LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trên hầu hết các thị trường đều diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt, nên những công
ty nào không phát triển được sản phẩm mới sẽ gặp phải rủi ro rất lớn. Những sản phẩm
hiện có sẽ bộc lộ những nhược điểm khi những nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
đã thay đổi, xuất hiện công nghệ mới, hay chu kì sống của sản phẩm bị rút ngắn lại, cũng
như cạnh tranh trong nước và nước ngoài tăng lên. Một công ty đang thành công với một
sản phẩm nhất định trên thị trường có thể dễ dàng lâm vào phá sản trong nay mai nếu
công ty này không tiếp tục thay đổi mẫu mã sản phẩm theo các cách khác nhau hoặc tìm
kiếm một sản phẩm mới một khi các điều kiện của thị trường biến đổi. Một trong những
hoạt động đang diễn ra ở mỗi doanh nghiệp là theo dõi sự biến đổi của thị trường ở cả
khía cạnh cạnh tranh cũng như thị hiếu mới của người tiêu dùng: “ Những doanh nghiệp
nào mà không phát triển sẽ chết. Anh không thể đứng yên tại chỗ. Anh phải có sản phẩm
mới. Ở một chừng mực nào đó, những doanh nghiệp nhỏ thành công với sản phẩm mới
chúng sẽ trở thành những doanh nghiệp lớn hơn. Những doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn
thì nên tập trung nguồn lực vào những sản phẩm mới có tính đột phá. Đó là con đường
duy nhất để phát triển, càng đưa được sản phẩm ra thị trường sớm thì doanh nghiệp đó
càng trở nên chủ động”. Do đó, mọi công ty đều phải tiến hành phát triển sản phẩm mới
để tìm ra những sản phẩm thay thế để duy trì hay tạo ra mức tiêu thụ tương lai. Chính vì
thế, phát triển sản phẩm mới rất cần thiết để giúp cho doanh nghiệp tồn tại phát triển hoạt
động kinh doanh nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng mục tiêu.
Vậy sản phẩm mới là gì? Những yếu tố nào tạo nên thành công hay thất bại cho sản phẩm
mới doanh nghiệp có thể thực hiện những chiến lược nào? Và quản trị như thê nào đối
với chu kì sống sản phẩm?... đây là những câu hỏi mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải
trả lời khi tiến hành tung sản phẩm ra trên thi trường. Để làm rõ vấn đề trên cũng như tìm
hiểu thực tế thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm mới, em đã lựa chọn đề tài: “ tìm
hiểu về chiến lược phát triển sản phẩm mới sữa tiệt trùng không Lactoza đầu tiên tại Việt
Nam của công ty cổ phần sữa Vinamilk.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.
thu được gọi là sản phẩm mới hay không?
+ Nếu một doanh nghiệp chỉ thêm loại kem chống nhăn vào bộ trang điểm dành cho
phái nữa, thì đấy có phải là một sản phẩm mới hay không?
+ Hay chỉ những sản phẩm hoàn toàn mới về quan niệm mới được coi là một sản
phẩm mới?
-
Đứng trên góc độ doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm mới thành hai
loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối. Chiến lược marketing
đối với sản phẩm mới tuyệt đối này thường phải được soạn thảo kỹ lưỡng, đòi hỏi
-
những thông tin chi tiết hơn về khách hàng và thị trường.
Sản phẩm mới tương đối
+ Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng không mới
đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường. Chúng cho phép doanh nghiệp mở
rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới. Chi phí để phát triển loại sản
phẩm này thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người tiêu dùng
vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.
-
Sản phẩm mới tuyệt đối:
+ Đó là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị trường. Doanh nghiệp
giống như “ người tiên phong” đi đầu trong việc sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm
này ra mắt người tiêu dùng lần đầu tiên. Đây là quá trình tương đối phức tạp và khó
khăn (cả trong giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế,
nghiệp như nhắm tới nguồn khách hàng mục tiêu hoặc thỏa mãn nhu cầu mới đủ lớn, khai
thác hiệu quả hơn kênh phân phối, cắt giảm chi phí không cần thiết, hoặc tân dụng được
các nguồn lực sẵn có mà không mất tiền.
