Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết chặng đường đổi mới cũng không phải là và
cũng không thể là một lộ trình đã tính được trước tất cả. Đó là sự chung
đúc những trăn trở, những ý tưởng của rất nhiều bộ óc, đó là một quá
trình vừa đi, vừa tìm đường, vừa đi vừa điều chỉnh, đấu tranh với cái cũ,
đấu tranh với chính mình. Trên lộ trình đó có những bộ óc bứt phá, vươn
lên trước và từng bước bứt phá và đạt được những thành quả quan trọng,
nhưng cũng có những đường lối đã bị sai lầm và dẫn đến thất bại. Đã gần
30 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/1986) của Đảng
đã trải qua, là đại hội được coi là đại hội đổi mới thì công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước đã có sự chuyển biến rõ rệt, vượt qua tình trạng khó
khăn, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thế
và lực được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao. Nước ta không
còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển. Nước ta từ quan
liêu bao cấp đã trở thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/986) đã thay đổi cơ bản
phương thức phát triển của đất nước, mở đầu cho hàng loạt những đổi
mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp,
văn hóa, xã hội, đối ngoại… Đặc biệt trong báo cáo chính trị tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đại hội đã chủ trương đổi mới
đất nước trên lĩnh vực kinh vực kinh tế, đại hội đã có một bước ngoặt
quan trọng và mạnh dạn, từ việc đổi mới đến việc việc gia nhập WTO là
thách thức nhưng cũng là cơ hội lớn để nước ta phát triển, nó cũng khẳng
định được những thay đổi đúng hướng của Đảng mà Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đã mở đầu cho công cuộc đổi mới này.
tin cho những người nghiên cứu sau.
- Tiểu luận có thể được dùng để làm tài liệu tham khảo, nghiên
cứu phục vụ giảng dạy ở các trường chính trị, các trường đoàn thể và các
trường đào tạo khác có liên quan.
6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận ngắn, danh mục tài liệu tham
khảo, tiểu luận gồm có hai chương:
Chương I: Hoàn cảnh lịch sử và nội dung cơ bản của báo cáo
chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/1986).
Chương II: Đường lối đổi mới kinh tế trong báo cáo chính trị tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/1986)
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ NỘI DUNG CƠ
2
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
BẢN CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN
QUỐC LẦN VI(12/1986)
1.1. Hoàn cảnh lịch sử của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI
1.1.1.Tình hình thế giới
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh
mẽ. tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc.
- Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn,
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
nhiều người lao động chưa có việc làm, hàng tiêu dùng không đủ, nhà ở
và điều kiện vệ sinh thiếu thốn. Những mất cân đối trong nền kinh tế
chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất của xã hội chủ nghĩa chậm được
củng cố, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh bị suy yếu.
- Đời sống nhân dân nhất là công nhân viên chức, lực lượng vũ
trang gặp nhiều khó khăn.
- Tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm;
quần chúng giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành
của Nhà nước. Nhìn tổng quát, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu ổn
định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân.
Nguyên nhân chủ quan của tình hình trên là những sai lầm nghiêm
trọng về chủ trương, chính sách lớn; về chỉ đạo chiến lược và tổ chức
thực hiện của Đảng và của Nhà nước: Xác định mục tiêu và bước đi
không sát thực tế nước ta, không coi trọng khôi phục kinh tế làm nhiệm
vụ cấp bách; nông nghiệp vẫn chưa thực sự là mặt trận hàng đầu; muốn
xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa trong vòng năm
năm; chưa biết kết hợp kế hoạch hoá với quan hệ hàng hoá - tiền tệ; mắc
sai lầm rất nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông.
Sai lầm của đợt tổng cải cách giá – lương - tiền cuối năm 1985 làm
cho kinh tế nước ta càng trở nên khó khăn. Chúng ta không thực hiện
được mục tiêu để ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổn định
đời sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế
nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình này làm cho trong
Đảng và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, xoay quanh thực
trạng của ba vấn đề lớn: cơ cấu sản xuất, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ
cấu quản lý kinh tế. Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có
tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển được
tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi
của Đảng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức
thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt
là sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành
động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh
hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả
khuynh vừa hữu khuynh. Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học
kinh nghiệm lớn:
+ Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư
tưởng "lấy dân làm gốc".
+ Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
qui luật khách quan.
+ Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong
điều kiện mới.
+ Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh
đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
5
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
- Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong
những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình
hình kinh tế- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc
đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.
