i
bộ giáo dục và đào tạo
bộ tài chính
học viện tài chính
đinh hoài nam
HON THIN H THNG KIM SOT NI B TI
CC DOANH NGHIP TRONG TNG CễNG TY U
T PHT TRIN NH V ễ TH
LUN N TIN S KINH T
hà nội - 2016
ii
bộ giáo dục và đào tạo
bộ tài chính
học viện tài chính
Đinh Hoài Nam
iv
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu sinh xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới TS. Cao Tấn Khổng và TS.
Phùng Thị Đoan – giáo viên hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn để nghiên
cứu sinh có thể hoàn thành luận án này.
Nghiên cứu sinh trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp chân thành và quý
báu của các nhà khoa học, sự hỗ trợ nhiệt tình của các nhà quản lý tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị trong quá trình thu thập tài
liệu khi thực hiện luận án. Nghiên cứu sinh chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học
viện Tài chính, các đồng nghiệp trong Khoa kế toán đã tạo mọi điều kiện về vật chất
và tinh thần, giúp nghiên cứu sinh hoàn thành luận án.
Cuối cùng, nghiên cứu sinh xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã
động viên, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận án này.
NGHIÊN CỨU SINH
Đinh Hoài Nam
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN.........................................................................................................iv
MỤC LỤC ...............................................................................................................v
vi
2.1 Quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm chính và các rủi ro trọng yếu tại các
doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị................. 61
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp trong
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị....................................................61
2.1.2 Đặc điểm chính của các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát
triển nhà và đô thị ảnh hưởng đến hệ thống KSNB...........................................64
2.1.3 Các rủi ro có ảnh hưởng trọng yếu đến các mục tiêu của hệ thống KSNB
tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị..........74
2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty
Đầu tư phát triển nhà và đô thị ........................................................................... 82
2.2.1 Thực trạng môi trường kiểm soát trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công
ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị .....................................................................83
2.2.2 Thực trạng hệ thống kế toán tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu
tư phát triển nhà và đô thị............................................................................... 103
2.2.3 Thực trạng thủ tục kiểm soát tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu
tư phát triển nhà và đô thị............................................................................... 110
2.3 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty
Đầu tư phát triển nhà và đô thị .........................................................................131
2.3.1 Những ưu điểm ..................................................................................... 131
2.3.2 Những hạn chế ...................................................................................... 134
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại các
doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị.................. 140
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ .................................................................................. 144
3.1 Định hướng phát triển và phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội
bộ tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị.. 144
3.1.1 Định hướng phát triển của các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư
Ký hiệu
Giải thích
I. Tiếng Việt
BCKT
Báo cáo kế toán
BCQT
Báo cáo quản trị
BCTC
Báo cáo tài chính
CPĐTXD
Chi phí đầu tư xây dựng
CPMTC
Chi phí máy thi công
CPNCTT
Chi phí nhân công trực tiếp
CPNLVLTT
KTQT
Kế toán quản trị
KTTC
Kế toán tài chính
KSNB
Kiểm soát nội bộ
SKT
Sổ kế toán
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TGĐ
Tổng giám đốc
TKKT
Tài khoản kế toán
TNHH
SAP
Statement on Auditing Procedure
Thủ tục kiểm toán
SAS
Statement on Auditing Standard
Chuẩn mực kiểm toán
SEC
Security Exchange Commission
Uỷ ban giao dịch chứng khoán Mỹ
x
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO..........................20
Sơ đồ 1.2 : Quy trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp .........................................35
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty mẹ .....................................................................88
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức Công ty HUD3..............................................................89
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Công ty mẹ sau cổ phần hoá ......................156
Sơ đồ 3.2: Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại Công ty mẹ theo hình thức
tập trung................................................................................................................ 161
Sơ đồ 3.3: Quy trình kiểm toán nội bộ................................................................... 162
Sơ đồ 3.4: Quy trình quản trị RRTC...................................................................... 176
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Chỉ tiêu kế hoạch phát triển nhà ở đến năm 2020 .....................................64
quốc đạt khoảng 25m2 sàn/người, trong giai đoạn 2016 -2020 thực hiện đầu tư xây
dựng tối thiểu khoảng 12,5 triệu m2 nhà ở xã hội tại khu vực đô thị;...đã mở ra những
cơ hội cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động
sản và thi công xây dựng. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản và thi công xây dựng cũng
phải đối mặt với nhiều các rủi ro đặc thù. Để phát triển bền vững và hiệu quả, nhà
quản lý tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải sử dụng các công cụ
quản lý để nhận diện và giảm thiểu các rủi ro. Hệ thống KSNB là phương sách quản
lý hữu hiệu để các nhà quản lý trong các doanh nghiệp đầu tư đầu tư kinh doanh bất
động sản và thi công xây dựng đối phó với rủi ro và đạt được các mục tiêu của doanh
nghiệp: bảo vệ tài sản; đảm bảo độ tin cậy của hệ thống thông tin; đảm bảo cho
doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở tuân thủ pháp luật và kinh doanh có hiệu quả.
