BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hóa
ĐNA : Đông Nam Á
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội ( Gross Deverlopment product )
HĐH : Hiện đại hóa
KH – CN : Khoa học – công nghệ
KT – XH : kinh tế - xã hội
NLĐ : Nguồn lao động
NN : Nông nghiệp
NNL : Nguồn nhân lực
NNL : Nguồn nhân lực
NT : Nông thôn
THPT : Trung học phổ thông
VAC : Mô hình nông nghiệp Vườn – Ao – Chuồng
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
3
Thực hiện đường lối “ Đổi mới “ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, Đảng và
Nhà nước ta luôn nhấn mạnh tầm vai trò quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực về cả
số lượng và chất lượng. Ngày nay, trong quá trình hội nhập, phát triển kinh tế quốc tế, thì
vấn đề chất lượng nguồn lao động ngày càng được quan tâm nhiều hơn trở thành vấn đề
trọng yếu trong cạnh tranh phát triển đất nước với các quốc gia trên thế giới. Việt Nam sau
hơn 25 năm đổi mới, với những thành tựu đã đạt được như tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở
mức cao và ổn định so với các nước trong khu vực và trên thế giới, vị thế trên đấu trường
quốc tế được nâng cao, mức sống nhân dân ngày càng được nâng cao và một trong những
nguyên nhân chính tạo nên những thành tựu to lớn như vậy đó chính là nhờ vào sự quan tâm
đầu tư đúng mức vào phát triển nguồn lực con người – lực lượng sản xuất cơ bản, quan trọng
nông nghiệp trở thành một vấn đề cấp bách, mang tính chiến lược trong sự nghiệp CNH
HĐH, phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà trong những năm tới. Đứng trước những yêu
cầu đó nhóm chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong ngành nông nghiệp ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện
nay “ làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chất lượng NNL là một đề tài khá hay và khá rộng nó có nhiều khía cạnh khác nhau
cần được đề cập nghiên cứu. Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa
học, khóa luận, luận văn nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực. Có thể kể đến Luận văn
thạc sĩ khoa họa kinh tế “ Nâng cao chất lượng nguồn lao động, nông nghiệp nông thôn trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thị xã Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế “ của
Nguyễn Thị Thu Thủy, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế của Giáp Nguyên Nhật về “ Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp nông thôn ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế “. Song chưa có đề tài nào đề cập nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực trong
ngành nông nghiệp ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Chính vì vậy đây cũng là một lý do
để chúng tôi lựa chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành nông
nghiệp ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu khoa học cấp trường của mình.
3 Mục tiêu đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu đề tài:
5
- Khảo sát nghiên cứu thực trạng đặc điễm chất lượng NNL ở huyện Vĩnh Linh,
tỉnh Quảng Trị.
- Trên cơ sở thực trạng, đặc điễm của chất lượng NNL ở huyện đưa ra những
quan điểm, phương hướng giải pháp khắc phục và nâng cao chất lượng NNL
trong ngành nông nghiệp cho huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn của chất lượng NNL trong
ngành nông nghiệp.
- Phân tích thực trạng chất lượng NNL trong ngành nông nghiệp trên địa bàn
Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp ở huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành
nông nghiệp ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰCTRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1. Nguồn nhân lực và các nhân tố tác động đến việc nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nông nghiệp, chất
lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong
ngành nông nghiệp
Nguồn nhân lực
7
Nhân lực chính là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con
người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con
người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điền kiện tham gia vào quá trình lao động
– con người có sức lao động.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía
cạnh: Trước hết với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực
nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con
người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực
của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn
nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho
xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rải ở các nước có nền kinh tế
phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người thể hiện một
sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân
lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng
không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng những hàm ý rộng hơn.
NNL.
Theo giáo trình “ Quản lý nguồn nhân lực “ của Học viện Hành chính Quốc gia và
theo “ Tập bài giảng NNL “ của trường Cao đẳng Lao động – xã hội, NNL là tiềm năng
về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác
định trên phạm vi một địa phương, một ngành hay một vùng”.
