửa chữa, tu bổ thường xuyên hay đột xuất (nguồn vốn đầu
tư này thuộc nguồn vốn sự nghiệp, được chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước do
Bộ Tài Chính cấp phát). Hay chia thành đầu tư theo chiều rộng (mở rộng, tăng số
lượng các công trình giao thông) và đầu tư theo chiều sâu (cải thiện, nâng cao khả năng
khai thác, phục vụ của công trình).
1.2.4. Nội dung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải
1.2.4.1. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải theo lĩnh vực đầu tư
Đầu tư và xây dựng mới hệ thống giao thông vận tải: đây là nội dung chủ yếu của
đầu tư phát triển hạ tầng giao thông vận tải và nó chiếm một tỷ trọng vốn lớn trong
tổng số vốn nhà nước đầu tư cho phát triển hạ tầng giao thông vận tải, thông thường nó
Đầu tư vào giao thông đô thị: song song với đầu tư vào phát triển vào khu vực
nông thôn nhằm mục đích xã hội là chủ yếu thì đầu tư vào hệ thống hạ tầng giao thông
đô thị lại nhằm phát triển kinh tế văn hoá ở khu vực đô thị đặc biệt là ở các thành phố
lớn vì đây là những đầu tàu trong nền kinh tế, hàng năm ở các khu vực đô thị đóng góp
vào GDP của cả nước cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn. Hơn nữa khu vực đô
thị cũng là bộ mặt của đất nước nhằm thu hút các nguồn vốn cả trong nước lẫn ngoài
nước. Thực trạng hạ tầng giao thông đô thị của nước ta trong thời gian chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển là do một số nguyên nhân như tỉ lệ đất để xây dựng hạ tầng
giao thông đô thị là thấp, dân cư ở các đô thị tăng quá nhanh do sự di dân từ các vùng
khác, sự phát triển quá nhanh của các phương tiện giao thông do đời sông của ngừơi
dân ngày càng cao… Do vậy đầu tư vào hạ tầng giao thông đô thị cần phải được nhà
nước đầu tư hơn nữa.
1.2.4.3. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải theo địa phương, vùng lãnh
thổ
Địa lý nước ta trải dài từ bắc tới nam, mỗi một địa phương, vùng lãnh thổ lại có
những điều kiện về địa hình, tự nhiên, khí hậu… khác nhau do đó mục tiêu phát triển
cũng là khác nhau. Do đó, hàng năm tùy từng giai đoạn và theo nhu cầu phát triển của
xã hội, nhà nước cũng sẽ có sự ưu tiên khác nhau với mỗi địa phương, vùng lãnh thổ để
tạo điều kiện phát triển cho vùng đó nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng xã hội và đảm
16
bảo mục tiêu phát triển chung của xã hội. Ví dụ như các vùng gần biên giới hay gần
biển sẽ được ưu tiên đầu tư trước để có thể tận dụng tối đa lợi thế về mặt địa lý trong
phát triển kinh tế. Nước ta được chia thành các vùng lãnh thổ sau:
- Vùng trung du và miền núi phía bắc
- Vùng đồng bằng sông Hồng
- Vùng bắc Trung Bộ
- Vùng Duyên hải miền Trung
phát triển về tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa có điều kiện khai thác là một trong
những đối tượng được cho vay vốn tín dụng.
Nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước chủ yếu từ khấu hao tài sản cố định và thu
nhập giữ lại từ lợi nhuận sau thuế cho đầu tư phát triển và hoạt động đầu tư được thực
hiện chủ yếu là nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ kỹ thuật hoặc
hợp tác liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác trong và ngoài nước.
Vốn đầu tư từ dân cư và tư nhân ngày một tăng, tạo dựng được nguồn vốn lớn
trong nhân dân, kể cả thành thị và nông thôn. Nguồn vốn này đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề,
phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải ở các địa phương. Tuy nhiên
hiện nay nguồn vốn này vẫn còn hạn chế trong việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông vận tải.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hầu như chỉ đầu tư và những lĩnh vực
mang lại lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh chóng, nó chú trọng và các ngành đòi hỏi
công nghệ kỹ thuật cao hay cần nhiều vốn như đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng trong
các khu công nghiệp nhưng không chú trọng đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao
thông vận tải.
