VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÁT TRIỂN: TÍN NGƯỠNG THIÊN HẬU TẠI NAM BỘ VIỆT NAM - Pdf 34

VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÁT TRIỂN:
TÍN NGƯỠNG THIÊN HẬU TẠI NAM BỘ VIỆT NAM
Nguyễn Ngọc Thơ()
(Đã đăng trên TC Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, tháng 6/2012)
1. Nguồn gốc, quá trình phát triển và truyền bá đến Việt Nam
Tín ngưỡng Ma Tổ - Thiên Hậu (Mazu – Tianhou) hình thành tại đảo Mi Châu, Phổ
Điền, Phúc Kiến (Meizhou, Putian, Fujian) vào thời Tống ở Trung Quốc. Bà tên thật là
Lâm Mặc (林默 Lin Mo) thường được gọi là Lâm Mặc Nương (林默娘 Lin Moniang), sinh
ngày 23 tháng 3 năm 960, là một shaman nổi tiếng (Mã Thư Điền, Mã Thư Hiệp 2006: 810). Bà vốn là người Đản Dân (Dan’min, còn gọi là Long nhân (龙人 người Rồng), Giao
nhân (鲛人) – một nhánh hậu duệ người Mân Việt (闽越 Minyue) cổ chuyên sống bằng
nghề cá và trao đổi hàng hóa trên sông, biển.
Thư tịch Trung Quốc Đại Thanh hội điển sự lệ, Bồ Tát ngoại truyện, các sách địa
phương chí v.v. có ghi chép: bà Lâm Mặc rất thông minh, tháo vát, giúp dân vượt hoạn nạn
và dạy dân cách sống văn minh, thoát bệnh tật. Một ngày nọ bà ngủ trưa, thấy cha và anh
trai gặp bão biển, bà dùng năng lực đặc biệt cứu được anh trai. Trong khi đang cố gắng cứu
cha thì bà bị mẹ lay dậy nên không cứu được cha. Về sau bà thường dùng năng lực thần
thánh của mình để cứu giúp dân, bao gồm dạy dân dùng rau rong biển cứu đói, cầu mưa,
treo chiếu làm buồm, hàng phục hai thần Thuận Phong Nhĩ và Lí Thiên Nhãn, giải trừ thủy
tai – quái phong, thu phục nhị quái, chữa bệnh cứu dân, nhận bùa dưới giếng, thăng thiên ở
đảo Mi Châu v.v. (Phan Thị Hoa Lý 2010). Người đời tin rằng bà là con gái Ngọc hoàng.
Bà qua đời đời ngày 9 tháng 9 năm 987 ở tuổi 28, ban đầu dân ở đảo Mi Châu dựng miếu
thờ bà, gọi là Ma Tổ. Tương truyền bà thường hiển linh cứu giúp người đi biển nên dân
gian ví bà là vị hải thần(1) (Chu Thiên Thuận 1990: 86; Lý Lộ Lộ 1995: 19-23 ; La Xuân
Vinh 2006: 1-4)).
Đến năm 1086, nhà Nam Tống chính thức cổ xúy cho tín ngưỡng này, nhờ vậy phạm vi
ảnh hưởng càng ngày càng mở rộng. Đến thời Nguyên, Ma Tổ được phong làm Thiên phi
(天妃, năm 1354), từ đó tín ngưỡng Ma Tổ phát triển lên vùng hạ lưu Dương Tử, bán đảo
Sơn Đông. Từ thời Minh trở về sau do nhu cầu giao thương hàng hải với khu vực Đông
Nam Á, tín ngưỡng này truyền bá xuống Lĩnh Nam, Đài Loan và Đông Nam Á. Đời Thanh
Khang Hy 1682 , bà được gia phong Thiên Hậu Thánh mẫu. Tên gọi đặc khu hành chính
Macau được cho là bắt nguồn từ danh từ “Ma Các” (妈阁 = miếu Ma Tổ). Cuốn Ma Tổ

