Đề tài: Đưa ra ý kiến bình luận về nhận định sau:
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm hỗ trợ cho việc triển
khai thành công các khu công nghiệp tại Việt Nam.
Bài làm:
I. Nhận xét về giáo viên và mức độ cần thiết của môn học với công việc:
1. Nhận xét về giáo viên:
2. Mức độ cần thiết của môn học với công việc:
Kinh tế quốc tế là môn khoa học kinh tế nghiên cứu tính quy luật của sự phụ
thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia, nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa,
dịch vụ, sự vận động của các yếu tố sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và cán cân
thanh toán giữa các quốc gia, nghiên cứu các chính sách điều chỉnh quá trình vận
động và trao đổi.
Sự hình thành và phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế là một tất yếu khách
quan. Ban đầu đó là sự trao đổi sản phẩm giữa các quốc gia có sự khác biệt về điều
kiện tự nhiên như đất đai, khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, khí hậu,…
Tiếp theo, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, giữa các nước còn nảy sinh
sự khác biệt về trình độ kỹ thuật, bí quyết công nghệ, nguồn vốn tích lũy, nguồn
lao động, trình độ quản lý… Điều đó dẫn tới sự trao đổi các yếu tố của quá trình tái
sản xuất, tức là làm cho trao đổi quốc tế phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.
Cơ sở của việc hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế con do lợi ích
trong chuyên môn hóa, trong việc đạt tới quy mô tối ưu của từng ngành sản xuất,
trong việc đa dạng hóa nhu cầu tiêu dùng của dân cư và sự khác biệt trong nhu cầu
và khả năng thanh toán của họ…
1
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng
mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để tới vị trí thuận
lợi trong nền kinh tế thế giới. Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phát triển mạnh
mẽ lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và di
chuyển quốc tế về lao động, hợp tác về kinh tế và khoa học – công nghệ, các dịch
vụ thu ngoại tệ ( giao thong vận tải quốc tế, du lịch quốc tế, thông tin liên lạc quốc
tế… ). Trên ý nghĩa đó việc nghiên cứu môn học kinh tế quốc tế là rất cần thiết, có
2. Mục đích chọn chủ đề:
- Thứ nhất, góp phần phân tích đánh giá tính khách quan, những khó khăn,
thuận lợi và vai trò của nguồn nhân lực đối với sự hình thành và phát triển các khu
công nghiệp.
- Thứ hai, phân tích những bài học kinh nghiệm trong chính sách đào tạo
nguồn nhân lực của đất nước nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho các khu
công nghiệp.
- Thứ ba, trên cơ sở đó, tìm hiểu thực trạng, đề xuất một số chính sách thu
hút và đào tạo nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi:
Phạm vi của chủ đề giới hạn ở các khu công nghiệp của Việt Nam. Phương
châm chủ đạo trong việc nghiên cứu, phân tích đề tài là tôn trọng hiện thực khách
quan. Trên cơ sở thực tiễn về nguồn nhân lực đang diễn ra tại Việt Nam để tìm ra
những giải pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các khu công
nghiệp, tạo đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển.
4. Nội dung:
Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh lúa nước lâu đời, vốn là một đất
nước thuần nông, lao động chủ yếu là thủ công, kỹ thuật còn thô sơ lạc hậu nên
trong một thời gian dài nền kinh tế còn phát triển chậm không theo kịp với sự đi
3
lên nhanh chóng của các nước trên thế giới. Trong thời đại ngày nay, muốn phát
triển kinh tế nhanh thì trước hết phải xây dựng một nền tảng khoa học kỹ thuật
vững chắc. Do đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đề ra chiến lược phát
triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm tới là đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện
đại hoá theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ
bản là một đất nước công nghiệp. Nước công nghiệp ở đây được hiểu là một đất
nước có nền kinh tế mà trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Để thực hiện muc tiêu tổng quát trên một cách thành công đòi hỏi phải có
các tiền đề cần thiết, xây dựng các khu công nghiệp mới trên toàn quốc trên cơ sở
nay, lao động làm công ăn lương có khoảng 25,6% (khoảng 11 triệu lao động) thì
80% tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, khu công nghiệp
tập trung. Về cơ bản, khu công nghiệp sản xuất sảnphẩm dùng cho xuấtkhẩu. ở đó,
doanh nghiệp được thử thách trong môi trường cạnh tranh sôi động không chỉ
trong nước, mà còn trong môi trường cạnh tranh quốc tế rất gay gắt tạo tiền đề để
không ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề lao động.