Và để huy động vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông vận tải có các hình
thức như phát hành trái phiếu công trình, trái phiếu chính phủ, cổ phiếu; đổi đất lấy
công trình; huy động vốn đầu tư theo hình thức BOT, BTO…
1.2.6. Một số kinh nghiệm và bài học về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
vận tải cho Việt Nam
Xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông vận tải là một trong những vấn đề cần chú
trọng thực hiện đầu tư phát triển hiện nay. Giao thông vận tải được coi là tiền đề để
phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác. Cơ sở hạ tầng giao thông vận
tải được xây dựng tốt, đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật thì các ngành, các
lĩnh vực khác mới phát triển tốt được, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Và để
thực hiện được điều đó, ngoài việc thực hiện đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ tiên
tiến, phù hợp vào xây dựng thì Việt Nam cần tiếp thu và vận dụng các bài học, các
chuẩn “xanh”. Tuần lễ Giao thông xanh ở Singapore được coi là một hoạt động nâng
cao nhận thức cho toàn thể cộng đồng, là tuần để mọi người cùng suy nghĩ và thử
nghiệm các hình thức giao thông xanh phù hợp. Qua một tuần trải nghiệm, người dân
sẽ biết được mình tiết kiệm được bao nhiêu từ việc sử dụng giao thông xanh và thấy
rằng điều này là hoàn toàn có thể. Các hoạt động khác về tuyên truyền môi trường
cũng đã được sử dụng trong tuần lễ Giao thông xanh. Thư ký Quốc hội của Bộ Nội vụ
và Bộ Môi trường Singapore đã từng nói: “ô tô lại là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất, làm
hủy hoại chất lượng của bầu không khí chung. Mặc dù Singapore đã có các chính sách
giao thông và phát triển hạ tầng cơ sở để đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội, việc
19
giảm thiểu tác động vào môi trường do các phương tiện giao thông đường bộ là điều
bắt buộc. Một số các chính sách như giảm tỉ lệ tăng của các phương tiện, giảm tắc
đường và ô nhiễm từ giao thông đường bộ như điều chỉnh thuế xe, hệ thống quota,
giảm dần và tiến tới không sử dụng xăng có chì, tăng chất lượng xăng và áp dụng các
tiêu chuẩn khí thải cho xe gắn máy khắt khe hơn đã được thực hiện. Tuy nhiên cách tốt
nhất để giảm ô nhiễm và sử dụng năng lượng hiệu quả đối với đường bộ là chuyển
sang sử dụng các phương tiện giao thông công cộng như tàu điện ngầm nhanh và xe
buýt”. Cho đến nay, chương trình Giao thông xanh vẫn luôn được triển khai và thực
hiện ngày một hiệu quả hơn, đem lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm
bảo phát triển bền vững, hài hòa và bảo vệ môi trường.
1.2.6.2. Quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông
Hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông không chỉ diễn ra ở một địa
phương, một vùng, ở một cấp, ngành mà được diễn ra trên toàn hệ thống giao thông
của một quốc gia, giữa các quốc gia với nhau nhằm đảm bảo sự liên kết chặt chẽ, lưu
thông nhanh chóng và kịp thời. Do đó, cần quản lý chặt chẽ hoạt động đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng giao thông. Quản lý là nhằm đạt được các mục tiêu trong xây dựng là:
chất lượng tốt, tiết kiệm vốn đầu tư, đưa công trình vào khai thác đúng tiến độ thi công.
hẻo lánh với hệ thống giao thông công cộng ở các thành phố và đô thị.
Chính sách đầu tư hợp lý cho giao thông vận tải đã làm thay đổi căn bản tình hình
kinh tế xã hội ở nhiều nước trên thế giới. Điều đó được chứng minh thực tế ở các nước
trong khu vực Đông Nam Á đang ngày càng quan tâm chú trọng tăng tỷ lệ đầu tư cho
giao thông vận tải để thúc đẩy kinh tế như Indonesia, Thái Lan...
Ở nước ta, dù trong những năm gần đây ngành giao thông vận tải được quan tâm
đầu tư song tỷ lệ đầu tư cho giao thông vận tải vẫn còn thấp so với các nước trong khu
vực và trên thế giới. Tỷ lệ đầu tư này làm ảnh hưởng không ít đến tiến trình phát triển
kinh tế của đất nước. Việc thiếu vốn đầu tư dẫn đến đường xá, cầu cống xây dựng chưa
đạt tiêu chuẩn cũng đưa vào khai thác sử dụng làm cho công trình hư hỏng nhanh, làm
thất thoát và lãng phí nguồn vốn đầu tư đã bỏ ra trước đây. Vì vậy, trong thời gian tới,
nhà nước đề ra chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và ngoài nước vào lĩnh vực
giao thông vận tải bên cạnh việc tăng cường ngân sách nhà nước cho phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông vận tải.