Bước 3: Phản biện và phát hiện ý tưởng
+ Sau khi sàng lọc ý tưởng “hoa khôi” doanh nghiệp có thể tổ chức một ban phản biện
các ý tưởng này, ban này nên có nhiều thành phần để có được nhiều cách đánh giá và
phản biện ý tưởng. Đối với doanh nghiệp ‘siêu’ nhỏ, thường chủ doanh nghiệp sẽ đóng
vai trò cho cả ban, thì chủ doanh nghiệp nên đóng nhiều vai để tư duy và phân tích ý
tưởng dưới nhiều góc cạnh như: khía cạnh tiếp thị, nhân lực, nguồn vồn, thời gian, phản
ứng của đối tượng liên quan. Thông qua quá trình phân tích và đánh giá, ý tưởng sẽ được
mổ xẻ dưới nhiều góc cạnh, quan tọng hơn là làm cho ý tưởng đó được rõ ràng, cụ thể
hơn và hạn chế được những thử nghiệm không cần thiết hoặc tránh bớt những sai phạm
không đáng có. Như vậy, sau bước này ý tưởng về sản phẩm mới sẽ đầy đủ về các yếu tố
như tính năng chính của nó, cách thức thiết kế, các giá trị gia tăng và quan trọng hơn hết
là xác định được vai trò, ý nghĩa và mục đích muốn nhắm tới khi phát triển sản phẩm này
Bước 4: Chiến lược tiếp thị
+ Để tăng khả năng thành công của sản phẩm mới trên thị trường, doanh nghiệp cần thiết
nghĩ đến việc thương mại hóa nó sẽ như thế nào thông qua việc phác thảo bản kế hoạch
tiếp thị ngắn gọn. Trong đó có phân tích các yếu tố tác động chính từ môi trường kinh
doanh, năng lực của doanh nghiệp về các mặt như nhân sự, tài chính, trang thiết bị. Đồng
thời bản kế hoạch sơ thảo này cần dự báo được doanh thu, lợi nhuận, thị phần trong ngắn
hạn và dài hạn. Xây dựng kế hoạch tiếp thị sơ lược nhằm hai lý do. Một là tránh phát
triển những sản phẩm mới có ít thị trường tiềm năng, hạn chế việc tổn thất về thời gian,
sức lực. Hai là định hướng được mẫu mã, kiểu dáng, tính năng, hoặc đặc tính cần thiết
của sản phẩm để việc phát triển nó có định hướng rõ ràng sát với đòi hỏi của khách hàng
Bước 5: Phân tích kinh doanh
+ Phân tích kinh doanh đánh giá kỹ hơn về mục tiêu lợi nhuận, các lợi ích của sản phẩm
đem lại. Bên cạnh đó, nó đánh giá chi tiết hơn các mục tiêu của sản phẩm, những dự báo
Products Joint Stock Company, được thành lập vào năm 1976 trên cơ sở tiếp quản
3 nhà máy sữa của chế độ cũ để lại.Công ty có trụ sở chính tại số 10 phố Tân Trào,
phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Tính theo doanh số và số
lượng, Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam. Danh mục sản phẩm
của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa bột; sản phẩm có giá
trị cộng thêm như sữa đặc, sữa chua ăn và sữa chua uống, kem và pho mát.
Vinamilk cung cấp cho thị trường một danh sách những sản phẩm , hương vị và
quy cách bao bì có nhiều lựa chọn.
2.
3.