ước Pháp – Thanh năm 1885 và 1886 đã mở ra nhiều cơ hội để người Hoa di dân đến Việt
Nam. Từ đó trở đi, đồng bào người Hoa đã chung sống chan hòa cùng các cộng đồng bản
địa gồm Việt, Khmer và Chăm, cùng tạo dựng văn hóa Nam Bộ. Hiện tại toàn Nam Bộ có
khoảng 800.000 người dân tộc Hoa (2009), phân thành 5 nhóm hệ dân Quảng Đông, Triều
Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (còn gọi là Hẹ). Người Quảng Đông tập trung
chủ yếu ở Tp. Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và một số thành phố, thị xã lớn ở Tây Nam Bộ;
người Triều Châu cư trú nhiều nhất ở bán đảo Cà Mau (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau);
người Phúc Kiến sinh sống rải rác ở hai bên sông Tiền, sông Hậu và khu vực Bình Dương,
Đồng Nai; người Hải Nam và người Khách Gia định cư rải rác khắp vùng miền. Ban đầu cả
5 hệ dân cùng phối hợp nhau dựng các Thất phủ cổ miếu (Cù lao Phố, Tp. Hồ Chí Minh,

(2) như Long Mẫu vùng Tây Giang, Lâm Thủy phu nhân ở Phúc Kiến, Tiễn phu nhân ở tây nam Quảng Đông.


Mỹ Tho, Vĩnh Long v.v.) chủ yếu thờ Thiên Hậu, Quan Công, nhưng sau từng nhóm tách
riêng tự xây cất các miếu cho riêng mình.
Trên đường đi biển, họ thường cầu nguyện Bà hiển linh hỗ trợ. Khi định cư được bình
an tại vùng Nam Bộ, di dân lập miếu trang trọng thờ Bà, ngưỡng vọng và thờ tự Bà với tấm
lòng biết ơn đã giúp đỡ họ được“thuận buồm xuôi gió”. Theo dòng di dân đến khắp nơi ở
Nam Bộ, miếu Thiên Hậu cũng được dựng lên. Về sau, người Hoa còn thờ Bà thêm chức
năng bảo an, ban phát phúc lộc, thịnh vượng, đặc biệt là hộ mệnh cho trẻ sơ sinh (Trần
Hồng Liên 2005). Chính vì thế rải rác ở các thị tứ, thị trấn, thành phố tại vùng đất Nam Bộ
đều có miếu Thiên Hậu với nhiều tên gọi Chùa Bà, Chùa Thiên Hậu, Thiên Hậu Cung hay
miếu Thiên Hậu. Vùng Bạc Liêu, Cà Mau còn gọi Thiên Hậu là Mã Châu (妈祖 Mazu), do
vậy miếu Thiên Hậu còn gọi là Chùa Bà Mã Châu 妈祖婆寺(tư liệu điền dã 2011). Vùng
Sóc Trăng cũng gọi là Ma Tổ, phong cách tác tượng thờ mang nét ảnh hưởng từ Macau và
Đài Loan, Ma Tổ gương mặt đen với tay cầm lệnh bài đưa ngang vai (Trần Hồng Liên
2006).
2. Hiện trạng tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam
Nam Bộ là một trong sáu vùng văn hóa của cả nước (Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, ven

Miếu Thiên Hậu tại P. Lái Thiêu (Thuận An),
Miếu Thiên Hậu tại Búng (Thuận An),


Miếu Thiên Hậu tại Bưng Cầu,
Miếu Thiên Hậu tại thị trấn Dầu Tiếng
2

Bà Rịa – Vũng Tàu

2

Chùa Bà Bà Rịa,
Miếu Bà Ngũ Bang Tp. Vũng Tàu

3

Đồng Nai

2

Miếu Cây Quăn (Bửu Long, Biên Hòa),
Miếu Thiên Hậu Hòa Bình (Hòa Bình, Biên Hòa)