1.2.6.4. Phát triển hệ thống giao thông công cộng đô thị ổn định, thuận tiện
Vấn đề giao thông đô thị là một vấn đề hết sức nan giải đối với nhiều quốc gia
trong đó có Việt Nam. Hầu như các đô thị lớn đều gặp phải tình trạng tắc nghẽn giao
thông và ô nhiễm môi trường dẫn đến tai nạn giao thông xảy ra khá nghiêm trọng. Vì
vậy nhiều thành phố đã và đang phát triển hệ thống giao thông công cộng thay cho
những phương tiện cá nhân như ô tô con và xe máy để giữ gìn môi trường và bảo vệ
nguồn tài nguyên của đất nước. Một số hình thức giao thông công cộng đang phát triển
hiện nay ở các đô thị là hệ thống xe buýt và giao thông đường ray.
Hiện nay giao thông đường ray đang được sự quan tâm chú ý khá phổ biến của
các nước trên thế giới. Giao thông đường ray là phương hướng chỉ đạo sử dụng đường
sắt trong thành phố, gọi chung là phương thức hiện đại hoá giao thông chạy bằng điện,
bao gồm: đường xe điện ngầm, đường sắt nhẹ, đường sắt một đường ray, xe điện. Vận
chuyển đường ray có các ưu điểm sau: Có đường chuyên dụng riêng, tốc độ vận
21
Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp còn lạc hậu về khoa học, kỹ thuật, thủ
công thô sơ. Các công trình đều đã trải qua thời gian dài sử dụng dẫn đến tình trạng
công trình bị xuống cấp. Từ năm 1986 nước ta chuyển sang cơ chế thị trường định
hướng Xã hội chủ nghĩa và có sự điều tiết của nhà nước, cơ sở hạ tầng giao thông vận
tải là một trong những vấn đề bức thiết cần được quan tâm lúc này. Ngày nay, cùng với
sự phát triển của xã hội thì nhu cầu đi lại, giao lưu, giao thương hàng hóa giữa các
vùng, miền, khu vực trong nước và Thế giới ngày một tăng; giao thông vận tải trở
thành cầu nối giao và là tiền đề, tạo ra tiềm lực ngoại tệ dồi dào thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội. Cùng với sự phát triển đó thì cũng đặt ra yêu cầu cần phải đầu tư cải
tạo, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải trên khắp cả nước để tạo tiền
đề vật chất cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay.
Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, kết cấu hạ tầng giao thông vận tải
nước ta đã có những bước tiến đáng kể, xây dựng được nhiều công trình quan trọng trải
khắp đất nước song vẫn còn ở trình độ phát triển thấp so với các nước tiên tiến trong
khu vực và trên thế giới, còn chưa đồng bộ, chưa đảm bảo cho quá trình lưu thông, vận
chuyển.
2.1.1. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Trong hơn 10 năm qua, sự phát triển của hệ thống đô thị và quá trình đô thị hoá ở
nước ta đã diễn ra nhanh chóng trên phạm vi cả nước. Nhiều công trình hạ tầng kỹ
thuật tại các đô thị đã được cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng mới đã phát triển khá
nhanh góp phần tạo nên bộ mặt đô thị đổi mới, từng bước nâng cao chất lượng đô thị,
cải thiện đời sống của người dân đô thị, góp phần xoá đói giảm nghèo và tạo lập một
nền tảng phát triển bền vững đô thị. Tuy nhiên, giao thông đô thị tại Việt Nam vẫn
đang là một bức xúc lớn của xã hội, một bài toán đau đầu cho giới hoạch định chính
sách, và cũng là một rào cản quan trọng trong quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế
của đất nước.
Trong những năm qua kết cấu hạ tầng giao thông đô thị được cải thiện thể hiện
trên các mặt: nhiều con đường mới được xây dựng, chất lượng đường đô thị dần tốt
hơn, các đô thị loại III trở lên đã có hầu hết các tuyến đường chính được rải nhựa, nâng
- Diện tích mặt đường chật hẹp (thường có chiều rộng từ 6m đến 10m). Tỷ lệ diện
tích đất dành cho giao thông đô thị còn thấp (mới chỉ đạt 5-7% tổng diện tích trong một
thành phố trong khi đó ở đô thị tiên tiến trên thế giới là 25%).
