Sáng kiến kinh nghiệm sử dụng các thiết bị trong day học địa lí - Pdf 34

A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà phương pháp học nổi tiếng khi nghiên cứu về những phương pháp
dạy học tích cực đều có chung nhận định, phương pháp trực quan tích cực hơn
phương pháp thuyết giảng truyền thống. Trong giảng dạy địa lí có thể sử dụng rất
nhiều những thiết bị dạy học trực quan nhằm nâng cao hiệu quả bài học. Thiết bị
dạy học có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiếp thu kiến thức của học sinh.
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, nhiều giáo viên đã rất
chú trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí,
bao gồm: bản đồ treo tường, mô hình, lược đồ, các tranh ảnh, bảng biểu, số liệu
thống kê trong sách giáo khoa và trong Atlat …
Trong giảng dạy bộ môn Địa lí, việc khai thác sử dụng kênh hình là
phương pháp giảng dạy mới. Những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ
thuật và công nghệ đã cung cấp cho ngành Giáo dục nhiều phương tiện tiên tiến
khoa học như: Máy vi tính, máy chiếu đa năng, băng - đĩa hình…giúp cho việc
giảng dạy nâng cao hiệu quả. Việc sử dụng Atlat để dạy kênh hình là vấn đề tuy
không mới lạ nhưng cũng không ít khó khăn, song lại rất hấp dẫn học sinh và
đem lại hiệu quả cao. Giúp cho học sinh chủ động tiếp thu những kiến thức theo
nội dung bài học, ít phải ghi nhớ máy móc mà hiệu quả cao.
Hiện tại còn một số giáo viên chưa chú trọng sử dụng Atlat trong việc
giảng dạy Địa lí, không hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat nên chưa nắm được vai
trò của Atlat trong việc giảng dạy môn Địa lí, nên hiệu quả thấp.
4


Đối với học sinh lớp 12 việc sử dụng Atlat để học tập là việc làm rất quan
trọng và cần thiết, tạo thói quen làm việc độc lập, sáng tạo cho các em. Đồng thời
làm giảm tâm lí phải học thuộc lòng, giúp các em học tập và làm bài kiểm tra có
hiệu quả hơn, đặc biệt trong những kì thi tốt nghiệp THPT.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu
và thực nghiệm trong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả khả

đồng nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm: Thực hiện kiểm tra đánh giá ở các lớp 12A, 12C,
12G, 12H, 12I.

6


B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I . CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1.Quan niệm về sử dụng thiết bị dạy học theo tinh thần dạy học tích cực.
Trong các bộ môn khoa học đang dạy ở nhà trường môn nào cũng có một
vai trò nhất định, giúp học sinh nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội. Môn
Địa lí giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó mở mang cho học sinh hiểu biết về
thiên nhiên trên Trái Đất và cả ngoài Vũ trụ, hoạt động văn hoá, xã hội kinh tế
của con người. Giúp các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu khám phá cấu
trúc của Trái Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã hội để
phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.…
Riêng ở trường THPT, mỗi môn học đều yêu cầu những đặc điểm riêng,
cần các phương pháp giảng dạy thích hợp. Môn Địa lí đã xác định phương pháp
đặc trưng là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học. Song việc
giảng dạy kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới được
chú trọng trong những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận dụng nó
còn nhiều khó khăn bỡ ngỡ. Nhất là đối với học sinh lớp 12, việc sử dụng Atlat
Địa lí Việt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức
qua các trang bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, giúp cho học sinh nhận thức đầy
đủ kiến thức, tiếp thu nhanh, dễ hiểu. Đồng thời tránh được phương pháp diễn