4

Tây Ninh

6


Miếu Thiên Hậu (Trần Hưng Đạo, TX. Tây Ninh),
Minh Nghĩa hội quán,
Thất Phủ Hòa An Hậu Minh hương hội,
Miếu Gia Gòn (Thanh Điền, Châu Thành),
Miếu Thanh An (Thanh Phước, Gò Dầu),
Miếu Nhị Phủ (Trảng Bàng).
Miếu Tuệ Thành (710 Nguyễn Trãi, Q.5),
Ôn Lăng (12 Lão Tử, Quận 5),
Hà Chương (802 Nguyễn Trãi Quận 5),
Quỳnh Phủ (276 Trần Hưng Đạo Quận 5),
Tam Sơn hội quán (116 Triệu Quang Phục Quận 5),
Quần Tân hội quán (2 Lý Thường Kiệt, Gò Vấp),
Miếu Thiên Hậu hội quán Quảng Triệu (132
Nguyễn T. Minh Khai Q.3),
Miếu Xóm Chiếu (Q. 4),
Hội quán Quảng Triệu (122 Bến Chương Dương
cũ, nay là Đại lộ Đông Tây, Q. 1),
miếu Thiên Hậu Chợ Quán,
miếu Thiên Hậu số 21 Lê Trực (Bình Thạnh),
miếu Thiên Hậu Cần Thạnh (Cần Giờ),
chùa Bà Thiên Hậu Trung Đông (Thới Tam Thôn,
Hóc Môn)
Miếu Thiên Hậu Mỹ Tho
Miếu Thiên Hậu Cai Lậy
Miếu Thiên Hậu Cái Bè (hiện bỏ hoang)
miếu Thiên Hậu Phúc Kiến (Sa Đéc)
miếu Thiên Hậu Quảng Đông (Sa Đéc)


10


Kiên Giang

3

miếu Thiên Hậu Khách Gia
miếu Thiên Hậu Vĩnh Mỹ (Châu Đốc)
Miếu Thiên Hậu Rạch Giá
Thiên Hậu Cung Rạch Giá
Miếu Thiên Hậu Hà Tiên

15

Cần Thơ

3

16

Hậu Giang

0

17

18

19

Sóc Trăng

Miếu Miếu Thiên Hậu xã Phú Hưng (Cái Nước)
Miếu Thiên Hậu thị trấn Thới Bình (Thới Bình)


Phân bố các miếu Thiên Hậu ở Nam Bộ
Miếu Thiên Hậu được xem là “ngôi nhà chung” của cộng đồng người Hoa, do vậy
thường được đầu tư xây dựng rất bề thế, trang trí công phu. Nói về các hội quán Hà
Chương, Ôn Lăng của người Phúc Kiến, nhà thơ người Việt Nguyễn Liêm Phong, trong
Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (1909) đề thơ:
Hà Chương Hội quán ai bì
Ôn Lăng thất phủ hạng nhì, hạng ba.
Các chùa còn lắm xa hoa,
Thờ ông Phước Đức, thờ bà Thai Sanh.
Thiên hậu thánh mẫu rất linh,
Quan công thánh đế lịch xinh tượng hình...
Tại hầu hết các miếu Thiên Hậu ngoài đối tượng được thờ ở chính điện thì người ta còn
phối thờ nhiều vị thần khác. Chẳng hạn tại miếu Tuệ Thành (710 Nguyễn Trãi, Q.5 Tp. Hồ
Chí Minh) ngoài chính điện thờ 3 tượng Thiên Hậu(4), hai bên tả hữu thờ Kim Hoa phu
nhân(5) và Long mẫu nương nương(6). Miếu Thiên Hậu tại đường Trần Hưng Đạo, TX. Tây
(4) tượng nhỏ cung nghênh đi diễu hành ngày vía Bà 23 tháng ba, tượng trung cung ngênh bà thưởng ngoạn
các hoạt động văn hóa – nghệ thuật.
(5) Nữ thần bảo trợ việc sinh đẻ
(6) Long Mẫu tên thật là Ôn Long Cơ (温龙姬), người gốc Âu Việt, quê quán Đằng Huyện, Quảng Tây. Bố
mẹ chẳng may bị lũ cuốn trôi, duy chỉ có Long Mẫu được lão đánh cá vùng Duyệt Thành (Triệu Khánh,
Quảng Đông) tên là Lương Tam Công (梁三公) cứu sống từ một chiếc thuyền thúng trôi giữa dòng sông.
Long Cơ sắc xảo thông minh, nhờ nuôi 5 con rồng con nên được gọi là Long Mẫu. Về sau, bà hợp nhất 5 bộ
lạc Âu Việt vùng trung và thượng lưu sông Tây Giang chống quân Tần. Sau khi qua đời, bà được suy tôn
thành nữ thần cai quản dòng Tây Giang và vùng đất rộng lớn thuộc thượng và trung lưu sông Tây Giang.
Cũng có thuyết cho rằng Long Mẫu là hình ảnh vua Dịch Hu Tống (译吁宋) – lãnh tụ chống quân Tần thất
bại năm 218 TCN, đã “nữ thần hóa” theo truyền thống Âu Việt (Trần Thiệu Cơ 2004; Trần Trạch Hoằng