- Sự yếu kém của giao thông công cộng trong các thành phố lớn là lý do chủ yếu
làm tăng mức độ sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân.
- Hệ thống đường đô thị cũ chưa được nâng cấp sửa chữa nhiều, nhiều con đường
được xây dựng từ thời kháng chiến chống Pháp nên bề mặt đưòng nhỏ, lại có nhiều
24
điểm giao cắt (như ở thành phố Hồ Chí Minh có trên 1000 điểm, còn ở Hà Nội có trên
500 điểm). Hệ thống giao thông mới lại chưa phát triển để thay thế thống giao thông cũ
bị xoá bỏ lại càng làm căng thẳng cho tình hình giao thông. Tình trạng ùn tắc ngày
càng nhiều, dễ gây ra tai nạn giao thông khi các tuyến đường mới xây dựng không đảm
bảo tiêu chuẩn.
Tất cả những điểm yếu này được giải thích là nguyên nhân góp phần làm cho giao
thông đô thị Việt Nam vốn loạng nhoạng giờ lại càng thêm rối rắm. Với thực trạng
giao thông đô thị như hiện nay không đáp ứng nổi nhu cầu lưu thông của dân cư và các
phương tiện giao thông đang tăng nhanh cả về số lượng lẫn loại hình. Vì vậy, để khắc
phục tình trạng trên cần tăng cường đầu tư xây dựng một hệ thống giao thông hoàn
chỉnh, đồng bộ phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị.
2.1.2. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn
Đi lên từ một nước nông nghiệp do đó nông nghiệp và nông thôn là một trong
những khu vực kinh tế trọng yếu của đất nước. Để thực hiện quá trình phát triển công
nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn thì giao thông vận tải cần đi trước
một bước. Từ khi đổi mới đến nay, vấn đề xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nông
thôn luôn được nhà nước quan tâm và tạo các điều kiện thuận lợi để giao thông nông
thôn phát triển nhanh chóng. Nhiều đoạn đường giao thông nông thôn đã xây dựng
mới, cải tạo và nâng cấp; thay thế được nhiều cây cầu khỉ ở các địa phương, vùng sâu,
chỉ là ngăn ngừa xe tải trọng lớn làm hỏng đường chứ không nhằm mục đích hạn chế
tai nạn giao thông, thậm chí có nơi chôn cột chắn tuỳ tiện còn dẫn đến gây ra tai nạn
giao thông. Rất nhiều đường làng, xã nối với tỉnh lộ, quốc lộ không được lắp biển báo
hiệu và điểm giao giữa đường dân sinh với đường sắt (nơi khu dân cư đông đúc hoặc
tuyến đường độc đạo có nhiều phương tiện tham gia giao thông) thì chưa có rào chắn,
đèn báo. Thực trạng đó dẫn đến nhiều vụ tai nạn giao thông đáng tiếc xảy ra.
Như vậy, thời gian qua, việc xây dựng đường giao thông nông thôn mới chỉ chú ý
về số lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng. Hệ thống đường huyện, đường xã
mới chỉ đáp ứng được nhu cầu đi lại, sinh hoạt của người dân vùng nông thôn, chưa
thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế cũng như công cuộc xoá đói giảm nghèo
vùng nông thôn. Cũng vì vậy nên cần thiết phải đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng
mạng lưới giao thông nông thôn.
2.1.3. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Ở nước ta, vận chuyển bằng đường bộ chiếm hơn 70% khối lượng hàng hoá và
gần 80% về vận chuyển hành khách. Chiếm vị trí quan trọng trong kết cấu hạ tầng giao
thông vận tải đối với nước ta cũng như nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới,
giao thông đường bộ mang tính xã hội sâu rộng, trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế,
văn hoá, quốc phòng và dân sinh. Do đó, hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ đã
được chú trọng và có nhiều ưu tiên để đầu tư phát triển; Đảng và nhà nước cũng xây
dựng các chính sách khuyến khích tư nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia
đầu tư dưới nhiều hình thức.
Hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ của nước ta đã có những bước phát triển
nhanh chóng và mạnh mẽ. Hiện nay, mạng lưới đường bộ quốc gia hiện có tổng chiều
dài khoảng 280.000km, trong đó có gần 16.800km quốc lộ, trên 25.000km đường tỉnh,
xấp xỉ 51.800km đường huyện, hơn 17.000km đường đô thị, trên 7.800km đường