7


mục và thiết bị dạy học cho giáo viên và học sinh khi dạy và học. Giờ dạy nếu
có sử dụng các thiêt bị dạy học thì chất lượng giờ dạy và học nhìn chung là có
hiệu quả cao.
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi cho thấy một điều rằng: khi giáo viên có sử
dụng thiết bị dạy học thì hiệu quả dạy và học cao hơn nhiều so với dạy chay
không sử dụng thiết bị.
III. CÁCH SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ
- Có kế hoạch chuẩn bị trước những thiết bị cần thiết cho từng bài giảng. Nghiên
cứu kĩ các thiết bị để hiểu rõ nội dung, tính năng, tác dụng của thiết bị, tránh tình
trạng khi lên lớp mới tiếp xúc với thiết bị và mày mò sử dụng thiết bị.
- Cần lựa chọn thiết bị thiết thực nhất với nội dung bài học.
- Khi soạn bài cũng như khi lên lớp, giáo viên cần xây dựng được hệ thống câu
hỏi, bài tập tương đối chuẩn xác, rõ ràng để học sinh làm việc với các thiết bị
hiệu quả nhất nhằm giúp các em lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng được tốt.
- Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc với thiết bị
dạy học để tìm tòi kiến thức, rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy học sinh.

IV. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
9


1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG VIỆC
GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12.
1.1. Bố cục của Atlat Địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo dục phát hành
năm 2009 có thể khái quát như sau:
a. Bản đồ chung bao gồm các bản đồ: Hành chính, hình thể, địa chất khoáng
sản, khí hậu, đất, thực vật và động vật, các miền tự nhiên, dân số.
b. Bản đồ dùng cho các ngành kinh tế : Nông nghiệp chung, nông nghiệp, lâm
nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp chung, công nghiệp, giao thông, thương mại, du
lịch.

giảng. Mỗi trang bản đồ trong Atlat chứa đựng những kiến thức cụ thể và rất
phong phú, mang đặc trưng của bộ môn.
- Atlat Địa lí Việt Nam được dùng để giảng dạy và học tập môn Địa lí cho các bài
ở nhiều khối lớp khác nhau như lớp 8; lớp 9 và cả các lớp của THPT như địa lí
lớp 12. Nhưng trong từng bài cụ thể mức độ khai thác, sử dụng Atlat không giống
nhau. Đối với học sinh lớp 12, đòi hỏi kỹ năng sử dụng Atlát phải thành thạo và
được rèn luyện một cách thường xuyên qua từng tiết học.
Trong chương trình Địa lí lớp 12 có bài chỉ cần sử dụng một trang bản đồ trong
Atlat, nhưng cũng có bài phải sử dụng nhiều trang bản đồ khác nhau, song lại có
trang Atlat dùng để dạy và học được nhiều bài. Vì vậy khi giảng dạy Địa lí lớp 12
11


ta nên tích cực rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng Atlat để các em biết cách
khai thác kiến thức qua từng trang bản đồ của Atlat là rất cần thiết để các em vận
dụng lâu dài sau này.

2.CÁC PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG CHO HỌC SINH.

2.1. Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội dung trong bản đồ của
Atlat để rút ra đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, xã hội. . . .
Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ thì việc hiểu các
ngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng. Trong Atlat ngôn ngữ được dùng là
những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ...
Ngay từ trang đầu tiên của Atlat, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu
và nắm vững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và từ
đó phân tích chính xác hơn.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào phải đọc:
- Tên bản đồ trước để hình dung ra nội dung của bản đồ.
- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó.

được giới tính giữa nam và nữ tương đối cân bằng.

13


+ Qua biểu đồ sử dụng lao động theo ngành, học sinh có thể nhận thức được :
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trong nông - lâm - thuỷ sản
chiếm tỷ lệ cao, công nghiệp và dịch vụ còn thấp.