Trong lễ hội người Hoa trước đây tổ chức rất nhiều nghi thức, trong đó không thể thiếu
nghi thức cung nghinh Thánh mẫu dạo phố phường(8). Đa số các miếu tổ chức múa lân –
múa rồng cung nghênh. Đặc biệt tại miếu Thiên Hậu Bình Dương, người Hoa Phúc Kiến có
(7) Gồm 1. Kim Hoa nương nương; 2. Thiên Địa phụ mẫu; 3. Văn Xương; 4. Tề Thiên Đại Thánh; 5. Hoa
Ông - Hoa Bà; 6. Thanh Long; 7. Thái Tuế; 8. Bảo Thọ; 9. Quan Thánh; 10. Long Mẫu nương nương; 11.
Bắc Đế; 12. Quan Âm; 13. Bạch Vô Thượng; 14. Thần Nông; 15. Bạch Hổ; 16. Ngọc Hoàng; 17. Bao Công
(có thêm Châu Xương, Quan Bình và ngựa Xích thố); 18. Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài); 19. Thiên Quan
Tứ Phước (ông Thiên); 20. Phúc Đức Chánh Thần (Thổ Địa); 21. Môn quan Vương Tả (Quan gác cửa); 22.
Cửu Thiên Huyền nữ.
(8) Hiện nay Tp. Hồ Chí Minh không còn lệ này do đường phố chật hẹp, người đông đúc.


tổ chức múa hẩu. Đây là nét văn hóa độc đáo chỉ có ở Bình Dương. Đầu hẩu là một chiếc
mặt nạ tròn rất hung tợn, được vẽ nhiều màu sắc, quanh đầu râu ria xồm xàm, thân phủ một
tấm vải màu vàng rực, đuôi thường làm bằng đuôi trâu hoặc bò. Múa hẩu khác với múa lân,
hay rồng, không được trèo lao, nhún nhảy vui nhộn, mà phải nghiêm trang, đầu rướn lên
cao, xoay mặt qua lại, lúc thì co lượn, trườn dài, lăn tròn xuống đất. Khi tổ chức rước Thiên
Hậu du xuân, múa hẩu đi trước đê dọn đường (Lý Phát, Đỗ Tiến: www.sugia.vn).

Múa hẩu ở Bình Dương
Xét theo chiều dài lịch sử, tín ngưỡng Thiên Hậu có mặt tại Nam Bộ Việt Nam đã 300
năm nay, song chỉ khoảng hai thập niên cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 này thì
mối quan hệ giao lưu văn hóa Hoa – Việt thể hiện qua tục thờ này mới phát triển đến đỉnh
cao. Suốt thời Nguyễn, thời Pháp thuộc và thời chống Mỹ, tín ngưỡng Thiên Hậu tồn tại
âm thầm trong cộng đồng người Hoa, tuy người Việt có tham gia các hoạt động cúng bái
song không mang tính chất hệ thống. Kể từ sau khi đất nước cải cách mở cửa, nền kinh tế
thị trường đã làm cuộc sống cư dân Nam Bộ đổi thay, tiến bộ thì người Việt tại đây bắt đầu
tiếp nhận nhiều hơn và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tín ngưỡng thờ Thiên Hậu.
Vào các dịp tết Xuân, Rằm tháng Giêng, Lễ vía bà tháng 3, Rằm tháng 7, Rằm tháng 10
v.v., rất nhiều người Việt theo nhiều tôn giáo khác nhau tham gia viếng Bà hay “vay tiền”

