Nghiên cứu triết học
Đề tài:" NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN
LỰC PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRI THỨC NGUYỄN VĂN SƠN "
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC
NGUYỄN VĂN SƠN (*)
Bài viết trình bày một cách khái quát vai trò của nguồn nhân lực đối với sự
phát triển bền vững. Trên cơ sở phân tích một số nét tích cực và hạn chế của
nguồn nhân lực nước ta hiện nay cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, tác giả đã
đề xuất và luận chứng một số giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước và phát triển kinh tế tri thức. Cụ thể là: 1/ Đẩy mạnh giáo dục và đào
tạo; 2/ Nâng cao thể lực cho con người; 3/ Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hiện nay, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức
chỉ giành được những thắng lợi khi chúng ta biết khai thác hợp lý và sử dụng
hiệu quả tất cả các nguồn lực. Song, yếu tố giữ vai trò quyết định nhất, đảm
bảo cho sự thắng lợi của quá trình đó chính là nguồn lực con người, đặc biệt là
nguồn nhân lực có chất lượng cao. Điều này được khẳng định dựa trên những
cơ sở sau:
Thứ nhất, các nguồn lực khác (ngoại trừ nguồn nhân lực), xét về mặt số lượng
và trữ lượng, có thể là rất phong phú, dồi dào, nhưng nếu khai thác và sử dụng
không hợp lý thì đến một lúc nào đó, chúng sẽ trở nên cạn kiệt. Khi ấy, nền
kinh tế vốn cơ bản dựa vào nguồn lực này sẽ gặp khó khăn, nếu không nói là bị
đe doạ. Trái lại, nguồn lực con người với tiềm năng trí tuệ, chất xám thì luôn
sinh sôi và phát triển không ngừng. Xét trên bình diện xã hội, có thể khẳng
định nguồn lực con người là vô tận và do vậy, là nguồn lực cơ bản của sự phát
triển bền vững. Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với các
nguồn lực khác trong hệ thống nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, nếu trước đây, một trong những nguyên nhân chủ yếu ngăn cản tốc độ
tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước là do tình trạng nghèo nàn về cơ
sở vật chất, sự thiếu hụt về nguồn vốn… thì ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất
được xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con
người.
Thứ ba, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo sự phát triển mạnh
mẽ và nhanh chóng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; cùng với đó
là quá trình toàn cầu hoá đã tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội cho các nước
đang phát triển có thể khắc phục sự yếu kém về trình độ khoa học – kỹ thuật
của mình thông qua con đường hợp tác, có thể giải quyết các vấn đề khó khăn
như thiếu hụt nguồn vốn dựa trên quan hệ đầu tư, vay vốn và bằng nhiều hình
thức khác. Nhưng, có một vấn đề đặc biệt quan trọng mà để đảm bảo sự phát
triển bền vững, các nước phải nhanh chóng giải quyết một cách có hiệu quả, đó
Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoàn
thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động sản
xuất và sáng tạo cá nhân. Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và
hành động cụ thể của con người, tạo nên chất lượng của nguồn nhân lực. Tâm
lực tạo ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của
con người. Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các
yếu tố thể lực và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội.
Nguồn nhân lực của nước ta trong thời gian qua đã tăng một cách đáng kể về
mặt lượng do sự gia tăng dân số ở mức cao và liên tục trong nhiều năm. Theo
Niên giám thống kê 1995 – 1997 của Tổng cục thống kê, dân số nước ta từ
59.872.000 người (năm 1986) lên 76.709.000 người (năm 1997); trong đó, lực
lượng lao động từ 27.389.000 người (năm 1986) lên 36.994.000 người (năm
1997)(2). Quy mô dân số đông và lực lượng lao động dồi dào vốn được coi là
một thế mạnh của nước ta, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất.
Tất nhiên, để khai thác được lợi thế này, đòi hỏi phải có rất nhiều điều kiện
tương ứng.
Người Việt Nam được đánh giá là có nhiều tư chất thông minh và sáng tạo,
nhạy bén trong tiếp thu và tiếp cận tri thức. Đây là điểm nổi trội của nguồn
nhân lực nước ta. Theo Báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc, chỉ
số phát triển con người (HDI) của Việt Nam có sự tăng nhanh và liên tục.
“Năm 1995 Việt Nam mới chỉ đứng thứ 7/10 trong khu vực Đông Nam Á,
35/50 ở châu Á và 122/175 nước trên thế giới được xếp hạng theo chỉ số HDI,
thì đến năm 2001, đã vượt lên thứ 6/7 ở khu vực Đông Nam Á, 28/36 ở châu Á
và 109/130 trên thế giới”(3).
Tuy vậy, xét về mặt chất lượng, nguồn nhân lực nước ta còn khá nhiều hạn
chế. Điều này biểu hiện ở chỗ, thể lực, mức dinh dưỡng cho người Việt Nam
còn ở mức thấp, đặc biệt là trẻ em – nguồn cung cấp nhân lực chính cho xã hội.