Theo GS Phạm Minh Hạc thì NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người,
bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và
phong cách làm việc. [19,11]
Lại có quan điểm cho rằng: “ Nguồn nhân lực con người là sự kết hợp thể lực và
trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới
phát triển của con người “. [20,3]
Như vậy dựa vào các quan niệm trên chúng ta có thể hiểu “ NNL của một quốc gia
một vùng lãnh thổ là tổng thể khả năng và năng lực của dân cư nơi đó có thể tham gia
vào quá trình lao động ở hiện tại và tương lai để sản xuất ra hàng hóa và sản phẩm cho xã
hội “. Khả năng và năng lực tham gia ở đây chính là việc sẳn sàng hoặc không sẳn sàng
tham gia lao động và là tổng thể năng lực về tổng thể các yếu tố thể lực, trí tuệ và tâm lực
của vốn dân cư có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước.
Chất lượng nguồn nhân lực
9
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện
mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong nguồn nhân lực. Chất
lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà
còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng NNL
cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển,
mà cò thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.
Chất lượng NNL là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về
trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của
nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi
hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Trong đó:
Trí lực ( năng lực tinh thần) của NNL: đây là một tiêu chí được xem là quan trọng
nước. Định hướng phát triển trong giai đoạn cách mạng mới – giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất – kỷ thuật hiện đại cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh “. Về thực chất, đó là sự phát triển vì con người, vì cuộc sống ấm no hạnh phúc
cho quần chúng nhân dân lao động. Mọi sự phát triển của xã hội trong các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều do con người quyết định và đều vì sự phát triển con
người. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu phát triển con người, như Đảng ta đã
khẳng định, chỉ có thể thắng lợi với việc phát huy cao độ nâng cao chất lượng NNL.
Nguồn nhân lực nông nghiệp là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội bao gồm
toàn bộ những người lao động đang làm việc (gọi là những người lao động dưới dạng tích
cực) và lao động tiềm tàng (là những người có khả năng lao động song lại chưa tham gia
lao động) thuộc khu vực nông nghiệp nông thôn. Chất lượng NNL trong ngành nông
nghiệp là trình độ khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu tạo thành lực
lượng lao động nông nghiệp. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp là tổng
thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao
chất lượng từng con người lao động trong ngành nông nghiệp (trí tuệ, trí lực và đạo đức
phẩm chất) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển sản xuất trong ngành
11
nông nghiệp nói riêng và cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển
nói chung. Nâng cao chất lượng NNL nông nghiệp chính là sự tăng cường sức mạnh và
kỷ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao
động nông nghiệp lên đến một trình độ nhất định để có thể hoàn thành đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia. Từ đó
có thể hiểu chất lượng NNL trong ngành nông nghiệp là trạng thái nhất định, trình độ
khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu tạo thành lực lượng lao động
trong ngành nông nghiệp.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp là quá trình phát triển thể
lực, trí lực khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và
Người lao động ngày càng tiếp cận gần hơn với những công việc có chất lượng cao, thu
nhập ổn định. Điều này là cốt lỗi tạo nên một đời sống vật chất, tinh thần tốt hơn cho
NLĐ, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao rõ rệt. Hơn nữa việc đưa khoa học kỹ
thuật công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất ở trong các nhà máy xí nghiệp, doanh
nghiệp, cơ quan nhà nước hay ngay trên cánh đồng, vùng đất nhưng khi NLĐ chưa kịp
phát triển để thích nghi với những thay đổi tích cực đó buộc họ những người đứng đầu
cóa tổ chức, doanh nghiệp, hay ban lãnh đạo xã, huyện, tỉnh phải có những chính sách
cũng như đầu tư cho việc đào tạo nâng cao sự hiểu biết, chất lượng NNL. Việ này là một
quá trình góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Bên cạnh những mặt tích cực mà sự phát triển kinh tế mang lại thì nó còn có sự
tác động cả về tiêu cực đến chất lượng nguồn nhân lực.