Bà Thiên Hậu, ngược lại khi nhắc đến Bà Thiên Hậu người ta nói đến người Hoa. Trường
hợp Quan Công thì khác biệt, bởi lẽ trong truyền thống văn hóa người Việt trong hơn một
ngàn năm qua đã có tục thờ Quan Công, tục thờ này theo chân lưu dân người Việt vào đất
Nam Bộ.
Cộng đồng người Hoa mượn tục thờ Thiên Hậu để thực hiện chức năng giáo dục truyền
thống, định hướng cộng đồng mình về nhân cách, đạo đức sống cao đẹp. Thông qua tín
ngưỡng này, người Hoa gìn giữ đặc trưng văn hóa tộc người mình, nhất là các yếu tố thuần
phong mỵ tục của đồng bào người Hoa. Trong tục thờ này có thể thấy người ta tế lễ theo
nghi thức Nho giáo, người tế lễ mặc trang phục chỉnh tề, có phân cao thấp tôn ti. Ngoài một
số ít hình thức bản địa hóa thì hầu hết các bước tiến hành vẫn giữ nguyên sắc thái có từ
Nam Trung Hoa. Thông qua các hoạt động tín ngưỡng, người Hoa còn lưu giữ nhiều loại
hình văn hóa phi vật thể như diễn xướng, ca múa dân gian, múa lân-sư-rồng, múa hẩu, các
loại hình thể thao giải trí v.v.. Các cơ sở tín ngưỡng như miếu, đình với phong cách kiến
trúc đặc sắc đã góp phần giáo dục các thế hệ trẻ nguồn gốc văn hóa tộc người mình.


Lễ hội miếu bà Thiên Hậu có giá trị về nhiều mặt trong đời sống văn hóa cộng đồng
người Hoa ở Nam Bộ. Lễ hội vía Bà còn là dịp để bà con gặp gỡ nhau, thắt chặt tinh thần
cố kết cộng đồng, yếu tố không thể thiếu trong xã hội Á Đông này.
Đứng ở góc độ kinh tế, bản sắc văn hóa truyền thống cùng với giá trị tâm linh của tục
thờ Thiên Hậu từ rất sớm đã trở thành cơ sở cho sự phát triển du lịch văn hóa – hành hương.
b. Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam có xu hướng Phật giáo hóa. Hiện
tượng này vốn dĩ đã bắt nguồn từ lâu đời, rất có thể từ thời còn ở Hoa Nam (Phúc Kiến,
Quảng Đông, Đài Loan). Tuy nhiên, tại Nam Bộ, xu hướng ấy càng sâu sắc hơn. Miếu
Thiên Hậu được gọi là “Chùa Bà” (The Temple/ Pagoda of Goddess), tương tự miếu Quan
Công thường gọi là “Chùa Ông”. Trong suy nghĩa của nhiều người Việt, Thiên Hậu vừa là
thánh mẫu vừa là Phật Bà. Điển hình nhất là ngôi Thiên Hậu tự ở số 21 Lê Trực, Quận
Bình Thạnh (Tp. Hồ Chí Minh), vừa thờ Thiên Hậu vừa thờ Phật bà Quan âm, các nghi
thức cúng tế thực hiện theo cả hai phong cách Phật giáo và tín ngưỡng, và vì thế mới gọi là
Chùa Thiên Hậu 天后寺. Miếu Bà Thiên Hậu chợ Phố (Phong Phú, Cầu Kè, Trà Vinh)