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị là Tổng công ty nhà nước gồm
Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên, được thành lập với mục tiêu hình thành
tổ chức kinh tế mạnh đóng vai trò định hướng thực hiện chiến lược phát triển nhà và
2
đô thị Việt Nam, tham gia điều tiết thị trường bất động sản, nhân rộng mô hình khu
đô thị mới ra các địa phương trên cả nước. Ngành nghề kinh doanh chính của các
doanh nghiệp trong Tổng công ty là đầu tư kinh doanh bất động sản và thi công xây
dựng. Hệ thống các chính sách và thủ tục kiểm soát được thiết lập và vận hành tại
các doanh nghiệp trong Tổng công ty hiện nay chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của
các doanh nghiệp, chưa phù hợp với sự thay đổi liên tục mô hình tổ chức quản lý của
Tổng công ty cũng như sự thay đổi của hệ thống các chính sách pháp luật của Nhà
nước đối với các lĩnh vực mà các doanh nghiệp trong Tổng công ty tham gia. Tổng
công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị sau một thời gian phát triển nhanh chóng về
quy mô vốn, nhân lực, địa bàn hoạt động, số lượng công ty thành viên, và danh mục
dự án đầu tư thì đến nay đã chững lại với rất nhiều khó khăn, dự án đầu tư dàn trải,
KSNB từng bước được bổ sung. Trước đó, những năm cuối thế kỷ 19, khi thực hiện
chức năng nhận xét BCTC, các kiểm toán viên đã sớm nhận thức rằng không cần
thiết, cũng như không thực tế khi yêu cầu kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra và dựa vào sự tin tưởng của vào hệ thống
KSNB của đơn vị được kiểm toán trong việc thu nhận, xử lý và tổng hợp các thông
tin để lập BCTC. Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến KSNB. Thuật ngữ
KSNB bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này. Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát
tiền. Năm 1929, trong công bố của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve
System - FED), lần đầu tiên đưa ra khái niệm về KSNB. KSNB được định nghĩa là
một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả
hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm
toán viên. Năm 1936, Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Mỹ (AICPA) đưa ra khái
niệm về KSNB, trong đó bổ sung mục tiêu của KSNB không chỉ nhằm bảo vệ tiền và
các tài sản khác mà còn bảo đảm số liệu kế toán chính xác. Năm 1949, trong công
trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề “KSNB, các nhân tố cấu thành và
tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”
AICPA đã bổ sung thêm mục tiêu thúc đẩy hoạt động có hiệu quả và khuyến khích
sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý vào trong khái niệm về KSNB.
Trong thời kỳ hình thành từ năm 1950 đến năm 1973 với nỗ lực của các chuẩn
mực kiểm toán, khái niệm KSNB đã không ngừng được mở rộng ra khỏi những thủ
tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, trong thời kỳ này KSNB
vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm
toán BCTC. Năm 1958, trong tài liệu về thủ tục kiểm toán 29 (SAP 29 - Statement
on Auditing Procedure 29) do Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA
ban hành đã lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán. KSNB về
kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin tài chính, trong khi đó KSNB về quản lý
chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến thông tin tài chính. Dựa trên các khái niệm KSNB về kế
toán và KSNB về quản lý, năm 1962, CAP đã ban hành SAP 33 - Các tiêu chuẩn và
thủ tục kiểm toán, trong đó yêu cầu công ty kiểm toán nên giới hạn nghiên cứu trong
phạm vi KSNB về kế toán. Năm 1972, CAP ban hành SAP 54 - Tìm hiểu và đánh giá
của KSNB. KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến BCTC mà được mở rộng
ra các phương diện hoạt động và tuân thủ.