2.3. Phân tích bản đồ trong Atlat để rút ra nhận định tình hình phát triển
của các ngành kinh tế nước ta.
Ví dụ 1: Sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để tìm hiểu tình hình sản xuất nông
nghiệp của nước ta.
+ Bản đồ trang 11 (dạy bài 21 – SGK – ban cơ bản): Giáo viên hướng dẫn học
sinh nghiên cứu:
Đặc điểm tài nguyên đất : Đất phù sa tập trung ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu
Long, miền Duyên hải MiềnTrung để trồng lúa nước và các cây công nghiệp
ngắn ngày. Đất Feralit tập trung chủ yếu ở miền núi và trung du, phù hợp với việc
phát triển các cây công nghiệp dài ngày như : chè, cà fê, cao su, hồ tiêu… Đồng
thời phản ánh tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó có thể tìm
hiểu tài nguyên nước rất phong phú của nước ta do có hệ thống sông ngòi chằng
chịt và nhiều đầm hồ.
+ Bản đồ trang 9 : Nói lên đặc điểm của nhân tố khí hậu của nước ta (Lượng
mưa, nhiệt độ) phân hoá từ Bắc vào Nam. Các loại gió mùa hoạt động trên lãnh
thổ nước ta.
+ Bản đồ trang 19 (dạy bài 22 – SGK – ban cơ bản) học sinh tìm hiểu và phát
hiện:

14


- Cơ cấu các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta, giá trị sản xuất của các
ngành công nghiệp, những trung tâm công nghiệp lớn là TP Hồ Chí Minh và Hà
Nội.
+ Phân tích bản đồ trang 22 học sinh có thể nhận biết được một số ngành công
nghiệp trọng điểm như : Công nghiệp năng lượng, công nghiệp cơ khí luyện kim,
điện tử - tin học, hoá chất, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm…

Ví dụ 3: Sử dụng Atlat để học sinh tìm hiểu tình hình hoạt động các ngành dịch
vụ nước ta:
+ Phân tích bản đồ, biểu đồ trang 23, 24, 25 học sinh nhận thức được sự phân bố
và phát triển của các loại hình dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân:
- Mạng lưới giao thông và đầu mối giao thông vận tải chính ở nước ta, mối quan
hệ giữa ngành giao thông vận tải với các ngành kinh tế khác.
Giao thông đường bộ ngày càng phát triển.
Giao thông đường thuỷ, đường sắt vận chuyển khối lượng hàng hoá cao.
Tuyến đường bay trong nước, quốc tế ngày càng phát triển.
- Các hoạt động thương mại như : Nội thương (Biết được số người kinh doanh,
hàng hoá bán lẻ qua các năm …), ngoại thương (Cơ cấu giá trị các mặt hàng xuất
khẩu giữa công nghiệp – nông nghiệp – thuỷ sản và tỷ trọng các mặt hàng nhập
khẩu so với xuất khẩu).
16


- Vai trò của ngành du lịch rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế nước ta, tiềm năng
to lớn của ngành du lịch được thể hiện qua các trung tâm du lịch quốc gia, vùng,
các điểm du lịch trong cả nước, số lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch từ
năm 1995 đến năm 2007. Cơ cấu khách du lịch quốc tế với Việt Nam năm 1995,
năm 2007.
Tài nguyên du lịch phong phú của nước ta như: Di sản văn hoá thế giới, di sản
lịch sử cách mạng, di tích lịch sử cách mạng, các làng nghề truyền thống…

Nội dung kiến thức quan trọng của chương trình Địa lí 12 là nghiên cứu
các vùng Kinh tế. Vấn đề phát triển kinh tế của mỗi vùng vừa thể hiện đặc điểm
chung của cả nước, vừa thể hiện tính chất đặc thù riêng của từng vùng. Vì vậy khi
trình bày nội dung kiến thức của vùng đòi hỏi phảỉ có kỹ năng sử dụng nhiều
trang Atlat để tìm hiểu kiến thức. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh làm như sau:
- Trước hết học sinh phải xác định vị trí, ranh giới của vùng. Dựa vào bản đồ
trong Atlat xác định vị trí: phía Bắc, phía Nam, phía Đông, phía Tây giáp đâu?
- Xác định đặc điểm tự nhiên : Địa hình, khí hậu, sông ngòi…
- Từ những đặc điểm trên, tìm thuận lợi khó khăn cho việc phát triển kinh tế của
vùng.
- Sau đó dựa vào bản đồ để phát hiện được các tiềm năng, các thế mạnh kinh tế
của vùng đó.
18