Cơ cấu doanh thu của Vinamilk
Sữa đặc chiếm 34%
Sữa tươi chiếm 26%
Sữa bột, ngũ cốc ăn liền chiếm 24%
Sữa chua chiếm 10%
Sản phẩm khác chiếm 6%
Thành tựu mà Vinamilk đạt được
Phần lớn sản phẩm của công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu”
Vinamilk”. Thương hiệu này được bình chọn là một “ thương hiệu nổi tiếng và là
1 trong 100 nhóm thương hiệu mạnh nhất” do Bộ công thương bình chọn năm
các xí nghiệp Quốc doanh “, theo đó các xí nghiệp quốc doanh phải tự hạch toán kinh tế,
lấy thu bù chi và nhà nước không bù lỗ. Thực hiện đường lối đổi mới của nhà nước, công
ty đã chủ động lập phương án phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh trên toàn quốc:
khôi phục nhà máy sữa bột Dielac vào năm 1988 ( nhà máy bị hư hại sau khi tiếp quản
nhưng chưa được sửa chữa ) với kinh phí 200.000 USD bằng chính tay nghề của cán bộ kỹ sư trong nước, tiết kiệm cho nhà nước 2,5 triệu USD so với phương án ban đầu thuê
kỹ sư nước ngoài . Tháng 8/1993 Chi nhánh Hà Nội được thành lập để triển khai mạng
lưới kinh doanh tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc và tháng 6/1995 chi nhánh sữa Đà Nẵng
ra đời phục vụ người tiêu dùng ở các tỉnh Miền trung – Tây Nguyên. Tháng 3 năm 1994,
nhà máy sữa Hà Nội được khánh thành và đi vào hoạt động sau 2 năm xây dựng. Đây là
nhà máy sữa đầu tiên ở Miền Bắc được xây dựng sau ngày giải phóng .Đặc biệt từ năm
1991, nhận thức rõ tầm quan trọng chủ trương của Đảng về “ Phát triển Nông – Lâm Ngư nghiệp gắn với Công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu để ổn định tình hình Kinh tế - Xã hội “, công ty đã tạo lập vùng nguyên
liệu nội địa, đầu tư phát triển chăn nuôi bò sữa trong nông thôn, thực hiện chủ trương của
Đảng về liên minh Công – Nông, làm cơ sở cho chuyển dịch cơ cấu Công – Nông nghiệp
theo đường lối kinh tế mới của Đảng. Cuộc “ cách mạng trắng “ đã được hình thành. Với
việc đạt nhiều thành tựu theo cơ chế mới, năm 1991 công ty được tặng Huân chương lao động
hạng Nhì và năm 1996 được Nhà nước tặng Huân chương lao động Hạng Nhất .
Thời kỳ 1996 – 2005 : khi luồng gió đổi mới được thổi vào các doanh nghiệp, CBCNV
hăng hái thi đua lao động sản xuất để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu
dùng, công ty thực sự phát huy được tính năng động của tập thể, sản xuất ổn định, chất
lượng sản phẩm được quản lý chặt chẽ, không để bị hư hỏng nhiều do trục trặc kỹ thuật
hoặc do quá trình quản lý, hạn chế đến mức thấp nhất sản phẩm bị hao hụt lãng phí trong
từng khâu của quá trình sản xuất. Máy móc thiết bị được duy tu, bảo dưỡng đúng quy
định. Thực hiện nghiêm túc các quy định về môi trường, an toàn lao động. Về kinh doanh
: mạnh dạn đổi mới cơ chế tiêu thụ sản phẩm; áp dụng các chính sách hợp lý đối với hệ
thống tiêu thụ và người tiêu dùng; triển khai chương trình sữa học đường đồng thời đấy
mạnh tiếp thị bằng nhiều hình thức phù hợp. Giai đoan này công ty đã mở được thị
xã hội, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho Cán bộ công nhân viên . Đặc
điểm ghi nhận là trong cái khó luôn xuất hiện nhiều nhân tố mới cả về vật chất lẫn tinh
thần, dù trong hoàn cảnh nào công ty luôn hướng về phía trước, tự tạo cho mình thế và
lực để hoàn thiện bước đi và tiến đến những thắng lợi cao nhất . Đánh giá những thành
tựu cả một quá trình đổi mới công ty vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu ANH
HÙNG LAO ĐỘNG vào năm 2000 và kết thúc giai đoạn 1996 – 2005 Công ty được
tặng Huân chương Độc lập Hạng Ba .