Trong thời kỳ hiện đại từ sau năm 1992 đến nay, sau Báo cáo COSO năm
1992, đã có hàng loạt nghiên cứu phát triển, mở rộng các ứng dụng của Báo cáo
COSO trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể kể đến một số lĩnh vực như: Ứng
dụng trong quản trị rủi ro doanh nghiệp; Ứng dụng cho doanh nghiệp nhỏ; Ứng dụng
trong lĩnh vực ngân hàng; Ứng dụng cho hoạt động kiểm toán độc lập. Đối với lĩnh
vực hoạt động kiểm toán độc lập, sau khi Báo cáo COSO năm 1992 được phát hành
các chuẩn mực kiểm toán của Mỹ, cũng như hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế
( ISA- International Standard on Auditing) đã sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng
khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC. Ở Mỹ, các định nghĩa
và nhân tố của KSNB trong Báo cáo COSO năm 1992 đã được đưa vào chuẩn mực
kiểm toán SAS 78 - Xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC. Ủy ban Chuẩn mực
Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB - The International Auditing anh
5
Assurance Standard Board) thuộc Liên đoàn Kế toán Quốc tế năm 2003, đã ban
hành một số chuẩn mực kiểm toán mới trong đó có ISA 315 - Hiểu biết tình hình kinh
doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu, trên cơ
sở đề cập một cách toàn diện về khái niệm rủi ro trong kiểm toán. Theo ISA 315,
KSNB được hiểu “là một quá trình do bộ máy quản lý, Ban GĐ và các nhân viên của
đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba
mục tiêu BCTC đáng tin cậy, pháp luật và các quy định được tuân thủ, hoạt động hữu
hiệu và hiệu quả”. Như vậy, định nghĩa về KSNB theo ISA 315 đã dựa trên định nghĩa
về KSNB của Báo cáo COSO năm 1992.
Trước khi có Báo cáo COSO năm 1992, các nghiên cứu và ứng dụng về
KSNB mới trong phạm vi lĩnh vực kiểm toán, KSNB được xét đến như là một
phương tiện phục vụ cho công việc của kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC. Sau
phát triển chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể.
2.2 Các nghiên cứu về hệ thống KSNB tại Việt Nam
Về các giáo trình kiểm toán trong các trường Đại học khối kinh tế
Ở Việt Nam, lý luận về hệ thống KSNB trước hết được trình bày trong các
giáo trình Lý thuyết kiểm toán, giáo trình Kiểm toán tài chính của các Trường Đại
học khối kinh tế. Trong các giáo trình kiểm toán hệ thống KSNB được tiếp cận dưới
góc độ là một phần công việc của kiểm toán viên cần phải tìm hiểu đánh giá để lập
kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả. Hệ
thống KSNB và rủi ro kiểm soát có thể được trình bày trong một chương riêng hoặc
được trình bày chung với các khái niệm cơ bản khác trong kiểm toán. Giáo trình “Lý
thuyết kiểm toán” của Học viện Tài chính do Ths Đậu Ngọc Châu và TS Nguyễn
Viết Lợi đồng chủ biên đã trình bày khái niệm hệ thống KSNB; những hạn chế cố
hữu của hệ thống KSNB; các mục tiêu của hệ thống KSNB đối với BCTC; cơ cấu
của hệ thống KSNB. Về cơ bản nội dung hệ thống KSNB được nghiên cứu và trình
bày trong các giáo trình kiểm toán của các Trường đại học thuộc khối kinh tế là
tương đối thống nhất với nhau, ngoại trừ một số khác biệt về cách tiếp cận cơ cấu
của hệ thống KSNB [17]. Ví dụ như theo Giáo trình “Lý thuyết kiểm toán” của Học
viện Tài chính hiện nay cơ cấu hệ thống KSNB gồm ba thành phần là môi trường
kiểm soát; hệ thống kế toán; thủ tục kiểm soát, trong đó bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ
là một yếu tố trong môi trường kiểm soát thì Giáo trình Kiểm toán tài chính của
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội do GS, TS Nguyễn Quang Quynh và PGS,
TS Ngô Trí Tuệ chủ biên, xuất bản năm 2012 lại đưa ra quan điểm hệ thống KSNB
gồm bốn thành phần: môi trường kiểm soát; hệ thống kế toán; các thủ tục kiểm soát;
kiểm toán nội bộ [53].
