1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn giao thông một vấn đề được xã hội ngày càng quan tâm, bởi số
tử vong cũng như di chứng để lại do tai nạn giao thông mà khi nghe những
con số này không ai không khỏi băn khoăn. Tai nạn giao thông thực sự trở
thành “đại dịch” ở tất cả các nước trên thế giới, mỗi năm có hơn 1,2 triệu
người chết vì tai nạn giao thông đường bộ và khoảng 50 triệu người khác bị
thương (theo báo cáo của WHO và World Bank), nó để lại những hậu quả
nặng nề cho người dân (tàn phế, giảm hoặc mất sức lao động, mất mát tinh
thần, vật chất…) ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế quốc gia mỗi nước [21].
Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI, sự ra đời của phương tiện giao thông tốc độ cao, quá
trình đô thị hóa nhanh chóng, hạ tầng cơ sở dành cho giao thông phát triển
mạnh mẽ… Tai nạn giao thông cũng gia tăng không ngừng, nó đồng hành
phát triển cùng với các bệnh nan y khác như ung thư, HIV/AIDS…[16], [37].
Theo WHO, năm 2000 tai nạn giao thông là nguyên nhân thứ chín gây
tử vong, chiếm 2,8% trong tổng số tử vong và trung bình mỗi ngày hơn 3000
người chết trong các tai nạn giao thông trên thế giới. Nếu cứ đà này đến năm
2020 số người chết và thương tật hằng ngày trên các nẻo đường trái đất sẽ
tăng hơn 60%, tai nạn giao thông sẽ đứng thứ ba trong các nguyên nhân gây
tử vong ở người nếu chính phủ các nước không có biện pháp ngăn chặn [21].
Ở Việt Nam, tai nạn giao thông thực sự đang là quốc nạn , tác động xấu
tới nhiều mặt trong cuộc sống [1]. Không những Bộ Y tế mà nhiều bộ, ngành
khác như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an,… cũng tham gia vào chương
trình phòng chống tai nạn giao thông. Đài truyền hình Việt Nam có hẳn một
thời lượng riêng dành cho điểm tin an toàn giao thông vào mỗi chương trình
thời sự buổi sáng. Thống kê ngành y tế cho thấy mỗi năm toàn quốc có trung
2
TỔNG QUAN
1.1.
Kiến thức chung về tai nạn giao thông
1.1.1. Khái niệm về tai nạn giao thông
Tai nạn giao thông (TNGT) thực chất là một hiện tượng xã hội xuất
hiện trong quá trình tham gia giao thông, vận tải hàng hóa của con người.
TNGT bắt đầu xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của các phương tiện
giao thông. TNGT mang đặc tính xã hội sâu sắc, tình trạng TNGT ở mỗi quốc
gia có những biểu hiện khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào các yếu
tố kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ quản lý của mỗi quốc gia trong việc xây
dựng các tiêu chuẩn pháp lý để nhận diện TNGT [23].
Ở Việt Nam việc phòng ngừa, đấu tranh làm giảm TNGT được Chính
phủ cũng như cả xã hội quan tâm. Tuy nhiên việc nhận diện, đánh giá về
TNGT ở nước ta vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “TNGT là việc xảy ra ngoài ý muốn chủ
quan của người điều khiển phương tiện giao thông di chuyển trên đường giao
thông… do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông đã gây thiệt hại nhất định
cho người và tài sản” [23].
Ở quan điểm trên, việc nhìn nhận về TNGT còn hạn hẹp và thiếu chính
xác, vì TNGT xảy ra không chỉ do lỗi vi phạm các quy tắc về an toàn giao
thông của người điều khiển phương tiện giao thông mà trong nhiều trường
hợp còn do lỗi của các đối tượng tham gia giao thông khác (người phơi rơm
ra đường, người dựng lều quán lấn chiếm lòng, lề đường làm hạn chế tầm
nhìn về giao thông…), cũng có trường hợp không có lỗi (trường hợp bất khả
kháng, trong thế cấp thiết…). Hơn nữa, TNGT xảy ra không chỉ là ngoài ý
5
Hơn nữa TNGT là một loại tai nạn cụ thể của tai nạn xã hội, mang tính
đặc thù của hoạt động giao thông, nên nó chỉ xảy ra khi các đối tượng tham
gia đang hoạt động trên đường giao thông. Trên cơ sở phân tích đó, TNGT
được khái niệm như sau: “Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý
muốn chủ quan của con người. Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao
thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng. Nhưng do chủ quan
vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải tình huống, sự cố
đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính
mạng sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân” [23].