- Báo cáo chính trị xác định mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho
những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
+ Phát huy động lực của khoa học - kỹ thuật
+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
Trong hệ thống các giải pháp, Đại hội nhấn mạnh phải tập trung sức lực
vào việc thực hiện được ba chương trình, mục tiêu: Lương thực - thực
phẩm, hàng tiêu dung và hàng xuất khẩu. Đây là sự cụ thể hoá nội dung
chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên
của thời kỳ quá độ.
Về huy động sức mạnh của quần chúng, Đại hội xác định phải phát huy
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện khẩu hiệu "dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", tăng cường hiệu lực quản lý của
Nhà nước là điều kiện tất yếu bảo đảm huy động lực lượng to lớn của
quần chúng.
- Đổi mới về chính trị
Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng,
Đại hội đã nêu rõ Đảng phải đổi mới về nhiều mặt:
+ Đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý và điều hành
của nhà nước cho phù hợp với cô cấu và cơ chế kinh tế mới.
+ Đổi mới về quan hệ hợp tác quốc tế theo hướng mở, kêu gọi hợp
tác và đầu tư nước ngoài.
- Đổi mới về đối ngoại
+ Nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sức
kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ
vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở
Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa ba nước
Đông Dương, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên
Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện
nghĩa xã hội, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với
chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững độc lập tự chủ, tăng cường hợp tác
quốc tế, ra sức làm tròn nhiệm vụ dân tộc và làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối
với nhân dân thế giới.
- Phát huy quyền làm chủ của tập thể của nhân dân lao động, nâng
cao hiệu quả quản lý của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa
+ Bài học "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng" bao giờ cũng
quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu, nhân dân
lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất
hiện phong trào cách mạng. Vận dụng bài học này vào giai đoạn cách
mạng mới, Đảng ta coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất
của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi lĩnh
vực của đời sống. Chúng ta đã xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo,
nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý
toàn bộ xã hội.
+ Quyền làm chủ của nhân dân cần được thể chế hoá bằng pháp luật
8
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
và tổ chức. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, quyền hạn và lợi ích đi đôi với
trách nhiệm và nghĩa vụ. Mỗi người đều phải làm chủ lao động của mình,
làm việc có kỷ luật, với năng suất và hiệu quả cao, đóng góp xứng đáng
cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Mọi công dân phải tham gia việc giữ
gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống địch phá hoại, bảo vệ Tổ quốc,
coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của mình.
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
trình chặt chẽ. Chấm dứt chế độ làm việc theo lối quan liêu qua
nhiều nấc trung gian không cần thiết. Thực hiện phong cách làm việc
có điều tra, nghiên cứu, xử lý công việc nhanh chóng, bãi bỏ những
thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho nhân dân. Người ra quyết định
phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
+ Đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng
viên và nhân dân là nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng.
+ Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý
+ Đổi mới phong cách làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt trong Đảng
+ Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu
cực
+ Nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
+ Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng
CHƯƠNG II: ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI KINH TẾ TRONG BÁO
CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN
VI(12/1986)
2.1. Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới kinh tế trong báo
cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/1986)
1.2.1. Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư
Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân
đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý,
nông nghiệp. Phải đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất
lớn, nhằm yêu cầu chủ yếu là tăng nhanh khối lượng và tỷ suất hàng hoá
nông sản. Nông nghiệp phải được ưu tiên đáp ứng những nhu cầu về đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, về vật tư, về lao động kỹ thuật;
những nguồn đầu tư ấy phải được sử dụng có hiệu quả. Đầu tư cho nông
nghiệp phải đồng bộ từ sản xuất đến chế biến, vận chuyển, bảo quản để
có nhiều sản phẩm cuối cùng.