Thứ tư, quan hệ lao động trong các khu công nghiệp bước đầu được thực
hiện trên cơ sở thỏa thuận và tự định đoạt của các bên theo nguyên tắc của thị
trường và của pháp luật. Khu công nghiệp có mô hình tổ chức và quản lý nói
chung, tổ chức và quản lý nhân lực nói riêng, rất tiên tiến, đạt trình độ quốc tế và
5
đa dạng, phụ thuộc vào nguồn xuất xứ của FDI (Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Công,
Đài Loan, Xin-ga-po, EU, Mỹ…). Đây là môi trường tốt thúc đẩy việc đào tạo,
chuyển giao khoa học quản lý đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp của Việt Nam
có thể thay thế dần lao động quản lý người nước ngoài.
Yêu cầu cấp thiết là tiếp tục phát triển thị trường lao động trình độ cao ở các
khu công nghiệp. Đây là thị trường có khả năng cạnh tranh không chỉ trong nước,
mà còn tham gia vào thị trường quốc tế. Như vậy, một trong những yếu tố quyết
định chất lượng, sự thành công của các khu công nghiệp, đặc biệt là những khu
công nhiệp đang trong quá trình hình thành như ở Việt Nam, là nguồn nhân lực!
Chúng ta cùng xem xét cơ sở khoa học cho chiến lược phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao:
- Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
gắn với kinh tế tri thức. Triển khai các khu công nghiệp tại Việt Nam là từng bước
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng ta khẳng định là
nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă hội. Tại Đại hội X,
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức” trở
thành một nội dung lớn về chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong những
thập niên tới. Đại hội chỉ rõ: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra
và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá tŕnh công nghiệp hóa, hiện đại
Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế. Về trình
độ khoa học và công nghệ của một số nước so với Việt Nam: Hiện nay, tỷ lệ sử
dụng công nghệ cao trong công nghiệp ở Philippine chiếm 29%; Thái Lan là
30,8%; Malaysia là 51,1%; Singgapore là 73% và Việt Nam là 20%. Chất lượng
của nguồn nhân lực thấp là những cản trở rất lớn cho quá trình đẩy nhanh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức ở Việt Nam. Vì vậy, cần phải tập
trung mũi nhọn vào việc tăng trưởng chất lượng của nguồn nhân lực (bao gồm cả
thể lực và trí lực), mà trực tiếp nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nước ta đang đứng trước thách thức rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng
cao. Nguồn nhân lực này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ bé trong tổng thể nguồn nhân
lực. Hiện nay cả nước có khoảng 1,5 triệu người có tŕnh độ cao đẳng, đại học trở
lên; riêng phó giáo sư và giáo sư là 5.784 người (tính đến tháng 12/2005). Trong số
cán bộ có tŕnh độ trên đại học, phần lớn tập trung làm việc tại các trường đại học,
các cơ quan Trung ương và tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2005, lao động qua đào tạo mới đạt trên 25%,
trong đó, lao động qua đào tạo nghề còn rất thấp, khoảng trên 13%. Riêng trong
lĩnh vực công nghiệp, tŕnh độ chuyên môn, tay nghề của công nhân trong các loại
hình doanh nghiệp năm 2005 như sau:
- Lao động có tŕnh độ từ cao đẳng trở lên chiếm 16,1%.