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với quá trình đô thị hóa, thay đổi trong cuộc sống đó
có thể kể đến là: Ô nhiễm môi trường tăng cao, tỷ lệ tai nạn gia tăng đáng kể ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân. Do thu nhập tăng lên và sự thay đổi trong lối
sống nên ở các đô thị xuất hiện nhiều hơn những lối sống sai lệch, ảnh hưởng của những
văn hóa không tốt từ các nước Phương Tâytồn tại phổ biến đồng thời mô hình bệnh tật
của nước nghèo và của “ mức sống cao “. Ở Việt Nam do đang ở trong thời kỳ chuyển
đổi kinh tế thì tác động của những biến đổi kinh tế xã hội đến chất lượng nguồn nhân lực
còn phức tạp hơn.
13
Sự phát triển cơ chế thị trường gắn liền với bất bình đẳng về thu nhập trong các
tầng lớp dân cư, giữa các ngành cũng như vùng kinh tế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới
khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế.
Đối với Việt Nam, do trình độ phát triển kinh tế xã hội còn ở mức thấp nên chất
lượng NNL chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và đưa nước ta tiến
nhanh, tiến mạnh trên con đường phát triển theo và đuổi kịp các nước trong khu vực và
trên thế giới. Do đó, trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển đất nước.
1.1.1.2. Giáo dục - đào tạo
Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, giáo dục và đào tạo
thức và kỹ năng nghề nghiệp, những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó và đó là
nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền vững. Chính sự đầu tư này, dưới giác độ xã hội, tạo
ra chất lượng nguồn nhân lực và do đó, cũng mang lại lợi ích kinh tế quốc dân, thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế. Đây chính là động lực để con người đầu tư vào giáo dục - đào tạo
và đào tạo nghề đồng thời có đã tác động tích cực làm cho chất lượng nguồn nhân lực
được nâng lên. Giáo dục - đào tạo nghề tạo ra sự “ tranh đua ” xã hội và trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề
thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ, có
kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm người “ yếu thế ”, phải làm những việc
thu nhập thấp, thậm chí không kiếm được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn
và nhận trợ cấp xã hội. Nếu những người này không tự tạo cho họ năng lực, nâng cao “
vốn nhân lực” của mình thì sớm hay muộn, họ cũng lại bị “bật” ra khỏi thị trường lao
động. Muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn này, buộc những người đó, bằng cách này hay
cách khác phải nâng cao “vốn nhân lực” của mình và cách hiệu quả nhất là đầu tư vào
giáo dục, đào tạo nghề. Vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu của nền
kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng
nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm chủ được
công nghệ. Quá trình công nghiệp hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính
sách và thể chế còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật này.
15
Đây có thể nói là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi Chính phủ các nước phải
đầu tư cho đào tạo nghề. Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi quy mô
và cơ cấu giáo dục - đào tạo nghề và qua đó, quy mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuật khác
nhau. Nếu như ở thời kỳ phát triển thấp, cơ cấu giáo dục – đào tạo theo trật tự ưu tiên sẽ
là giáo dục phổ thông- giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; thì ở thời kỳ nền kinh
tế phát triển cao (nhất là trong nền kinh tế tri thức), cơ cấu trên sẽ là giáo dục đại học -
giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông. Ngược lại, giáo dục - đào tạo nghề lại là
động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhận thức rõ được
vai trò của giáo dục, đào tạo nghề nghiệp đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân
phát triển về thể trạng và thần kinh của trẻ và năng suất lao động trong tương lai sẽ bị hạn
chế. Ở người lớn sự suy dinh dưỡng sẽ làm suy giảm năng lượng, tính năng động, sáng
tạo, sáng kiến, khả năng học tập và làm việc của họ. Thiếu dinh dưỡng thường gặp ở các
gia đình nghèo khi nguồn tài chính không đủ để họ sinh hoạt ăn uống chứ nói gì đến việc