•
Giai đoạn 2005 – đến nay :
Sau 5 năm đổi mới cơ chế quản lý theo
mô hình cổ phần hóa, công ty đã đạt thành tích rất xuất sắc về phát triển sản xuất kinh
doanh. Các chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước giao đều vượt so với năm cuối trước khi cổ phần
hóa góp phần không nhỏ vào sự thăng hoa của nền kinh tế nước nhà : tổng doanh thu từ
tăng 188%; lợi nhuận sau thuế tăng 5,2 lần; tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu
tăng 75%; Nộp ngân sách nhà nước tăng 4,6 lần; đầu tư hàng ngàn tỷ đồng hiện đại hòa
máy móc thiết bị - công nghệ; kim ngạch xuất khẩu đạt 444,7 triệu USD sản lượng sản
xuất trung bình hàng năm đạt trên 560 ngàn tấn; thu mua sữa tươi tăng hàng năm từ 10 –
17% sản lượng và giá trị; tổng vốn sở hữu chủ tăng hàng năm đến nay ( 2011) đạt con số
trên 11 ngàn tỷ đồng; thu nhập bình quân của người lao động tăng 68% . Các nhà máy
của Công ty luôn tuân thủ nguyên tắc sản xuất phải gắn với thị trường, dựa trên nhu cầu
của thị trường để điều chỉnh kế hoạch sản xuất cho phù hợp.. Thực hiện quản lý chặt chẽ
và nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh phát triển các ngành hàng, đa dạng hoá các
chủng loại sản phẩm, ưu tiên những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh và có giá trị cao, có
thị trường ổn định. Thực hành tiết kiệm trên mọi khâu của quá trình sản xuất, đặc biệt là
nguyên – nhiên vật liệu. Về kinh doanh : công ty thực hiện chiến lược chiếm lĩnh 75% thị
phần toàn quốc ; mở rộng thị trường trong đó lấy thị trường nội địa làm trung tâm; Đẩy
em. Protein trong sữa rất giàu các loại amino axít này, nên có giá trị dinh dưỡng và có
hệ số sử dụng cao so với nguồn protein thực vật. Các protein trong sữa gồm 2 nhóm
chính: * Proteinn hoà tan như: albumin, imunoglobulin, lisozim, lactoferin,
lactoperoxydaza * Protein ở trạng thái keo không bền (casein) gồm một phức hệ
mixen hữu cơ của các caseinat và canxi phosphat. + Lipit của sữa bao gồm: chất béo,
các phosphatit, glicolipit, steroit Chất béo sữa là một thành phần quan trọng. Về mặt
dinh dưỡng, chất béo có độ sinh năng lượng cao, có chứa các vitamin hòa tan trong
chất béo (A, D, E). Chất béo tồn tại trong sữa ở dạng hình cầu có kích thước rất nhỏ
từ 0,1 – 15µm . Mỗi thể cầu mỡ được bao bọc bởi một lớp màng mỏng. Màng này rất
bền, có tác dụng bảo vệ, giữ cho chúng không kết hợp được với nhau và bảo vệ chất
béo khỏi bị phân huỷ bởi các enzym có trong sữa và do đó tạo ra mùi ôi. + Gluxit:
Lactoza chiếm vị trí quan trọng nhất trong gluxit của sữa. Hàm lượng lactoza trong
sữa thay đổi từ 3,6 – 5,5%. Lactoza tồn tại trong sữa ở dạng tự do và dạng liên kết với
các protein và các gluxit khác. Độ ngọt của lactoza kém sacaroza 30 lần, độ hòa tan
trong nước cũng kém hơn. Lactoza là một trong những nguồn năng lượng quan trọng,
chúng chuyển thành hợp chất năng lượng cao, có thể tham gia vào tất cả các phản ứng
sinh hóa.