Nạn nhân TNGT là những nạn nhân đang chuyển động trên đường giao
thông (đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy, đi ô tô…) tự ngã hoặc bị phương tiện khác
đâm phải mình và ngược lại. Dẫn đến bị vết thương phần mềm, chảy máu,
gãy xương, CTSN… cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế, hoặc bị hạn chế
sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu một ngày [58], [59].
Tử vong do TNGT là những nạn nhân tử vong do nguyên nhân TNGT
trong vòng một tháng khi xảy ra tai nạn [11].
1.1.2. Mô hình dịch tễ học tai nạn giao thông
TNGT được coi là nhóm bệnh hay quá trình bệnh, chứa đựng đầy đủ
các cấu phần của diễn biến bệnh, lịch sử tự nhiên của bệnh và các yếu tố dịch
tễ học của bệnh [11] [61].
TNGT luôn luôn tồn tại tối thiểu dưới dạng của các tình trạng bệnh, các
biện pháp kiểm soát TNGT rất phong phú và được sử dụng rộng rãi.
J.E.Gordon từ khoảng hơn 30 năm trước đã cho rằng TNGT khi được đặc tính
hóa theo vụ dịch, thay đổi mang tính chất mùa, xu hướng dài và các sự phân
bố theo vùng địa lý, kinh tế xã hội, thành thị nông thôn thì nó tự thể hiện theo
nhiều khía cạnh hay phương diện khác nhau giống như các bệnh truyền nhiễm
rất cổ điển và các dạng bệnh họ khác đã được thể hiện cặn kẽ. Trong thực tế.
CTSN do TNGT
Tổn thương não
Đâm vào cây/cột điện/đập
đầu vào vật cứng
Năng lượng động học
Vật truyền trung gian Muỗi Anopheles
Xe máy
Hoạt động
Đi xe máy
Yếu tố cá thể/vật chủ
Yếu tố phương tiện
Đang ngủ
Đáp ứng miễn dịch Say rượu, trẻ tuổi, nam giới,
thấp
mệt mỏi…
Màn chống muỗi
Xe máy
Nhà không được phun Đường cua không có biển
Hai là, hiện tượng coi thường kỷ cương trật tự giao thông, vi phạm
pháp luật, chuyển hướng thiếu thận trọng, chở quá quy định, say bia rượu,
chất kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông [18].
Chứng tỏ nguyên nhân dẫn đến TNGT là do người điều khiển phương
tiện tham gia giao thông do chính ý thức chủ quan của họ, do thiếu hiểu biết
luật lệ giao thông hoặc có hiểu biết luật lệ giao thông nhưng cố tình vi phạm.
Với người điều khiển phương tiện giao thông có giấy phép lái xe chiếm
tỉ lệ tương đối cao nhưng thực chất việc học luật và sát hạch cấp giấy phép lái
xe chất lượng không cao, lấy giấy phép lái xe chỉ để đối phó khi lực lượng
cảnh sát giao thông kiểm tra, còn mục đích để hiểu biết và chấp hành nghiêm
túc luật lệ giao thông bị cọi nhẹ. Do đó số vụ TNGT mà phần lớn là người
điều khiển có giấy phép lái xe, những lỗi gây tai nạn mà chủ yếu là do không
chấp hành luật lệ giao thông.
8
Ba là, cơ sở hạ tầng giao thông (đường xá, cầu cống, tổ chức chỉ huy
giao thông, biển báo, tín hiệu giao thông của mạng lưới giao thông đường bộ)
còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được với sự phát triển và nhu cầu của giao
thông vận tải (GTVT). Cộng với sự tàn phá làm hư hỏng, xuống cấp đường
xá, cầu cống do thiên tai, khí hậu. Từ đó ảnh hưởng tới an toàn giao thông và
tai nạn tăng. Đặc biệt công tác tổ chức giao thông ở các thành phố lớn chưa
khoa học, chưa hợp lý, trật tự ATGT chưa được đảm bảo [18].