gồm 2 hồi gióng theo quy ước chung của người Hoa và 1 hồi để tạ ơn đất nước và con
người Việt Nam đã cưu mang họ (Trần Hồng Liên 2006).
Tại hội quán Nghĩa Nhuận và đình Minh Hương Gia Thạnh, các buổi cúng tế đều tiến
hành nghi lễ trong trang phục truyền thống của người Việt, đặc biệt chủ lễ mặc chiếc áo
thụng màu xanh dương kiểu Việt. Nghi thức và văn tế cũng được đọc bằng tiếng Việt. Sau
cúng tế thường có diễn tuồng, song các vở diễn thường bằng tiếng Việt (trừ các miếu Thiên
Hậu ở Tp. Hồ Chí Minh) và diễn theo phong cách Việt kịch dù nội dung tuồng có gốc tích
từ Trung Quốc. Tại Hà Tiên, lễ vía Thiên Hậu có hát Tiều hát Quảng diễn theo phong cách
người Việt và bằng tiếng Việt (Trần Hồng Liên 2006; Võ Văn Hoàng 2009). Tương tự,
chùa Bà Thiên Hậu (phường 2, TP Cà Mau) có ban nhạc Đồng Tâm nghiệp dư Âm nhạc xã
của người Hoa biểu diễn các tuồng tích, hát Hồ Quảng, hát Kinh Dịch… thu hút đông đảo
đồng bào người Hoa và cả người Kinh, người Khmer đến tham dự (tindulich.vn)
Lễ khai ấn tại miếu Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam thường diễn ra trước tết với hy
vọng chuyển tiếp từ năm cũ sang năm mới đã có được sự phò trợ của bà Thiên Hậu, giúp
cho nước được thịnh, dân được yên trong năm mới, hoàn toàn giống với tâm tư người Việt
(Trần Hồng Liên 2005).
Về mặt chủ thể, một số miếu Thiên Hậu tại đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu có sự
dịch chuyển từ cộng đồng người Hoa Phúc Kiến, Triều Châu sang cộng đồng người lai Hoa


– Việt (có người gọi là Minh Hương). Chẳng hạn, Phước Minh Cung của người Mân Nam
ở Trà Vinh dần dà trở thành nơi thờ tự của những người Phúc Kiến lai Việt do cộng đồng
này dung hòa khá nhanh vào cộng đồng người Việt. Vĩnh Triều Minh hội quán ở Bạc Liêu
cũng là trường hợp tương tự đối với cộng đồng người Triều Châu lai Việt. Thiên Hậu miếu
ở Cái Răng tuy không lớn nhưng là một công trình văn hóa cổ kính tiêu biểu cho văn hóa
người Hoa ở Cần Thơ nói riêng và Nam Bộ nói chung. Đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của
cả cộng đồng người Hoa và bà con người Việt, người Khmer (livecantho.com). Một bộ
phận người Mân Nam và Triều Châu từ đất Nam Bộ Việt Nam sang định cư tại Los
Angeles (California) những thập niên cuối thế kỷ 20 cũng xây miếu Thiên Hậu, các tín đồ
người Mân Nam, Triều Châu ở đây đại đa phần nói tiếng Việt (tư liệu thực tế 2009).

được phối thờ với Naek Ta và Trịnh Hòa (Phú Văn Hẳn 2011). Tại vùng Vĩnh Châu (Sóc
Trăng), nơi cộng cư Việt – Hoa – Khmer, nhiều gia đình Khmer khi lập đàn thờ Naek Ta
(thần Đất) thì có thêm bài vị khắc chữ Thần bằng tiếng Hán trên trang thờ. Ngược lại trong
miếu Thiên Hậu ở Mỹ Xuyên (Sóc Trăng), ở giữa sân có thờ thổ thần bằng phiến đá phủ
vải đỏ có ghi ba chữ “Thạch thần cung 石神宫”, chính là thờ Naek Ta của người Khmer
(Trần Hồng Liên 2006). Trong tâm thức của nhiều cư dân Nam Bộ, Thánh mẫu trong
truyền thống có từ đất Bắc cùng kết hợp với hình ảnh Thánh mẫu của người Chăm (Bà
Chúa Ngọc, Bà Thiên Y Yana) và Bà Thiên Hậu, đều là những vị Mẫu cao quý, luôn ban
phúc lành cho dân chúng. Chính vì thế, ở hình ảnh Bà Chúa Xứ (núi Sam, Châu Đốc),
người ta thấy cả hình ảnh Mẫu Thiên Y Yana của người Chăm và Bà Thiên Hậu của người
Hoa. Bên cạnh đó, bóng rổi – một hình thức nghệ thuật dân gian Chăm, đã bắt đầu xuất
hiện trong lễ vía Thiên Hậu tại một số khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là tại
An Giang (Phú Văn Hẳn 2011).
(2) Bên cạnh đó là hiện tượng một bộ phận người Việt, Khmer trong khu vực tiếp nhận
và thực hiện các nghi thức cúng tế Thiên Hậu như người Hoa(11). Miếu Thiên Hậu ở Giồng
Trôm (Bến Tre) do chính người Việt lập ra để thờ Bà. Trong một vài ngôi chùa người Việt
ở Nam Bộ, bên cạnh thờ Phật, người ta đã bắt đầu đặt ngẫu tượng bà Thiên Hậu cùng thờ,
chẳng hạn chùa Vĩnh Phước An ở Sóc Trăng. Ở Nghĩa Nhuận hội quán, một ngôi chùa
người Việt thờ Thành hoàng bổn cảnh, người ta còn phối thờ cả Thiên Hậu Thánh Mẫu và
Quan Công (Nguyễn Đức Hiệp 2011). Ở Chùa Tổ thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương,
đây là một ngôi miếu thờ Tổ nghề của người Việt, người ta còn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu
(Võ Văn Hoàng 2009).
Trong bất kì hoạt động lễ hội nào diễn ra ở các miếu Thiên Hậu, người Việt đều tham
gia với tất cả lòng cung kính, nhiệt thành. Và vì thế, để phục vụ đông đảo các tín đồ người
Hoa và người Việt, ở nhiều miếu Thiên Hậu người ta tổ chức tế lễ và hát tuồng bằng tiếng
phổ thông – tiếng Việt (Võ Văn Hoàng 2009). Tại Tp. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, hiện
tượng đi viếng chùa Bà Thiên Hậu tại Bình Dương những ngày đầu năm mới âm lịch đã trở
thành một phong tục quan trọng trong năm. Trong những ngày ấy, số thiện nam tín nữ
người Việt đến viếng chiếm đại đa số, mỗi ngày có đến hàng ngàn người, náo nhiệt hơn
hẳn những cơ sở tín ngưỡng – tôn giáo của chính người Việt. Ở cộng đồng Khmer Nam Bộ