ăn cho đầy đủ chất dinh dưỡng. Sự nghèo đói bắt nguồn từ những hạn chế về nguồn lực
( đất đai, các yếu tố đầu vào, thông tin … ), trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm hay việc
làm không ổn định , sinh nhiều con … Vì vậy mà chúng ta có thể thấy tình trạng nghèo
đói và chất lượng NNL thấp luôn có mối quan hệ cùng chiều và có sự tác động qua lại lẫn
nhau, do đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải xóa đói giảm nghèo đồng thời
với việc nâng cao chất lượng NNL. Thông qua chăm sóc sức khỏe sinh sản, bà mẹ trẻ em,
tư vấn về dinh dưỡng, tiêm phòng bệnh tật … là một cách thức đảm bảo sức khỏe cho
NLĐ trong tương lai cho cả thể lực và tinh thần khỏe mạnh. Mạng lưới chăm sóc y tế
được mở rộng sẽ đến được với những NLĐ không chỉ ở thành thị mà cả ở vùng NT, miền
núi, vùng sâu vùng xa với những thầy thuốc giỏi, thuốc tốt, phương pháp điều trị, khoa
học kỷ thuật tiên tiến đến với mọi người. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh từ đó
nâng cao được sức khỏe cho người dân cũng như nguồn nhân lực. Các cơ chế chính sách
trong công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho người dân phù hợp sẽ tạo điều kiện cho người
lao động ở mọi tầng lớp đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, khám, chăm sóc sức
khỏe. Như chế độ bảo hiểm y tế đối với từng chế độ là hộ nghèo, hộ cận nghèo, các đối
17
tượng thương binh, người khuyết tật, học sinh sinh viên … Tất cả điều này sẽ có sự tác
động đến chất lượng nguồn nhân lực trên một phạm vi rộng.
1.1.1.4. Các chính sách của nhà nước
Không ai có thể phủ nhận được tầm vai trò quan trọng to lớn của chính phủ đối
với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia nói chung và nguồn nhân lực trong
ngành NN nói riêng. Vai trò đó được thể hiện qua các chính sách, thể chế pháp luật tạo
điều kiện cũng như hỗ trợ phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua phát
triển các hệ thống giáo dục cả chiều sâu và chiều rộng, phát triển kinh tế - xã hội về cơ sở
hạ tầng vật chất. Các chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng giáo dục
thông qua các chính sách đổi mới cơ chế phương pháp giáo dục, đào tạo gắn liền với nhu
những hiệu quả sản xuất cao trong lao động sản xuất trên những cánh đồng, trong các xí
nghiệp nhà máy. Sự phát triển của nền kinh tế tri thức cùng với sự bùng nỗ của khoa học
công nghệ thông tin đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thoa và giao lưu các nền văn
minh tiên tiến trên thế giới giữa các quôc gia dân tộc trên thết giới. Việc giao lưu này sẽ
giúp con người lao động trong mỗi dân tộc mỗi quốc gia sẽ tiếp thu làm phong phú và bồi
đắp thêm tinh hoa văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc khác vào truyền thống
của mình để hình thành một bản sắc văn hóa truyền thống ưu trội óp phần tạo nên NLĐ
với chất lượng cao trong NNL.
1.2. Đặc điểm của nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp và yêu cầu nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực
1.2.1. Đặc điểm nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp
Do đặc điểm của sản xuất NN có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác.
Vì vậy, lao động trong ngành NN cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành
kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất: Chất lượng nguồn lao động nông nghiệp chưa cao
Chất lượng của người lao động được đánh gía qua thể lực sức khoẻ sức dai bền bỉ ,
trí lực trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, đạo đức phẩm chất. Hầu hết lao động trong
ngành NN đều sống ở nông thôn thu nhập còn thấp chưa ổn định đời sống còn nhiều khó
khăn nên chất lượng cuộc sống trong từng hộ gia đình chưa được đảm bảo. Khi cuộc
sống còn khó khăn cơm ăn còn thiếu nói gì đến việc ăn đủ chất hay không nên thể lực sức
19
khỏe của họ còn nhiều hạn chế. Quá chăm lo công việc kiếm sống nên dường như việc
chăm lo sức khỏe bản thân chưa thực sự được họ xem trọng. Nhất là ở những vùng còn
quá khó khăn bất chấp những công việc nguy hiểm cho sức khỏe họ vẫn tham gia để mưa
sinh. Tình trạng sức khỏe, sức dẻo dai thấp nó không thể mang lại một kết quả lao động
tốt nhất.