2. Lựa chọn ý tưởng:
Lựa chọn thị trường mục tiêu:
- Thời gian vừa qua tạo nên sự bùng nổ mạnh mẽ tạo làm sóng lớn ở nhiều các lĩnh
vực. Đặc biệt là ở các loại sữa tươi, người tiêu dùng ngày càng tìm đến những
thương hiệu nổi tiếng hơn là những thương hiệu bình thường để đảm bảo an toàn
-
cho gia đình khi sử dụng.
Nghiên cứu chỉ ra rằng ở một số nước Châu Á, có đến 90% dân số có cảm giác
đầy bụng, khó tiêu khi uống sữa, thậm chí có một số người còn cho rằng uống sữa
-
chứng này là hệ quả của hệ tiêu hóa không dung nạp được lactoza có trong sữa.
• Ra quyết định:
Đối với trẻ nhỏ và cả người lớn, nhu cầu uống sữa để bổ sung các dưỡng chất
thiết yếu có trong sữa như Canxi và Vitamin D là rất lớn nhưng khi hệ tiêu hóa gặp
phải những triệu chứng như trên, người ta ngại uống sữa hoặc thậm chí dừng hẳn
việc hấp thu nguồn dinh dưỡng quan trọng này.
-
Vì vậy, Vinamilk quyết định đưa ra thị trường sản phẩm này nhằm giúp những
người tiêu dùng không dung nạp được lactoza có cơ hội uống sữa để bổ sung các
dưỡng chất thiết yếu có trong sữa.
3. Soạn thảo và xét duyệt dự án mới:
Hệ thống phân phối, các vị trí kinh doanh và giá cả: Sản phẩm Sữa Tiệt Trùng
Flex không Lactoza có bán tại siêu thị, cửa hàng giới thiệu sản phẩm Vinamilk và
các điểm bán lẻ trên toàn quốc từ tháng 11/2013. Giá bán lẻ khuyến nghị:
27.000đ/1 lốc 4 hộp giấy 180ml. Giá cả được nhận định là tương đối phù hợp với
túi tiền và thu nhập của người tiêu dùng đây được coi là một trong những lợi thế
-
của Vinamilk.
Để đẩy mạnh tăng trưởng, công ty chọn hướng đón đầu áp dụng công nghệ mới,
lắp đặt các thiết bị máy móc chế biến hiện đại, tăng công suất chế biến và mở rộng
cơ sở sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu nội địa...với tổng vốn đầu tư 5 năm
hoá học quan trọng trong cơ thể. + Trong sữa có nhiều loại vitamin nhưng đều với
một hàm lượng tương đối thấp. Các vitamin trong sữa được chia thành 2 nhóm:
nhóm hoà tan trong chất béo (A, D, E, K) và nhóm hoà tan trong nước (các
vitamin B và C). Các vitamin đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động
sống của cơ thể. + Các chất khoáng trong sữa chiếm khoảng 1%, muối khoáng có
trong các dung dịch, trong nước sữa hoặc trong các hợp chất casein. Các muối
quan trọng nhất là muối canxi, natri, kali và magie. Chúng có dưới dạng photphat,
cloride, citrat và caseinat. Muối kali và muối canxi có nhiều nhất trong sữa thường
-
có chứa các enzym thường gặp trong tự nhiên.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006 là 8,2%, GDP tăng 7,8% và thu nhập bình
quân đầu người đạt 715 USD. Cùng với mức sống của người dân dần được nâng
cao, nhu cầu sử dụng các sản phẩm thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cũng
tăng lên. Do vậy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến sữa là một hệ quả
tất yếu, phù hợp với xu thế thời đại. Bên cạnh đó, sữa là một trong những yếu tố
cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển nòi giống, tăng chiều cao, cải thiện
thể chất cho người Việt Nam. Do đó việc phát triển chăn nuôi bò sữa và sản xuất
sữa rất cần thiết cho việc giải quyết các vấn đề suy dinh dưỡng và bệnh tật cho các
nước đang phát triển trong đó có nước ta. Ngày 26/04/2005 Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp đã ký Quyết định số 22/2005/QĐ-BCN về việc phê duyệt - Quy hoạch phát
triển ngành công nghiệp Sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020.