Phát triển lâm nghiệp theo hướng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả
tài nguyên rừng, tăng thêm vốn rừng, phát triển có trọng điểm việc trồng
rừng tập trung chuyên canh, đẩy nhanh nhịp độ phủ xanh đất trống, đồi
núi trọc theo phương thức nông - lâm kết hợp; ngăn chặn nạn phá rừng,
cháy rừng; phát triển rộng khắp phong trào trồng cây, chú ý cả cây lấy
gỗ, cây làm nguyên liệu và làm củi. Tiến hành tích cực việc định canh,
định cư, giao đất, giao rừng cho các đơn vị tập thể và nhân dân sử dụng
lâu dài để làm chủ đất rừng như làm chủ đất ruộng. Xây dựng các khu
11
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
kinh tế tổng hợp lâm - nông - công nghiệp; khai thác, bảo quản, chế biến,
sử dụng gỗ và các loại lâm sản khác với hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Hải sản và thuỷ sản nước ngọt, nước lợ là một nguồn lợi lớn. Coi
trọng cả đánh bắt và nuôi trồng, đi đôi với giải quyết tốt việc chế biến,
vận chuyển để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và tăng nhanh hàng
xuất khẩu. Tăng đầu tư và bổ sung chính sách nhằm tận dụng mọi diện
tích mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản. Những diện tích mặt nước mà
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
thế mạnh của các vùng trong mối quan hệ liên kết, bổ sung cho nhau theo
quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng trao đổi trong nước và
với nước ngoài, khắc phục khuynh hướng tự cấp, tự túc. Kết hợp chặt
chẽ giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp, tiểu, thủ
công nghiệp, giữa sản xuất và lưu thông, dịch vụ trên địa bàn từng
huyện, từng tỉnh, từng vùng kinh tế
Theo phương hướng bố trí lại cơ cấu kinh tế, phải điều chỉnh lớn
cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước nhằm tập trung cho việc
thực hiện ba chương trình mục tiêu nói trên và bảo đảm phát huy hiệu
quả. Việc xác định hiệu quả đầu tư phải chú ý tới yêu cầu tốn ít vốn, tạo
ra nhiều việc làm, đưa công trình vào sử dụng nhanh.
Phải soát xét thật chặt chẽ các công trình xây dựng dở dang, kể cả
công trình trên hạn ngạch và dưới hạn ngạch, của cả trung ương và địa
phương, trong tất cả các ngành, cũng như các công trình chưa khởi công,
nhưng đã ký nhập thiết bị toàn bộ của nước ngoài. Kiên quyết giãn tiến
độ hoặc đình hẳn việc xây dựng những công trình chưa thật sự cấp bách
hoặc làm xong sẽ không đủ điều kiện sử dụng có hiệu quả, hoặc xét trong
khả năng cân đối chung, cần dành ưu tiên cho các công trình khác. Tập
trung sức hoàn thành nhanh và đồng bộ một số công trình trọng điểm.
Cùng với việc lựa chọn chặt chẽ các công trình chuyển tiếp, cần ưu tiên
đầu tư đồng bộ và đầu tư chiều sâu cho các cơ sở hiện có.
Đi đôi với việc điều chỉnh phương hướng và cơ cấu đầu tư, phải
quy định lại chế độ, thể lệ đầu tư nhằm nêu cao trách nhiệm trong việc
xây dựng phương án và quyết định chủ trương đầu tư, đặc biệt là đối với
các công trình lớn do Trung ương quyết định. Tránh xét duyệt riêng rẽ
từng công trình tách khỏi các quan hệ cân đối chung. Gắn trách nhiệm và
quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một
đặc trưng của thời kỳ quá độ. Ở nước ta, các thành phần đó là:
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu
vực tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần
đó.
- Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá;
kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà
hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong
một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi
cao khác.
Chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xuất phát từ đặc trưng nói
trên mà đề ra những chủ trương và biện pháp đúng đắn.
Phải đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm cho các đơn vị kinh tế quốc
doanh có quyền tự chủ, thật sự chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội
chủ nghĩa, lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế. Sắp xếp lại
sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật và đẩy mạnh việc ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Trên cơ sở đó, ổn định và từng bước nâng cao tiền lương thực tế của
14
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
công nhân, viên chức, tăng tích luỹ cho xí nghiệp và cho Nhà nước. Kinh
tế quốc doanh chủ động mở rộng liên kết với các thành phần kinh tế
khác, hướng các thành phần đó vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Để củng cố kinh tế tập thể, phải nâng cao trình độ tổ chức, quản lý
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
đối với các thành phần đó bằng nhiều hình thức.
1.2.3. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Cơ chế đó quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu,
với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh chi tiết từ trên giao xuống,
không phù hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan quản lý
hành chính - kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối
với các quyết định của mình; các đơn vị kinh tế cơ sở vừa không có
quyền tự chủ, vừa không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất,
kinh doanh.
Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã được khẳng định
là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với
quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế.
Quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình
chuyển hoá nền kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh
tế hàng hoá. Chúng ta đang quản lý có kế hoạch một nền kinh tế sản xuất
hàng hoá với những đặc điểm của thời kỳ quá độ. Việc sử dụng đầy đủ
và đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong kế hoạch hoá nền kinh tế
quốc dân là một tất yếu khách quan. Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá
- tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý kinh tế mà chúng
ta đang xây dựng.