Phần lớn lao động trong ngành NN chỉ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông
trở xuống họ ít được đào tạo bài bản qua trường lớp về khoa học kỹ thuật, công nghệ quy
trình sản xuất cũng như có cơ hội tìm hiểu về bản chất đặc điễm cụ thể từng loại vật nuôi
cây trồng. Họ chỉ dựa trên kinh nghiệm thế hệ trước để lại và cộng với vốn hiểu biết ít ỏi
Lao động nông nghiệp còn kém về khả năng sáng tạo trong lao động. Do trình độ
học vấn, chuyên môn kỹ thuật còn thấp cộng với những suy nghĩ ỉ lại, trông chờ, kém
năng động mà người lao động ít có những sáng kiến, sáng tạo trong lao động. Người lao
động làm việc với những cây trồng vật nuôi quen thuộc, gắn bó với những phương pháp
lao động truyền thống kém hiệu quả không còn phù hợp với sự phát triển của các công
nghệ kỹ thuật hiện đại. Họ chưa biết cách vận dụng đầu óc, suy nghĩ của mình để tạo ra
những sáng kiến trong lao động như việc tiến hành lai ghép vật nuôi cây trồng mới cho
năng suất cao khả năng thích nghi trong điều kiện thời tiết khí hậu một cách tốt hơn, áp
dụng các phương pháp lao động mới giúp nâng cao năng suất lao động trong sản xuất.
Khả năng nhận thức còn kém. Người lao động nông nghiệp sống ở nông thôn và
tồn tại trong xã hội này với những hũ tục, tập quán còn lạc hậu, khiến nhận thức còn
nhiều yếu kém. Tư tưởng trọng nam khinh nữ cho rằng nữ thì không nên học nhiều, làm
nông thì cần gì phải đi học cho cao làm cho trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật lao
động bị hạn chế. Sinh nhiều con với quan điểm trời sinh voi trời sinh cỏ, nhà đã nghèo
nay lại nghèo hơn khiến chất lượng cuộc sống của phần lớn lao động nông nghiệp còn
thấp không được cải thiện.
Lao động nông nghiệp là lực lượng lao động dễ bị tổn thương tuy nhiên khả năng
thích ứng với những thay đổi của xã hội còn thấp. Làm việc trong điều kiện ngoài trời là
21
chủ yếu, chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt mưa nắng
thất thường, bão lũ thiên tai luôn rình rập. Khả năng chóng chọi của người lao động còn
thấp khi những thiên tai đi qua người dân thường bị mất đi hàng chục hecta hoa màu, cây
trồng nhà cửa. Khi đất nước tiến hành CNH – HĐH chuyển đổi cơ cấu kinh tế giảm bớt
tỷ trọng nông nghiệp số ruộng đất ngày càng thu hẹp, lao động mất việc làm ngày càng
tăng lên người lao động ít có khả năng tìm kiếm một công việc mới ổn định tạo thu nhập.
Thứ tư: Thu nhập của nguồn lao động trong ngành nông nghiệp còn thấp.
Phần lớn lao động tham gia lao động sản xuất trong ngành nông nghiệp có thu
nhập thấp so với lao động các ngành nghề khác. Nguyên nhân là việc hoạt động sản xuất
NN còn mang tính bất ổn định, công việc kết quả sản xuất còn phụ thuộc quá nhiều vào
các yếu tố thiên nhiên hoặc thị trường mua bán chưa được người dân làm chủ. Họ chưa
nhân lực trong ngành NN nói riêng. Thực trạng nguồn nhân lực trong ngành NN ở nước
ta hiện nay có nhiều thay đổi cả về số lượng và chất lượng.