Dịch vụ khách hàng: Với hàng loạt các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, cơ sở
vật chất và trang thiết bị trong nhà máy luôn sạch sẽ - an toàn –vệ sinh. Thái độ
của nhân viên luôn nhiệt tình, nhanh nhẹn, đảm bảo, sử dụng quy trình công nghệ
mới hiện đại tạo nên một hệ thống dịch vụ đẳng cấp. Chính vì những điều này mà
phân phối cùng với hơn 141.000 điểm bán hàng tại toàn bộ 63 tỉnh thành của cả
nước. Sản phẩm mang thương hiệu Vinamilk cũng có mặt tại Mỹ, Canada, Ba Lan,
-
Đức, Trung Quốc,…
Đội ngũ bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm 1.787 nhân viên bán hàng trên khắp đất
nước đã hỗ trợ cho các nhà phân phối phục vụ tốt hơn các cửa hàng bán lẻ và
-
người tiêu dùng, đồng thời quảng bá sản phẩm của Vinamilk
Về công tác nhân lực, những năm qua đã tuyển chọn trên 50 con, em cán bộ công
ty và học sinh giỏi qua các kỳ thi tuyển về công nghệ sữa làm nòng cốt lực lượng
kế thừa trong tương lai gửi đào tạo ở nước ngoài. Hơn 100 cán bộ khoa học, kỹ sư
được cử đi tiếp thu công nghệ ngắn ngày trong nước; 12 người theo học các lớp
đào tạo giám đốc; 15 cán bộ được đào tạo Lý luận chính trị cao cấp; 9 cán bộ theo
các lớp đào tạo cán bộ Công đoàn. Thực hiện nâng lương, nâng bậc đúng niên hạn
cho CBCNV. Bổ nhiệm 7 giám đốc điều hành, 15 giám đốc đơn vị và 17 giám đốc
chuyên ngành nhà máy, Xí nghiệp, Chi nhánh; 12 giám đốc các Phòng, Trung
tâm . Hàng năm thu nhập bình quân năm sau cao hơn năm trước từ 10 – 20,3%; tổ
chức trên 2.000 lao động tham quan trong và ngoài nước; 10 đợt khám sức khoẻ
định kỳ cho tất cả người lao động trong công ty ; tham gia thành phố 5 đợt Hội
thao; 2 đợt Hội diễn văn nghệ; các chế độ bảo hiểm Y tế, bảo hiểm xã hội, học tập
nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn được đảm bảo đầy đủ .
4. Chiến lược marketing cho sản phẩm mới
- Rất nhiều trẻ em sau khi uống sữa bị sôi bụng, đau bụng, tiêu chảy... vậy đâu là
giải pháp để trẻ tránh được hiện tượng này và có loại sữa không đường lactose nào
cao, giúp cho phát triển chiều cao và cho xương chắc khỏe. Như vậy, với sản phẩm
sữa tiệt trùng Flex - không lactoza , người tiêu dùng hoàn toàn có thể yên tâm
uống sữa để bổ sung đầy đủ các dưỡng chất quan trọng cho cơ thể.