Bốn là, do phương tiện ô tô, mô tô, xe gắn máy… tăng quá nhanh về số
lượng chủng loại, chất lượng không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn cũng
là nguyên nhân gây TNGT [18].
Những năm gần đây số lượng mô tô, xe gắn máy, ô tô lưu hành ở nước
ta tăng quá nhanh. Nhà nước cho phép nhập cả xe đã qua sử dụng, xe mới đa
dạng về chủng loại của tất cả các nước, chưa có sự phối hợp của Bộ GTVT và
các nước đang phát triển là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình
trạng TNGT ở các nước này. Điển hình là ở Thái Lan, năm 1947 nguyên nhân
tử vong do TNGT chỉ đứng hàng thứ sáu nay chuyển lên hàng thứ nhất. Chỉ
riêng các trường hợp tử vong do TNGT đã chiếm số năm sống tiềm tàng bị
mất nhiều hơn cả các trường hợp tử vong do Lao và Sốt rét cộng lại [26].
Theo Lopez ở các nước đang phát triển: Nam giới có nguy cơ TNGT
thường cao hơn nữ giới, những người uống rượu có nguy cơ TNGT cao hơn
người không uống, những trẻ được giáo dục ATGT thấp có nguy cơ TNGT
cao hơn những trẻ được giáo dục ATGT cao [56].
1.1.6. Vấn đề kiềm chế và phòng ngừa tai nạn giao thông
Phòng ngừa chủ động: Đòi hỏi có sự tham gia và cộng tác của cá nhân
tham gia giao thông. Điều này dẫn đến hậu quả của phòng ngừa phụ thuộc
vào việc sử dụng đúng biện pháp phòng ngừa. Mục đích là thay đổi hành vi
[57].
10
Phòng ngừa thụ động: Là biện pháp có hiệu quả nhất trong kiềm chế
TNGT, không đòi hỏi có sự tham gia của cá nhân, biện pháp phòng ngừa hay
bảo vệ chủ yếu được thiết kế để có thể tự động tham gia vào phòng ngừa.
Mục đích là thay đổi môi trường hay phương tiện sử dụng [57].
GTVT phát triển ngày càng nhanh để phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước thì yêu cầu về đảm bảo trật tự ATGT càng cấp
bách và nặng nề. Muốn kiềm chế sự gia tăng của TNGT phải tiến hành đồng
bộ các biện pháp. Trước hết xóa bỏ, khắc phục hạn chế những nguyên nhân
nêu trên, nhất là con người, phương tiện và phát triển hạ tầng cơ sở giao thông
[18].
Cụ thể là:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn luật lệ giao
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về trật tự ATGT (về tăng cường
phương tiện giao thông công cộng, về quản lý kiểm định phương tiện cơ giới,
về đào tạo người điều khiển phương tiện xe cơ giới, về quản lý phương tiện
giao thông…).
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự ATGT, nhất là bộ luật
giao thông để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về trật tự ATGT.
Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát (TTKS), xử lý vi phạm. Đây là
hoạt động công khai thường xuyên và có tác dụng nhiều mặt như: làm tăng
tính tự giác của người tham gia giao thông, ngăn ngừa hạn chế các trường hợp
vi phạm, xử lý kịp thời các trường hợp sai phạm và còn tạo tâm lý yên tâm
cho người tham gia giao thông trên các tuyến đường. Đồng thời sự có mặt của
lực lượng TTKS cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm, chặn đứng
được tệ nạn đua xe, lạng lách, đánh võng…
Tóm lại, kiềm chế sự gia tăng TNGT cần có nhiều biện pháp, giải pháp
và phải được tiến hành một cách đồng bộ, quyết liệt, liên tục. Điều này chắc
12
chắn sẽ góp phần thực hiện ATGT, đó là hạnh phúc của mọi người, mọi gia
đình.
1.2.
Tình hình tai nạn giao thông và các nghiên cứu trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX, năm 1896 khi chiếc ô tô đầu tiên ra đời, chạy thử ở
nước Anh thì 10 ngày sau đã cán chết 02 người, đó là vụ TNGT đầu tiên. Ba
năm sau 1899, sau khi ô tô phát triển sang Mỹ cũng xảy ra cán chết 01 người
và các năm sau cho đến thập kỷ sau TNGT cứ thế tăng lên, cho đến cuối thế
kỷ XX đầu thế kỷ XXI tai nạn giao thông tăng lên một cách kinh khủng trên
những năm thập kỷ 80. Tỷ suất tử vong liên quan đến giao thông tính trên
100.000 dân: 2,5 ở Ethiopia, 13,4 ở Kenia và 10 ở Thụy Điển. Khi tính tỷ lệ
tử vong do giao thông trên số ô tô đăng ký thì tỷ lệ tử vong đó vượt quá Mỹ
và các nước Châu Âu [65].