Tỉ trọng nguồn nhân lực trong ngành NN ở nước ta đang có xu hướng giảm. Khu vực
nông thôn chính là nơi chiếm ¾ lao động cả nước nhưng tập trung chủ yếu trong ngành
NN hầu như toàn bộ lao động NN đều tập trung ở khu vực nông thôn. Năm 2006 cả nước
có 24,37 triệu lao động làm việc trong ngành NN nhưng riêng khu vực nông thôn đã có
23,17 triệu người chiếm 95,1%. Nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy, giai
đoạn 1996 – 2006 tỷ lệ lao động NN đã có chuyển biến, giảm từ 82,3% trong tổng lao
động nông thôn năm 1996 xuống còn 69% năm 2006. Đặc biệt, tốc độ giảm lao động
trong lĩnh vực NN đang có xu hướng nhanh hơn trong những năm gần đây khi cơ hội
việc làm trong lĩnh vực phi NN phát triển mạnh. Năm 2000 cơ cấu lao động trong cả 3
khu vực nông – lâm – thủy sản là 60,2% lao động cả nước đến năm 2005 con số đó là
55,1% và đến 2011 thì số lao động trong khu vực này chỉ còn lại là 48,1% đã có sự suy
giảm tỷ trọng lao động NN. Tính đến thời điểm 1/10/2012, cả nước có 53,1 triệu người từ
15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, bao gồm 52,1 triệu người có việc làm. Gần 70%
23
lực lượng lao động thuộc khu vực nông thôn.Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao hơn khu
vực nông thôn (3,3% so với 1,4% trong 3 quý đầu năm 2012. Lực lượng lao động trong
độ tuổi lao động tại thời điểm 01/10/2013 là 47,7 triệu người, tăng 366 nghìn người so
với thời điểm 01/7/2013, trong đó nam chiếm 53,7%; nữ chiếm 46,3%. Lao động từ 15
tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế chín tháng năm 2013 ước tính 52,4
triệu người, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm
việc chín tháng năm nay của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng số,
không biến động nhiều so với năm trước.
Chất lượng NNL trong ngành NN còn thấp. Chất lượng thấp của NNL ở khu vực
NN, nông thôn thể hiện qua tỷ lệ không biết chữ là 4,79%, tốt nghiệp trung học phổ
thông cơ sở là 34,59% và tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở là 11,18%. Nếu đánh giá
trình độ văn hóa bình quân theo giới tính có thể thấy số năm đi học văn hóa trung bình
của lao động trong ngành NN thấp hơn so với các ngành nghề kinh tế khác. Ngoài ra
trình độ học vấn còn cho người lao động khá năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm
bảo tính nhân văn đặt ra yêu cầu phải thúc đẩy gia tăng các chỉ số về chuyên môn, nghiệp
vụ, thể lực và các phẩm chất khác của người lao động đồng thời mở ra cơ hội lựa chọn,
chủ động, sáng tạo của nguồn nhân lực.
Đảm bảo nhân lực NN phải đáp ứng được khả năng chuyển đổi nhanh, tính năng
động cao ứng phó kịp thời với những biến đổi khó lường của thiên nhiên, thay đổi khí
hậu có phương án thay đổi kế hoạch sản xuất, trồng trọt để mang lại hiệu quả nhất. Đất
nước đang trong quá trình xây dựng công cuộc CNH – HĐH đòi hỏi nguồn nhân lực phải
đảm bảo yêu cầu chuyển đổi chỗ làm việc, chuyển đổi nghè nghiệp, thay đổi kịp thời xu
hướng phát triển và cấc trúc của nền kinh tế.
Nguồn nhân lực trong ngành NN với công việc canh tác sản xuất trên tư liệu sản
xuất của chính bản thân, gia đình là chủ yếu nên phải có khả năng làm việc hiệu quả và
có năng lực làm chủ quá trình lao động của mình. Khả năng làm việc của nguồn nhân lực
NN thể hiện ở việc lao động sản xuất của họ có mang lại hiệu quả cao hay không về mặt
chất lượng, hiệu quả sản xuất, với yêu cầu chuyên môn kỹ thuật cao hơn, phạm vị đào tạo
25