Việc sử dụng quan hệ hàng hoá - tiền tệ đòi hỏi sản xuất phải gắn
với thị trường, mọi hoạt động kinh tế phải so sánh chi phí với hiệu quả,
các tổ chức và đơn vị kinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản
khắc phục trở ngại chính hiện nay là tư tưởng bảo thủ mưốn quay trở lại
cơ chế cũ đã quen thuộc, do dự không dám giải quyết những vấn đề đã
chín muồi.
Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phải nắm vững
những vấn đề có tính nguyên tắc dưới đây:
Thực hiện tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế.
Kế hoạch kinh tế quốc dân trong những năm tới phải bảo đảm thực
hiện phương hướng sắp xếp lại nền kinh tế, bố trí đúng cơ cấu sản xuất,
cơ cấu đầu tư theo các chương trình mục tiêu. Các cân đối kế hoạch được
xây dựng từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên, với sự hướng dẫn và điều hoà
của trung ương. Kết hợp chặt chẽ kế hoạch hoá theo ngành và kế hoạch
hoá trên địa bàn lãnh thổ.
Với quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, các đơn vị kinh tế cơ sở
chủ động tiếp cận nhu cầu của thị trường, khai thác mọi khả năng để phát
triển sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của kế
hoạch nhà nước. Hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh
vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch vừa là công cụ pháp lý bảo đảm cho
việc thực hiện kế hoạch. Cần tăng cường chế độ hợp đồng kinh tế và bảo
đảm hiệu lực của nó bằng chế độ trọng tài kinh tế nhà nước.
Đối với những mặt hàng hoàn toàn do kinh tế quốc doanh sản xuất
17
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
hoặc nhập khẩu, đương nhiên, thương nghiệp quốc doanh độc quyền bán
trên thị trường và Nhà nước có biện pháp hành chính để bảo đảm sự độc
18
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và qua tình hình thực tế của nước ta,
càng thấy rõ sự bức bách phải làm cho khoa học, kỹ thuật thật sự trở
thành một động lực to lớn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
Sự lựa chọn về phương hướng khoa học, kỹ thuật phải thống nhất
với sự lựa chọn về mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm tới, phải lựa chọn và tổ chức áp dụng rộng rãi các
thành tựu khoa học và kỹ thuật thích hợp, nhằm trước hết phục vụ ba
chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu. Trong nông nghiệp, áp dụng rộng rãi các thành tựu sinh học và các
thành tựu khoa học, kỹ thuật khác làm tăng thêm màu mỡ cho đất canh
tác, tăng nhanh năng suất trồng trọt, chăn nuôi, nâng cao hệ số sử dụng
đất, giảm hư hao lương thực và nông sản khác.
Thực hiện những biện pháp đồng bộ, có hiệu quả để sớm khắc
phục sự chậm trễ của khoa học xã hội. Nhiệm vụ chủ yếu của các ngành
khoa học xã hội trong những năm tới là tham gia đắc lực vào công tác lý
luận của Đảng, góp phần xây dựng cương lĩnh về cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta trong thời kỳ quá độ, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,
đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và nắm bắt nhanh nhạy những
thành tựu lý luận của các nước anh em. Khoa học xã hội phải trở thành
công cụ sắc bén trong việc đổi mới nhận thức, đổi mới phương pháp tư
khoa học, kỹ thuật theo các hướng ưu tiên của Hội đồng tương trợ kinh tế
đến năm 2000.
Tăng cường hệ thống thông tin kinh tế và khoa học, kỹ thuật, nâng
cao năng lực bảo đảm thông tin cho công tác lãnh đạo và quản lý, cho
hoạt động nghiên cứu, triển khai và sản xuất. Tạo thuận lợi cho việc tiếp
nhận thông tin kinh tế và khoa học, kỹ thuật từ ngoài nước. Phát triển
mạnh và nâng cao chất lượng công tác thông tin đại chúng cả về nội
dung và hình thức. Tổ chức tốt công tác lưu trữ; bảo vệ an toàn và sử
dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia.
1.2.5. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên
cũng như sự nghiệp phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghiệp hoá xã
hội chủ nghĩa của nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc
một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại.
Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại,
nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ
yếu là mở rộng quan hệ phân công, hợp tác toàn diện với Liên Xô, Lào
và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa;
đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với
các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức
quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
Chương trình xuất khẩu cho những năm tới phải tính toán cụ thể
và chính xác hiệu quả kinh tế của từng mặt hàng để lựa chọn các sản
phẩm xuất khẩu có lợi nhất, xác định các sản phẩm xuất khẩu chủ lực,
vừa có kim ngạch cao, vừa có điều kiện ổn định và phát triển cả về sản
20
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Mở rộng hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa khác, từ các hình thức bạn đưa gia công, liên
doanh đến đầu tư trực tiếp; tăng cường quan hệ hợp tác, liên kết trực tiếp
trong lĩnh vực sản xuất và khoa học giữa các tổ chức kinh tế, khoa học kỹ thuật của nước ta với các tổ chức tương ứng của các nước anh em.