Ví dụ 1: Dựa vào átlát trang 26 xác định vị trí địa lí của vùng Đồng bằng sông
Hồng:
- Xác định quy mô của vùng phía Bắc và phía Tây giáp vùng Trung du và miền
núi Bắc Bộ. Phía Nam giáp vùng Bắc Trung Bộ, phía Đông giáp biển Đông.
- Từ đó rút ra ý nghĩa của vị trí địa lí trong việc phát triển kinh tế của vùng:
+ Đây là vùng kinh tế trọng điểm, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước,
công nghiệp, giao thông vận tải đi các nơi trong nước. Đồng thời ngành thuỷ - hải
sản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Bên cạnh đó ngành giao thông
đường bộ, đường thuỷ, đường biển, đường hàng không đều phát triển thuận lợi.
Ngành du lịch cũng có rất nhiều tiềm năng.
+ Về khí hậu trong vùng là nhiệt đới gió mùa, có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu ,
đông. Mùa nóng có gió mùa Đông Nam từ biển thổi vào đem theo nhiều hơi nước
gây mưa nhiều thuận lợi sản xuất nông nghiệp. Nhưng kèm theo bão lũ ảnh
hưởng đến sản xuất. Mùa lạnh có gió mùa Đông Bắc lạnh và khô giúp ta trồng
được các cây ôn đới, nhưng cũng gây những khó khăn lớn như sương muối.. .

Hồng. Tuy nhiên trình độ dân trí chung của vùng chưa cao bằng vùng Đồng bằng
sông Hồng, tỷ lệ dân thành thị còn thấp.
20


=> Tóm lại đây cũng là vùng kinh tế phát triển toàn diện, tuy nhiên nông
nghiệp vẫn là thế mạnh của vùng, nơi xuất khẩu gạo cao nhất nước ta…

Tương tự ta có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu các vùng kinh tế khác dựa vào
các trang bản đồ trong Atlat.

Tóm lại khi phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi vùng chúng
ta phải xác định xem nên sử dụng bản đồ nào, từ đó ta khai thác kiến thức gì theo
trình tự : đặc điểm tự nhiên, xã hội, tình hình phát triển kinh tế của mỗi vùng .
Mỗi kiến thức địa lí tự nhiên, xã hội, kinh tế của từng vùng nói riêng và cả nước
nói chung đều chứa đựng trong các trang bản đồ của Atlat. Mỗi ước hiệu đều
nói lên một kiến thức địa lí, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu kỹ ngôn ngữ của
bộ môn Địa lí mà các em cần ghi nhớ chính là các ký hiệu, ước hiệu này.

2.5. Rèn luyện kỹ năng sử dụng hình ảnh trong Atlat để khắc sâu kiến thức
của bài học.
Trong một số bài có những hình ảnh minh hoạ có thể sử dụng hình ảnh trong
Atlat để hỗ trợ cho nội dung của bài.
Ví dụ 1: Dạy về nông nghiệp, hướng dẫn học sinh quan sát hình ảnh thu hoạch
lúa, thu hoạch chè, chăm sóc cây hồ tiêu. Giáo viên có thể khắc sâu cho học sinh :
Trong sản xuất nông nghiệp cây lúa là cây chủ đạo cả về diện tích, sản lượng,
năng suất, sản lượng. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới.
Bên cạnh đó cây chè, cây hồ tiêu là những cây công nghiệp mang lại giá trị kinh
21


Nhưng nếu chỉ dựa vào Atlat, nhiều kiến thức như tình hình phát triển, nguyên
nhân phát triển, về đường lối, chính sách,… không được đề cập đến một cách đầy
đủ và hợp lí.
- Làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam cũng cần chú ý đến việc phân tích các biểu
đồ, số liệu…Đó là các thành phần bổ trợ làm rõ nội dung của các đối tượng địa lí
cần nghiên cứu.