Về các đề tài khoa học có liên quan
Theo khảo sát của tác giả, đến nay có hai đề tài khoa học cấp Bộ nghiên cứu
về hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thể là:
+ Đề tài khoa học “Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường
quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam” do PGS. TS Ngô
Trí Tuệ và các cộng sự thực hiện năm 2004. Đề tài đã trình bày các vấn đề lý luận cơ
về luận văn, luận án trên các website tại Thư viện quốc gia và thư viện các trường đại
học, cho đến nay có khá nhiều các luận văn, luận án nghiên cứu về hệ thống KSNB
theo hướng tiếp cận hoàn thiện hệ thống KSNB tại một doanh nghiệp hoặc một
ngành cụ thể. Cụ thể như:
- Luận án: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp may
mặc Việt Nam” - Trường Đại học Kinh tế quốc dân – Bùi Thị Minh Hải (năm 2012).
Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm về hệ thống KSNB, đồng thời chỉ ra các đặc
điểm chung của ngành may toàn cầu, trong đó nhấn mạnh đến đặc điểm của các doanh
nghiệp may gia công xuất khẩu có ảnh hưởng đến hệ thống KSNB. Luận án cũng đã
khảo sát và phân tích các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp
may mặc Việt Nam. Trên cơ sở đó, đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của các
yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB và đề xuất được những quan điểm và giải pháp
khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam.
Tuy nhiên, trong phần lý luận luận án chưa làm rõ được khái niệm kiểm soát, KSNB,
8
và hệ thống KSNB, chưa nghiên cứu rõ hệ thống KSNB trên quan điểm được thiết kế
và vận hành giúp doanh nghiệp ngăn ngừa, giảm thiểu các rủi ro [33].
- Luận án: “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực
thuộc Bộ Quốc phòng” - Trường Đại học Kinh tế quốc dân – Phạm Bính Ngọ (năm
2011). Luận án đã hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận chung về hệ thống
KSNB gắn với kiểm soát tài chính trong các đơn vị dự toán quân đội và trình bày kết
quả nghiên cứu thực trạng tổ chức hệ thống KSNB trong các đơn vị dự toán trực
thuộc Bộ Quốc phòng. Luận án đã đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện
hệ thống KSNB phù hợp với đặc thù các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng
nhằm mục đích tăng cường quản lý tài chính trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng.
Bên cạnh những thành công, luận án còn có những điểm hạn chế như chưa làm rõ
các rủi ro đặc thù trong các đơn vị toán thuộc Bộ Quốc phòng, vì vậy chưa phản ánh
- Luận án: “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát đối với tăng cường chất lượng
thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam” - Trường Đại học Kinh tế quốc dân - Nguyễn Tố Tâm (năm 2014). Thông qua
việc xây dựng mô hình kinh tế lượng, sử dụng phần mềm phân tích Eviews, luận án
đã lượng hóa được ảnh hưởng của KSNB tới chất lượng thông tin kế toán tài chính
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, trong
phạm vi của đề tài, luận án mới chỉ đề cập đến một trong những mục tiêu của KSNB
đó là đảm bảo độ tin cậy của BCTC, chính vì vậy các giải pháp mà tác giả đưa ra
chưa toàn diện trên các khía cạnh của KSNB [60].
- Luận án: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp
ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam” - Học viện Tài chính - Nguyễn Thanh
Trang (năm 2015). Luận án đã nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng, đề xuất
các giải pháp hoàn thiện với các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB được mở rộng
gồm 05 bộ phận là: môi trường kiểm soát; quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị; hệ
thống thông tin và truyền thông; các hoạt động kiểm soát; và giám sát các kiểm soát.