4.

5.

phố Hồ Chí Minh, NXB TP.HCM ,1990
Phan An chủ biên (1990), Người Hoa quận 6 thành phố Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam quận 6 thành phố Hồ Chí Minh
Phan An 2002: “Tục thờ cúng Bà Thiên Hậu của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh”,
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3-2002, tr. 54-57
Phan An, Trần Đại Tân, Lưu Kim Hoa, Lê Quốc Lâm 2006: Góp phần tìm hiểu văn hóa
người Hoa ở Nam bộ, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh,
Nxb Văn hóa-thông tin
Toan Ánh 1992: Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, NXB Tp.HCM.


6. Ban Quản trị hội quán Hải Nam (2006), Quỳnh Phủ hội quán Tp. Hồ Chí Minh - Hội
quán chùa Bà Hải Nam.
7. Võ Thanh Bằng (2005), Tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Nam Bộ, Luận án Tiến
sĩ, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
8. Nguyễn Duy Bính 1999: Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ, Luận án Tiến
sĩ, 199 trang
9. Mai Ngọc Chúc 2005: Thần nữ và liệt nữ Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin.
10. Châu Hải 1992: Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội,
153 tr.
11. Phú Văn Hẳn 2011: “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng sông Cửu Long”, tài liệu đánh
máy của tác giả.
12. Nguyễn Đức Hiệp 2011: “Chợ Lớn: lịch sử địa lý, kinh tế và văn hóa”,
www.diendan.org
13. Nguyễn Duy Hinh 2004: “Mẫu trong tín ngưỡng Trung Quốc cổ đại”, Đạo Mẫu và các
hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á, NXB KHXH.