- Lao động được đào tạo trình độ trung cấp chiếm 14,6%.
- Lao động là công nhân kỹ thuật chiếm 28,1%.
- Không được đào tạo chiếm 41,2%.
Hiện nay, ở các khu công nghiệp, khu chế xuất đang thiếu nghiêm trọng lực
lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Đặc biệt, chỉ có 75,85% công nhân đang
8
làm những công việc phù hợp với ngành nghề được đào tạo. Điều này làm ảnh
hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm và gây lăng phí lớn trong đào tạo.
Hơn nữa, hiện tượng “thất thoát chất xám” ra nước ngoài và tại chỗ có xu
hướng trẻ hóa và ngày càng gia tăng. Hiện nay, một số lượng không ít học sinh,
sinh viên bằng nhiều con đường khác nhau đang được học tập, đào tạo ở nhiều
người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất còn rất thấp.
Ở nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh công nghiệp hoá đồng nghĩa với việc gia
tăng mạnh mẽ nhu cầu về mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như các khu
công nghiệp. Mặt trái của quá trình công nghiệp hoá cho thấy thay vì biến người
nông dân thành công nhân thì lại biến họ thành những người thất nghiệp, trở thành
gánh nặng cho gia đình và xã hội. Thực tế này đã trở thành một thách thức lớn, đặt
ra yêu cầu cấp bách phải có những chính sách kịp thời từ phía Chính phủ cũng như
doanh nghiệp nhằm tạo cho người dân có việc làm để ổn định đời sống. Các nhà
quản lý chưa thực sự ý thức vấn đề bảo vệ môi trường, đảm bảo các vấn đề xã hội
đời sống người lao động, nhà ở công nhân trong quản lý hoạt động các khu công
nghiệp, khu chế xuất nhằm mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững khu công
nghiệp, khu chế xuất dẫn tới quản lý việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi
trường, pháp luật về lao động của doanh nghiệp còn lỏng lẻo.
=> Bài học kinh nghiệm và kế hoạch hành động:
10
Để nâng cao chất lượng của tổng thể nguồn nhân lực, Đại hội X tập trung
vào những giải pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị mới của con người Việt
Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế; đồng thời đề cao việc bồi dưỡng các giá trị văn hoá cho con
người Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến đối tượng thanh niên, học sinh,
sinh viên - thế hệ trẻ chủ nhân tương lai xây dựng đất nước. Văn kiện Đại hội ghi
rõ: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên,
đặc biệt là lư tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá
con người Việt Nam”.
Thứ hai, đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo
dục, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lư, nội dung, phương pháp dạy và học;
thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hóa, xã hội hóa” giáo dục. Đặc biệt, điểm mới về
vực, đồng thời nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công
nghệ để vừa nghiên cứu sáng tạo khoa học, công nghệ mới vừa ứng dụng có hiệu
quả những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới vào Việt Nam một
cách phù hợp.
Tại Đại hội lần này, chiến lược người tài cũng rất được coi trọng và đã được
cụ thể hoá thêm một bước, bởi vì chỉ khi nào xây dựng được chiến lược người tài
12
đúng đắn và hiện thực hoá nó trong cuộc sống thì chúng ta mới thực sự có nguồn
nhân lực chất lượng cao. Khẳng định điều này, Đại hội chỉ rõ: “Chú trọng phát
hiện, bồi dưỡng , trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công
trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề
cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngoài
nước, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.
Tóm lại, những điểm mới trong phát triển nguồn nhân lực được nêu tại Đại
hội X một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam coi “con người
là vốn quý nhất”, do đó đầu tư phát triển con người toàn diện, đặc biệt là không
ngừng tăng trưởng chất lượng của nguồn lực con người Việt Nam chính là khâu đột
phá để triển khai thành công các khu công nghiệp tại Việt nam, từng bước đưa Việt
Nam sớm thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và vươn lên trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong tương lai không xa!
………………………………………………
13