Luận án có những nghiên cứu sâu về kinh nghiệm xây dựng hệ thống KSNB của
doanh nghiệp ngành năng lượng và dầu khí tại nhiều nước trên thế giới để rút ra bài
học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận án cũng đã trình bày khá đầy đủ đặc điểm của ngành dịch vụ kỹ
thuật dầu khí tại Việt Nam có ảnh hưởng tới hệ thống KSNB và đề cập đến một số
rủi ro mà các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam phải đối mặt.
Tuy nhiên, các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp ngành
dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam mà tác giả đề xuất trong luận án trải rộng trên
05 bộ phận cấu thành hệ thống KSNB nêu trên nên còn mang tính định hướng, khái
quát cao và các giải pháp này chưa hướng đến ngăn ngừa, giảm thiểu các rủi ro đã
được tác giả nhận diện, phân tích trước đó [76].
Bên cạnh các luận án tiến sỹ, đến nay cũng có khá nhiều các luận văn thạc sỹ
nghiên cứu về hệ thống KSNB. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu và khảo sát, đánh giá
thực trạng hệ thống KSNB trong hầu hết các luận văn mới chỉ dừng lại ở một số lĩnh
vực, hoặc một quá trình, quy trình trong một đơn vị cụ thể. Có thể kể đến như: Tác
các đề tài chưa làm rõ sự khác biệt giữa hai phạm trù KSNB và hệ thống KSNB, và
cũng chưa chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa việc thiết lập, vận hành hệ thống KSNB
với quản trị rủi ro trong doanh nghiệp. Trên phương diện thực tiễn khi khảo sát, đánh
giá thực trạng của hệ thống KSNB đang được thiết lập, vận hành tại các loại hình
doanh nghiệp khác nhau các đề tài đã đề cập đến những đặc điểm hoạt động SXKD
của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hệ thống KSNB nhưng lại chưa nêu được các rủi ro
trọng yếu có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và việc xây
dựng các chính sách, thủ tục kiểm soát nhằm hạn chế, giảm thiểu các rủi ro đó được
thực hiện như thế nào. Chính vì vậy, các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB, đặc
biệt là các giải pháp hoàn thiện thủ tục kiểm soát được đề xuất trong các đề tài
11
thường hướng đến việc hoàn thiện theo quy trình (quy trình mua hàng, quy trình bán
hàng, tiền lương và các khoản trích theo lương, tài sản cố định,...) mà chưa hướng
đến hoàn thiện theo mục tiêu nhằm đối phó với các rủi ro trọng yếu của doanh
nghiệp. Ngoài ra, theo nghiên cứu tổng quan của tác giả đến nay đã có một số đề tài
nghiên cứu về hoàn thiện hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp thuộc một tổng công
ty hoặc TĐKT hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, tuy nhiên các đề tài
này không đề cập hoặc đề cập nhưng chưa làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn đặc
điểm của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình này. Ví dụ
như: Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thu Hoài (năm 2011) với đề tài: “Hoàn
thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty
Công nghiệp xi măng Việt Nam” đã không đề cập tới ảnh hưởng của các đặc điểm
của doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con đến hệ thống
KSNB; Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (năm 2014) với đề tài
“Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam” đã đề cập nhưng chưa
làm rõ mối quan hệ chi phối của công ty mẹ tới các công ty con trong việc thiết kế và
vận hành của từng bộ phận cấu thành hệ thống KSNB.
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với mục đích và đối tượng như trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Công ty
mẹ - Tổng công ty Đầu tư và phát triển nhà và đô thị, các công ty con cấp 1, công ty con
cấp 2, và các công ty liên doanh, liên kết với Công ty mẹ.
Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài lựa chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2012 - 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu các sự vật và hiện tượng
trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Từ thực tiễn khái quát thành lý luận; từ lý
luận soi xét, chỉ đạo thực tiễn và lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận.
Phương pháp cụ thể:
- Luận án sử dụng các phương pháp để thu thập thông tin về hệ thống KSNB
tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị như: phương
pháp khảo sát thực nghiệm; phương pháp quan sát; phương pháp phỏng vấn; phương
pháp kiểm tra tài liệu, kiểm tra vật chất; phương pháp thống kê;….