27. Lý Phát, Đỗ Tiến: “Bước đầu tìm hiểu về cộng đồng người Hoa Phúc Kiến ở phường
Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một, Bình Dương”, www.sugia.vn.
28. Vương Hồng Sển 2002: Sài Gòn năm xưa, Nxb Trẻ.
29. Nguyễn Ngọc Thơ 2009: Goddess beliefs in Chinese Ling’nan area, www.harvardyenching.org
30. Nguyễn Ngọc Thơ 2011: “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hoa Nam”, Tạp chí Phát triển khoa
học và công nghệ, tập 14: 42-60.
31. Nguyễn Cẩm Thúy 2000: Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ (từ thế kỷ 17 đến
năm 1945), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
32. Tsai Maw Kuey (1968), Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Bộ Quốc gia Giáo dục.
33. Phạm Văn Tú (2008), “Thiên Hậu thánh mẫu - vị nữ thần biển khơi và sự thâm nhập
của tín ngưỡng này vào vùng biển phía Nam”, Văn hoá biển miền Trung và văn hoá
biển Tây Nam Bộ, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
34. Nguyễn Thị Thu Trúc 2007: Tượng và quần thể tiểu tượng gốm của người Hoa ở Sài
Gòn, trường hợp miếu Thiên Hậu – hội quán Tuệ Thành (Tp.HCM), Luận văn Thạc sĩ,
290 tr.
35. Phạm Văn Tú 2011: Tín ngưỡng dân gian Việt Nam Cà Mau, NXB Khoa học xã hội,
147 trang.
36. Nguyễn Thị Thanh Xuyên (2008), Tín ngưỡng Thiên Hậu ở quận 5 thành phố Hồ Chí
Minh, Luận văn tốt nghiệp đại học, ngành Nhân học, trường Đại học KHXH & NV
thành phố Hồ Chí Minh.
Tiếng Anh
37. Elinor W. Gardon 1989: The once and future goddesses: a symbol for our time, Harper
and Row Publishers, San Francisco.
38. Edward H. Schafer 1967: The vermilion bird – T’ang images of the South, University of
California Press.


39. Elisabeth Benard, Beverly Moon 2000: Goddesses who rule, Oxford University Press
40. Hellen Hye-Sook Hwang 2008: “Issues in studying Mago, the great goddess of East
Asia: primary sources, gynocentric history, and nationalism”, The Constant and



52. Chu Thiên Thuận 1990: Tín ngưỡng Ma Tổ nên hòa hợp cùng xã hội đương thời, Học
báo Đại học Hạ Môn, kì 4, trang 86-89 (朱天顺 1990:「妈祖信仰应与当前社会相
协调」,《厦门大学学报》,第 4 期, 86-89 页).
53. Chu Thiên Thuận: Yếu tố xã hội chủ yếu tác động đến quá trình truyền bá tín ngưỡng
Ma Tổ thời kì Nguyên – Minh (朱天顺:《元明时期促进妈祖信仰传播的主要社会
因素》).
54. Hoàng Tú Lâm 2005: “Diễn tiến và thuyết mới về tác dụng văn hóa xã hội của tín
ngưỡng Ma Tổ”, TC Văn Sử Lĩnh Nam, kì 2: 55-58 (黄秀琳

2005:

「妈祖信仰文化社会功能的演进与新说」, 《岭南文史》, 第 2 期: 55-58 页).
55. La Xuân Vinh 2006: Nghiên cứu văn hóa Ma Tổ, NXB Cổ tịch Thiên Tân (罗春荣
2006:《妈祖文化研究》,天津古籍出版社)。
56. Lâm Mỹ Dung 2005: Tín ngưỡng Ma Tổ và xã hội người Hán (林美容 2005:《妈祖
信仰与汉人社会》).
57. Lý Lộ Lộ 2003: Thần vận Ma Tổ, NXB Học Phạm (李露露 2003:《妈祖神韵》,学
范出版社).
58. Mã Thư Điền, Mã Thư Hiệp 2006: Toàn tượng Ma Tổ, NXB Mỹ thuật Giang Tây (马
书田,马书侠 2006:《全像妈祖》,江西美术出版社).
59. Trung Đài Loan (蔡相辉 2006:《台湾民间信仰专题:妈祖》, 国立空中大学)
60. Trương Tuần 2005: Văn hóa Ma Tổ: tuyển tập các bài viết về tín ngưỡng Ma Tổ ở Đài
Loan (张珣 2005:《文化妈祖:台湾妈祖信仰研究论文集》)
61. Viên Chung Nhân 1998: Văn hóa Lĩnh Nam, NXB Giáo dục Liêu Ninh (袁钟仁
1998:《岭南文化》,辽宁教育出版社).
62. “16 Truyền thuyết cuộc đời Ma Tổ”, Tạp chí Đài Thanh, tháng 6/2004
(「妈祖生平 16 传说」,《台声》; 2004 年 06 期).
63. “18 truyền thuyết hiển linh của Ma Tổ”, Tạp chí Đài Thanh, tháng 6/2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status