Bài tập 1. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam (NXBGD - tháng 9/2009) và kiến thức
đã học, hãy so sánh hai tháp dân số năm 1999 và năm 2007, rút ra nhận xét.
Qua việc phân tích Átlát, học sinh sẽ thấy được:
* Giống nhau:
- Hình dạng tháp: đáy rộng, đỉnh tháp nhọn. Dạng tháp có kết cấu dân số trẻ.
- Tỉ lệ giới tính:
+ 0 - 14 tuổi: nam lớn hơn nữ
+ 15 - 59 tuổi: nữ và nam tương đương nhau
+ 60 tuổi trở lên: nữ lớn hơn nam

* Khác nhau:

23


+ Năm 1999: đáy tháp rộng, đỉnh tháp nhọn, sườn thoải, thể hiện tỉ lệ sinh cao,
trẻ em đông, tuổi thọ trung bình thấp, dân số tăng nhanh ⇒ Cơ cấu dân số trẻ, tỉ
lệ dân số phụ thuộc cao.
+ Năm 2007: đáy tháp thu hẹp hơn, sườn tháp và đỉnh tháp mở rộng hơn thể hiện
tỉ lệ sinh giảm, nhóm tuổi lao động cao, tuổi thọ trung bình tăng ⇒ cơ cấu dân số
vàng ⇒ xu hướng chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang dân số già.

Bài tập2. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam (NXBGD tháng 9-2009) và kiến thức


- Đất xám phù sa cổ

-Dọc duyên hải miền Trung

2. Nhóm đất feralit

- Đông Nam Bộ, Gia Lai, rìa phía Bắc của đồng bằng sông
Hồng.

- Đất feralit trên đá bazan

- Chủ yếu ở trung du miền núi

- Đất feralit trên đá vôi

- Tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, ngoài ra
còn có ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ

- Đất feralit trên các loại - Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ
đá khác
- Ngoài ra còn có các loại - Trung du miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ
đất khác và núi đá
b. Giải thích vì sao đồng bằng Sông cửu Long lại có nhiều diện tích đất phèn và
đất mặn:
- Ba mặt giáp biển

25



!2H
12I

52
51
53
50
50

KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Khá - Giỏi
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
16
30,8
25
48,1
11
21,1
33
64,7
16
31,3
2

cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Sử dụng những bản đồ phải có nội dung phù hợp với kiến thức cần tìm hiểu
trong bài .
- Khi phân tích bản đồ cần phải chú ý đọc đúng các ước hiệu, ký hiệu, mầu sắc,
và hình dáng kích thước để phân tích mới đảm bảo tính chính xác, khoa học.

27


- Khi phân tích bản đồ phải tìm tòi các chi tiết, không bỏ sót một dữ kiện nào trên
bản đồ. Cần chú ý nghiên cứu kỹ các biểu đồ, và các chú thích kèm theo để nắm
vưng cả những chi tiết nhỏ nhất.
- Khi hướng dẫn học sinh phải yêu cầu các em sử dụng bản đồ nào, trang nào cho
phù hợp với nội dung bài học.
- Phải phân tích từng dữ kiện nào có đặc điểm gì nổi bật? Cần khai thác bản đồ,
lược đồ hay biểu đồ nào để tìm hiểu kiến thức của bài.

2- Trình tự khi khai thác bản đồ trong Atlat là:
- Dựa vào bản đồ nào? Trang nào? của Atlat.
- Nhận biết và đọc được các ký hiệu, ước hiệu ở bảng chú thích.
- Phân tích các ký hiệu, ước hiệu trên bản đồ để rút ra nhận xét.
- Thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với kinh tế,
giữa các yếu tố kinh tế với nhau, từ đó rút ra kết luận…

3- Giáo viên cần hình thành thói quen cho học sinh khi sử dụng Atlat biết khai
thác kiến thức nào trước, kiến thức nào sau. Hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh
phân tích giải thích phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, tránh rườm rà hoặc vụn
vặt, gây tâm lí nhàm chán cho học sinh .
4- Muốn có hiệu quả bài giảng cao, chất lượng tốt, người thầy phải chuẩn bị kỹ
bài giảng, các thiết bị phục vụ cho bài, những tình huống đột xuất có thể xảy ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status