- Luận án thực hiện điều tra xã hội học qua phỏng vấn sâu 18 đối tượng và
điều tra mẫu bằng phiếu câu hỏi được chuyển đến 37 doanh nghiệp trong Tổng công
ty với kết quả đã nhận được 32 phiếu trả lời (chiếm 86,5%). Các câu hỏi về quan
điểm, cách thức điều hành được gửi cho thành viên HĐTV/HĐQT, thành viên Ban
TGĐ/GĐ Công ty mẹ và các đơn vị thành viên trong Tổng công ty. Các câu hỏi về
hệ thống thông tin kế toán được gửi cho các nhân viên kế toán tại Ban tài chính Tổng
công ty và phòng/ban kế toán tài chính của các đơn vị thành viên. Các câu hỏi về thủ
tục kiểm soát được gửi cho kiểm soát viên, thành viên ban kiểm soát, các cán bộ
thuộc các phòng/ban chức năng, đội trưởng đội xây lắp, chỉ huy trưởng công trình,
trưởng ban quản lý dự án tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty.
13
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị
14
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
1.1 Chức năng kiểm soát trong quản lý và những vấn đề chung về kiểm soát nội bộ
trong các doanh nghiệp
1.1.1 Chức năng kiểm soát trong quản lý
1.1.1.1 Khái niệm quản lý và các đặc điểm của kiểm soát trong quản lý
Ngay từ khi con người hình thành các nhóm để thực hiện các mục tiêu mà họ
không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì hoạt động quản lý là một yếu tố
cần thiết, quan trọng để đảm bảo phối hợp những nỗ lực các nhân. Harold Koontz,
Cyril O’Donnell và Hienz Weihrich trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản
lý” đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của quản lý trong một tổ chức “ Có lẽ không có
lĩnh vực nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà
quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy
trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể
hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [34, tr17]. Có nhiều quan điểm
khác nhau về quản lý tùy theo cách tiếp cận. Trên quan điểm nhấn mạnh đến các
chức năng của quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức James Stoner và Stephen
Robbins đã cho rằng: “Quản lý là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức,
quản trị con người, và kiểm soát các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ
thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó” [98, tr45]. Nhìn nhận quản lý theo
hoạt động, James H. Donnelly và các cộng sự nhấn mạnh đến khía cạnh hành vi của
Một trong những định nghĩa đầu tiên về kiểm soát được Henry Fayol, cha đẻ
của lý thuyết quản trị hiện đại đúc kết từ năm 1916 là “Kiểm soát là việc kiểm tra để
khẳng định mọi việc có được thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các
nguyên tắc đã được thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm
cần phải điều chỉnh, đồng thời ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn” [95, tr49].
Nhấn mạnh đến kiểm soát theo phạm vi rộng, từ giai đoạn lập kế hoạch cho đến khi
các kế hoạch này được thực hiện xong, Anthony và các cộng sự đã định nghĩa:
“Kiểm soát là một quá trình thực hiện một tập hợp các thay đổi nhằm đạt được các
mục tiêu đã định” [80, tr5]. Nhìn nhận kiểm soát là chức năng cuối cùng của quản lý,
tác giả Dương Hữu Hạnh nêu quan điểm: “Kiểm soát là tiến trình giám sát và điều
chỉnh các hoạt động của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [32, tr44]. Có nhiều
quan điểm khác nhau về kiểm soát, nhưng tựu chung lại:
- Kiểm soát là chức năng không thể thiếu trong quá trình quản lý một tổ chức.
Ba lý do căn bản để kiểm soát:
+ Hiện nay các tổ chức hoạt động trong môi trường có những thay đổi nhanh
chóng, điều đó khiến cho các tổ chức có nhu cầu đáp ứng các thay đổi đó để đạt hiệu
quả. Kiểm soát giúp cho các tổ chức sớm thích nghi với sự thay đổi của môi trường.
+ Tính phức tạp của tổ chức khiến cho nhà quản lý không thể hiểu thấu hết
những việc làm bên trong của họ. Do đó, kiểm soát là cần thiết để giúp nhà quản lý
giám sát các hoạt động nội bộ của đơn vị.