Sự hạn chế về thể lực ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu tri thức và trí
thông minh của trẻ. Xu hướng này có chiều hướng ngày càng tăng lên. Trong
những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm, đầu tư thích đáng để
Hàn
Quốc
Trung
Quốc
Indonesia
Philippin
Malaisia
Thái
Lan
Việt
Nam
Hệ thống
GD
8.0 5.12 0.5 3.8 4.5 2.64 3.25
Lao động
chất lượng
7.0 7.12 2.0 5.8 4.5 4.0 3.25
cao
Tiếng Anh 4.0 3.62 3.0 5.4 4.0 2.82 2.62
Sự thành
thạo công
nghệ cao
7.0 4.37 2.5 5.0 5.5 3.27 2.5
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức đặt ra
những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực. Điều đó buộc
chúng ta phải áp dụng những biện pháp tích cực, đồng bộ nhằm nhanh chóng
nguồn lực cho giáo dục và đào tạo, đặc biệt là về đội ngũ giáo viên; đồng
thời, hoàn thiện mạng lưới giáo dục trên toàn quốc, chú trọng đầu tư phát
triển vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây
dựng đội ngũ giáo viên đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu giảng dạy, phân
công lại lực lượng giáo viên theo các vùng miền cho phù hợp, có chính
sách ưu đãi đối với giáo viên hiện đang công tác ở những vùng khó khăn.
Chuẩn hoá đội ngũ giảng viên, đảm bảo sự kết hợp giữa kiến thức chuyên
môn với phương pháp sư phạm hiện đại, có tư cách đạo đức tốt, phương
pháp tư duy khoa học… Các cơ quan quản lý giáo dục, trước hết là Bộ
Giáo dục và Đào tạo, cần xây dựng lộ trình triển khai chuẩn hoá giảng viên
cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, cần tăng cường giao lưu và hợp tác
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo với các nước có nền giáo dục phát triển.
Đồng thời, Nhà nước cần có sự đầu tư thoả đáng nhằm hoàn thiện cơ sở vật
chất phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu ở các trường cao
đẳng và đại học, như hệ thống phòng thí nghiệm, thư viện, giảng đường.
Bên cạnh đó, cần chuẩn hoá chương trình và giáo trình đào tạo đảm bảo
phù hợp với yêu cầu của thực tiễn xã hội, xác định ngành nghề mũi nhọn
nhằm đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ cao. Đẩy mạnh công tác
nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên. Đây là một yêu cầu bắt
buộc đối với chương trình đại học và cao đẳng. Các đề tài nghiên cứu phải
có tính thực tiễn cao. Khắc phục tình trạng phiến diện, chỉ giỏi về lý thuyết
nhưng lại kém về thực hành – một thực tế khá phổ biến mà sinh viên nước
ta đang mắc phải. Đổi mới công tác quản lý giáo dục một cách cơ bản và
toàn diện cả về tư duy lẫn phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo. Tập trung vào quản lý nội
dung và chất lượng giáo dục và đào tạo, tăng cường công tác kiểm tra,
thanh tra đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo. Nhà nước cần giao quyền
tự chủ hơn nữa cho các trường đại học và cao đẳng để các trường có điều
kiện chủ động trong việc hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, cải thiện và nâng cao thể lực cho con người nói chung và lực
triển nguồn nhân lực trên phạm vi vùng, ngành và quốc gia đảm bảo sự
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn
nhất định. Nhiệm vụ này cần được tiến hành thường xuyên để có sự điều
chỉnh cho phù hợp với những thay đổi của thực tiễn cuộc sống.
Thứ năm, xây dựng chính sách tiền lương hợp lý.
Chính sách tiền lương hợp lý là một trong những động lực quan trọng kích
thích người lao động nâng cao trình độ của mình để đáp ứng được nhu cầu
của công việc, đảm bảo tăng thu nhập và ổn định đời sống. Lợi ích là khâu
nhạy cảm nhất vì mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt mục tiêu là
lợi ích. Nó là yếu tố quan trọng đối với việc thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo
của con người. Có nhiều loại lợi ích khác nhau, trong đó lợi ích kinh tế là
lợi ích cơ bản, hàng đầu. Vì vậy, chính sách tiền lương, tiền công phải đảm
bảo nguyên tắc công bằng xã hội, tránh tình trạng giải quyết lợi ích theo
kiểu bình quân chủ nghĩa.
Tóm lại, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức như Đại hội
X Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, chúng ta cần phải thực hiện đầy đủ
và đồng bộ các giải pháp. Giữa các giải pháp có mối quan hệ chặt chẽ và
hỗ trợ lẫn nhau, coi nhẹ hoặc bỏ qua một giải pháp nào đó sẽ làm ảnh
hưởng đến hiệu quả của các giải pháp khác.r
(*) Phó trưởng khoa Khoa học cơ bản, Trường Cao đẳng Phát thanh
Truyền hình I.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam . Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.187.
(2) TS. Nguyễn Thanh. Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.86.
(3) Vũ Minh Mão – Hoàng Xuân Hoà. Dân số và chất lượng nguồn nhân
lực ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế. Tạp chí Cộng sản, số
709, 2004, tr.65.