1.3.
Tình hình tai nạn giao thông và các nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam sự bùng nổ của các loại phương tiện giao thông đã kéo
theo sự gia tăng đến mức báo động của chấn thương do TNGT. Theo số liệu
của Cục cảnh sát giao thông (Bộ Nội Vụ) từ năm 1990 đến tháng 5 năm 1997
trên phạm vi cả nước đã xảy ra 92.071 vụ TNGT làm chết 31.385 người. Từ
năm 1991 đến nay TNGT luôn luôn gia tăng trung bình năm sau tăng hơn
năm trước 2.000 vụ.
Theo số liệu của cuộc hội thảo phòng ngừa TNGT đường bộ năm 1993
tỷ lệ tử vong trên phương tiện giao thông là 12/10.000 [6], [26].
Qua nghiên cứu các số liệu của Bệnh viện Việt Đức, Trung tâm cấp cứu
115 Hà Nội, Trung tâm cấp cứu 115 Thái Bình, Trung tâm cấp cứu 115 Hải
Phòng, về số ca cấp cứu chấn thương do TNGT gây lên có khoảng 50% là
CTSN, gãy xương các loại, vỡ nội tạng, còn lại khoảng 50% là vết thương
phần mềm và bong gân [38].
Theo thống kê của Giáo sư Đỗ Kim Sơn- Bệnh viện Việt Đức Hà Nội
thì từ năm 1995- 1997 tỷ lệ do TNGT chiếm 65% số người bệnh tử vong của
14
bệnh viện, và trong số nạn nhân tử vong do TNGT thì 93% tử vong do CTSN,
chi phí để cứu chữa những nạn nhân bị TNGT chiếm 1/5 toàn bộ chi phí
quyết toán ngân sách cho tất cả hoạt động bệnh viện [37].
2001
25375
10622
29370
2002
27541
12985
30948
2003
20309
11566
20656
2004
17106
11684
trong độ tuổi lao động [29].
Con số TNGT những năm gần đây như sau [1], [21], [25]:
2012
2013
Năm
Số vụ
Số người chết
Số bị thương
2007
14504
12982
10628
2008
12816
11594
8064
38482
Đường bộ
35028
9540
38060
Tổng
31266
9805
32253
Đường bộ
30874
9627
31982
Trong số TNGT đường bộ năm 2013, số vụ TNGT từ ít nghiêm trọng
trở lên là 11395 vụ với số người chết là 9627 người và 8014 người bị thương;
số va chạm giao thông là 19479 và làm bị thương 23968 người; trong đó riêng
Tình hình tai nạn giao thông ở Hải Phòng
Thành phố Hải Phòng nằm ở vùng Đông Bắc, trên bờ biển thuộc Vịnh
Bắc bộ. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía
Nam giáp tỉnh Thái Bình. Với dân số 1.837.000 người, diện tích 1519,2km².
Mạng lưới giao thông liên tỉnh có tuyến quốc lộ 5 dài 106km (Hải
Phòng-Hải Dương-Hà Nội), đoạn qua Hải Phòng dài 29km. Tuyến quốc lộ 10
17
(Hải Phòng-Thái Bình, Hải Phòng-Quảng Ninh) chạy từ nam Cầu Đá Bạc đến
Cầu Nghìn dài 60km.
Mạng lưới giao thông nội đô có cấu trúc phức tạp dạng hỗn hợp, bao
gồm trục chính hướng tâm, xuyên tâm, kết hợp với một số tuyến vòng cung,
khu vực trung tâm có cấu trúc giải quạt, kết hợp dạng bàn cờ. Toàn bộ nội
thành có 216 đường phố với chiều dài 169,9km.
Mạng lưới giao thông ngoại thành chủ yếu là các tỉnh lộ với chiều dài
130,2km. Hiện trạng vận tải đường bộ Thành phố HP [42]:
Tổng số chuyến đi bình quân 01 ngày toàn Thành phố là 2.228.385
chuyến/ngày.