Đẩy mạnh hợp tác khoa học, kỹ thuật và đào tạo cán bộ, công
nhân. Tổ chức tốt việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc theo hợp
đồng ở nước ngoài dưới nhiều hình thức; chú ý tới hình thức nhận thầu
đồng bộ công trình xây dựng và các loại dịch vụ. Nhanh chóng khai thác
21
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
các điều kiện thuận lợi của đất nước để mở mang du lịch bằng vốn đầu tư
trong nước và hợp tác với nước ngoài. Phát triển vận tải quốc tế, dịch vụ
cung ứng tàu biển và máy bay...
Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ làm nảy sinh những vấn
đề phức tạp, cần có biện pháp hạn chế và ngăn ngừa những hiện tượng
tiêu cực, song không vì thế mà đóng cửa lại. Có kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng về phẩm chất và năng lực kinh doanh cho đội ngũ cán bộ làm kinh
tế đối ngoại, kể cả những cán bộ chuyên làm công tác này và những cán
bộ ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh có quan hệ giao dịch với nước ngoài.
2.2. Ý nghĩa của đường lối đổi mới kinh tế trong báo cáo chính
trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/1986)
Báo cáo chính trị đã thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm trong
việc đánh giá tình hình, chưa nhận thức được đầy đủ thời kỳ quá độ là
một quá trình lịch sử tương đối dài phải trải qua nhiều chặng đường. Còn
đại, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội
của nước ta. Thể hiện sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và cũng
thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Đảng trước đất nước và trước dân
tộc. Sau đại hội, Đảng đã lãnh đạo triển khai thực hiện đường lối đổi mới
toàn diện, từng bước tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển, đưa cách
mạng nước ta từng bước đạt được những thành tựu rất quan trọng.
Đại hội đã chỉ ra những nguyên nhân căn bản dẫn đến khủng
hỏang kinh tế xã hội và trên cơ sở đó, Báo cáo đã đề xướng chủ trương
đổi mới đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở
nước ta. Đại hội xác định, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta phải trải qua nhiều chặn đường. Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng
quát của chặn đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình kinh tế - xã hội,
tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa trong chặn đường tiếp theo.
Tuy còn một số hạn chế về những giải pháp tháo gỡ tình trạng rối
ren trong vấn đề phân phối, lưu thông,nhưng đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI của Đảng thực sự có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu một
bước ngoặt trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và đổi mới kinh
tế nói riêng, quá trình đổi mới đã mở đường cho đất nước thoát ra khỏi
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách
mạng Việt Nam, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo,
là phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Việc thực hiện đường lối đổi mới kinh tế mà Đảng đề ra đã trở
thành động lực thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, làm thay đổi bộ
mặt của xã hội, mở ra một giai đoạn phát triển mạnh mẽ mới của lịch sử
Cách mạng Việt Nam. Đánh dấu sự trưởng thành của Đảng về bản lĩnh
chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng.
23
của Đảng đề ra trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI (12/1986) khiến bản thân em cảm thấy niềm tự hào về dân tộc và
niềm tin vào đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước của Đảng. Đồng
thời, việc thực hiện tiểu luận cũng giúp em hiểu rõ nhiệm vụ của bản
thân nói riêng và của thế hệ trẻ nói chung phải làm sao tu dưỡng, học tập
tốt hơn, góp phần đưa đất nước tiến liên hơn nữa theo con đường mà
Đảng ta đã chọn.
24
GVHD: T.S Nguyễn Văn Trung
Bài tiểu luận
SVTH: Nguyễn Chí Công- Lớp 53B- Chính trị học
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bội Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình Đường lối cách mạng của
Đảng cộng sản Việt Nam , Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(12/1986), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Nguyễn Tấn Hùng (2011), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, Nhà xuất bản kinh tế, Hà Nội.
5. Websites: tailieu.vn, dangcongsan.vn
6.Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam – Nhà xuất bản Bách Khoa – Hà Nội
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập – Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia – 2006
8. Website : http://dangcongsan.vn/cpv/
9. Đảng cộng Sản Việt Nam, Quá trình đổi mới tư duy lí luận và thực