5. Phát triển sản phẩm
- Chiến lược phát triển sản phẩm của Vinamilk từ trước tới nay vẫn luôn hướng đến
sự an toàn và lợi ích sức khỏe của người tiêu dùng cả về thể chất và trí tuệ. Vì thế
chúng tôi vô cùng cẩn trọng trong từng giai đoạn: từ lên công thức sản phẩm,
quyết định nguồn nguyên liệu đến thiết kế kiểu dáng và bao bì sản phẩm nhằm
đảm bảo sự an toàn tối đa cho người sử dụng. Ngoài ra, chúng tôi tuyệt đối không
sử dụng những thành phần có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu
dùng như chất bảo quản cho tất cả sản phẩm của Vinamilk hiện tại và tương lai.
-
Với lợi thế về vốn, Vinamilk không ngừng mở rộng quy mô sản xuất khi có 1 nhà
máy sản xuất sữa ở New Zealand và 11 nhà máy sản xuất sữa từ Bắc vào Nam đã
chạy hết 100% công suất. Với mục tiêu lọt vào top 50 công ty sản xuất sữa lớn
nhất thế giới năm 2017, Vinamilk sẽ khánh thành 2 nhà máy chế biến sữa hiện đại
bậc nhất Thế giới vào đầu quý II năm 2013. Ngoài ra Vinamilk còn đẩy mạnh hoạt
động sản xuất sang các mảng kinh doanh khác gồm sữa bột, sữa đậu nành và nước
uống đóng chai. Mới đây Vinamilk cho ra mắt nhãn hiệu nước uống ICY. Thị
trường nước uống không cồn đang được nhiều ông lớn ngành hàng tiêu dùng quan
tâm. Khác với Vinamilk đẩy mạnh sang mảng nước uống và sữa đậu nành,
FrieslandCampina Việt Nam lại tập trung hơn đến các sản phẩm sữa bột. Mới đây
công ty này tung ra nhãn hiệu mới trong mảng sữa bột là Dutchlady Complete và
đẩy mạnh quảng cáo cho nhãn hàng Friso. Và mới đây nhất chính là sản phẩm sữa
không đường Lactoza của Vianmilk.
mới với thế giới. Những sản phẩm này có chi phí và rủi ro rất lớn, vì chúng mới cả đối
với doanh nghiệp lẫn thị trường. Do đó, phần đông các doanh nghiệp thường tập trung cố
gắng của mình vào việc nghiên cứu cải tiến các sản phẩm hiện có thay vì nghiên cứu phát
triển sản phẩm hoàn toàn mới. Ví dụ hãng Sony dành 80% hoạt động về sản phẩm mới
cho công việc cải tiến các sản phẩm hiện có của mình. Việc phát triển sản phẩm mới
thường gặp nhiều khó khăn hơn là thành công. Tại sao có nhiều sản phẩm mới bị thất
bại? có nhiều lý do như sau:
-
Nhà quản trị cấp cao có thể đã ủng hộ ý tưởng mà ông ta ưa thích mà bất chấp
những kết quả marketing cho thấy là bất lợi. Hoặc ý tưởng thì tốt, nhưng người đã
đánh giá quá cao quy mô thị trường của nó. Hoặc sản phẩm đã không được chế tạo
hoàn hảo đúng mức. Hoặc nó đã bị định vị sai trong thị trường hay không được
quảng cáo chu đáo, hay do định giá quá cao. Đôi khi những chi phí cho việc triển
khai lại co hơn dự kiến, hoặc các đối thủ cạnh tranh đã phản ứng mạnh hơn mức
doanh nghiệp dự tính.
-
Càng ngày việc triển khai sản phẩm mới sẽ càng khó thành cồn hơn vì những lý do
sau:
thiếu những ý tưởng hay về sản phẩm mới
Tthị trường ngày càng manh mún và cạnh tranh gay gắt
Những đòi hỏi của xã hội và chính quyền về an toàn trong tiêu dùng và bảo vệ
môi trường ngày càng cao hơn
Quá trình triển khai sản phẩm mới quá tốn lém do áp lực về chi phí nghiên cứu