+ Hệ số đi lại bình quân 01 người là 1,29 lượt/người/ngày.
+ Hệ số đi lại bình quân 01 người khu vực nội thành là 1,81
lượt/người/ngày, khu vực ngoại thành là 1,01 lượt/người/ngày.
+ Phương tiện xe máy đảm nhận 37,6% tổng số chuyến đi, xe đạp đảm
nhận 61,9%, xe buýt công cộng và xe cơ quan đảm nhận 0,5%.
Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Hải Phòng về số vụ TNGT, số nạn
nhân tử vong hàng năm của một số năm gần đây như sau [43]:
Năm
25
7450
76
5132
64
2318
12
2012
7415
36
4743
27
2672
9
2013
Để thực hiện công tác đảm bảo trật tự ANGT, giảm số vụ TNGT đường
bộ, ngay từ những ngày đầu năm 2006 UBND Thành phố đã chỉ đạo các
ngành, các cấp cần tập trung quyết liệt thực hiện các mục tiêu đề ra. Cụ thể
như: cấm hoạt động xe công nông trên địa bàn toàn Thành phố từ 01/01/2006.
Tăng cường quản lý vận tải bằng ô tô, điều tra số lượng chất lượng phương
tiện và người điều khiển các phương tiện trên địa bàn Thành phố, giả tỏa các
hình thức vi phạm hành lang ATGT, tăng cường các hoạt động hưởng ứng
tháng ATGT, tổ chức các hội thi tuyên truyền luật an toàn giao thông trong
các tổ chức quần chúng, chỉ đạo Sở Văn hóa thông tin và các cơ quan tuyên
truyền của Thành phố tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục luật
giao thông đường bộ [36], [39].
19
Công tác TTKS xử lý vi phạm là một trong những biện pháp mạnh để
đảm bảo trật tự ATGT luôn được duy trì, làm thường xuyên và rộng khắp trên
tất cả các tuyến đường [42].
1.5.
Hậu quả của tai nạn giao thông
Xin nêu một vài số liệu của tổ chức Y tế thế giới để dẫn chứng cho mức
độ nghiêm trọng của hậu quả do TNGT gây ra:
Chấn thương do TNGT đứng hàng thứ nhất hoặc thứ hai trong các
nguyên nhân phải vào viện điều trị và là nguyên nhân chính gây tàn phế, làm
mất khả năng sống tiềm tàng, chiếm 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [20].
Theo R.Gracer, trung bình mỗi năm có khoảng 4.200.000 người tử
vong và 78.000.000 người bị tàn phế bởi chấn thương do TNGT. Chúng tôi
xin nêu một ví dụ của một quốc gia Châu Á-Thái Lan: từ năm 1969 chấn
tuổi 15-44 (UNICEF) [29].
Phần lớn TNGT đều để lại di chứng cho nạn nhân tùy thuộc mức độ
nặng nhẹ: can lệch, sẹo, hạn chế vận động, suy giảm hoặc mất chức năng các
cơ quan, mất một phần cơ thể và trở lên tàn phế. Nó để lại cho nạn nhân nhiều
khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt (giảm chất lượng cuộc sống) là gánh nặng
bệnh tật cho nạn nhân và toàn xã hội [10].
Davis Wemer định nghĩa tàn tật như sau: “Trong cộng đồng của bạn có
những người không đi học, không nghe thấy, không nói được, không vận
động được, không nhìn thấy hoặc có hành vi không giống những người cùng
lứa tuổi, cũng có những người có những cơn động kinh hay không có cảm
giác ở tay, chân hoặc không có những hành động giống như người cùng lứa
tuổi. Những người như vậy gọi là những người tàn tật”.
21
Ở Việt Nam, trung bình mỗi năm có hơn 11.000 người chết và hàng
chục nghìn người bị thương do TNGT đường bộ, ước tính mỗi năm thiệt hại
do TNGT đường bộ gây ra tại Việt Nam là trên 14.000 tỷ đồng [8].
Số người chết vì TNGT mỗi năm ở nước ta nêu trên tương đương dân
số 1 xã, hoặc 1 phường, gấp nhiều lần số người chết hàng năm vì đại dịch
HIV/AIDS [19].
1.6.
Giao thông Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài
Một phóng sự trên đài truyền hình Việt Nam nói đến một người Nhật
Bản đến Việt Nam công tác dài ngày, ông đưa sang xe con loại “xịn” và tự lái
nhưng chỉ vài ngày sau ông ta hoa mắt, chóng mặt vì giao thông ở Việt Nam
hỗn loạn quá sức tưởng tượng, ông đành thuê tài xế người Việt.
Nạn nhân TNGT đường bộ là những nạn nhân đang chuyển động trên
đường giao thông (đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy, ô tô…) tự ngã, hoặc bị phương
tiện khác đâm phải mình và ngược lại.
Nạn nhân tự ngã, bị phương tiện khác đâm phải mình hoặc ngược lại
phải nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người.
Nạn nhân có thương tích do TNGT phải nhập viện và điều trị nội trú tại
BVVT.
2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Nạn nhân không phải là do TNGT đường bộ, xảy ra không trên địa bàn
Hải Phòng, năm xảy ra không phải năm 2013.
Nạn nhân tai nạn nằm trong ý muốn chủ quan của nạn nhân hoặc đối
tượng khác.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là: Thành phố Hải Phòng, thành phố đô thị loại I
thuộc vùng duyên hải Bắc bộ với đầy đủ các loại hình giao thông (đường bộ,
đường sắt, đường thủy, đường hàng không).
23
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu các nạn nhân TNGT
đủ tiêu chuẩn lựa chọn. Điều tra nạn nhân TNGT đường bộ tại Hải Phòng
năm 2013 được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Việt Tiệp trong thời gian 01
năm từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013. Lấy số nạn nhân tối thiểu bằng
n.
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
Lập danh sách bệnh án đủ tiêu chuẩn theo tiêu chuẩn chọn mẫu trên.
Chọn ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu là 4.
Số chọn ngẫu nhiên đầu tiên vào nghiên cứu là 3.
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin
2.2.3.1. Công cụ thu thập
Đối với nạn nhân TNGT đường bộ được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện
Việt Tiệp chúng tôi nghiên cứu mô tả hồi cứu, dựa vào mẫu thu thập thông tin
hồ sơ bệnh án TNGT (phụ lục).
Chúng tôi tiến hành điều tra những nạn nhân này dựa vào hồ sơ bệnh án
theo những tiêu chí như đã ghi ở mẫu thu thập thông tin: tuổi, giới, nơi xảy ra
tai nạn, phương tiện gây tai nạn… Sau đó tập hợp số lượng mẫu thu thập
thông tin nạn nhân TNGT đã được nghiên cứu điều tra, trong nghiên cứu của
chúng tôi cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ nhất phải có là 430 nạn nhân, ở đây chúng
tôi lấy 519 nạn nhân TNGT đường bộ (theo cách chọn mẫu nêu trên) trong
năm 2013 đã được điều trị tại BVVT Hải Phòng.
2.2.3.2. Kỹ thuật thu thập
Sử dụng mẫu thu thập thông tin tai nạn giao thông đã được thiết kế sẵn.
Mẫu thu thập thông tin xây dựng dựa theo mục tiêu nghiên cứu.
Mẫu thu thập thông tin nạn nhân TNGT đường bộ được cấp cứu và
điều trị tại BVVT Hải Phòng bao gồm:
Các thông tin chung về nạn nhân (tuổi, giới, nghề nghiệp).
Các thông tin về thời gian xảy ra tai nạn, nguyên nhân tai nạn.
25
Các thông tin về tình hình sơ cứu, vận chuyển, cấp cứu.
Hình thái tổn thương lâm sàng.
Thời gian điều trị, phương pháp điều trị, kết quả điều trị.
Nguồn lấy từ hồ sơ bệnh án của nạn nhân trong quá trình điều trị tại
Nạn nhân bị tai nạn và tự gây tai nạn phân
theo các nhóm tuổi.
Nạn nhân TNGT với việc sử dụng mũ bảo
hiểm, tình trạng uống bia/rượu.
Nạn nhân sử dụng mũ bảo hiểm, uống
bia/rượu với CTSN.
Tác nhân gây TNGT cho nạn nhân.
Phương tiện nạn nhân sử dụng trước khi bị
TNGT.
Đường giao thông nơi nạn nhân bị TNGT,
loại đường.
Thời điểm trong ngày, tháng trong năm