BÀI THU HOẠCH: ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI.
Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta đã tăng đáng kể: Việt Nam đang
hội tụ các điều kiện để đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại,
vai trò và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong khu vực và trên trường
quốc tế. Thành tựu của hơn 20 năm đổi mới càng chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng
trên đất nước Việt Nam, và do đó tiếp tục khẳng định thực tế là: trong quá trình lãnh
đạo cách mạng Việt Nam và bằng những thành tựu cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam
vẫn luôn nỗ lực hết mình thực hiện nghĩa vụ trước dân tộc và giai cấp, ở trong nước và
trên thế giới.
I, THỜI KÌ ĐỐI NGOẠI TRƯỚC ĐỔI MỚI (TỪ 1975_1986)
1. Hoàn cảnh lịch sử.
a, Tình hình thế giới.
_Từ thập kỷ 70, thế kỷ XX, sự tiến bộ nhanh chóng của các cuộc khoa học và công nghệ
đã thúc đẩy lưc lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh.
_ Phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh.
_ Từ giữa thập kỷ 70, thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa
xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định.
b, Tình hình khu vực Đông Nam Á:
_Sau năm 1975, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, khối quân sự SEATO tan rã.
_ Tháng 2-1976, các nước ASEAN ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á
( Hiệp ước Bali).
=> Mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực.
c, Tình hình trong nước:
_ Thuận lợi:
+, Tổ quốc hoà bình thống nhất, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+, Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựu quan trọng.
_ Khó khăn:
+, Các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn thâm độc chống phá cách mạng Việt
Nam tại biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc.
+, Đại hội lần thứ V của Đảng (3-1982) nhận định: “nước ta đang ở trong tình trạng
vừa có hoà bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt”.
Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
=>Những kết quả đối ngoại trên đây có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng
Việt Nam. Nước ta đã tranh thủ được nguồn viện trợ đáng kể, góp phần khôi phục
đất nước sau chiến tranh từ việc trở thành thành viên chính thức Quỹ tiền tệ quốc tế,
Ngân hàng phát triển châu Á…Bên cạnh đó, đã tranh thủ được sự ủng hộ, hợp tác
của các nước, các tổ chức quốc tế, đồng thời phát huy được vai trò của nước ta trên
trường quốc tế.
b, Hạn chế, nguyên nhân.
_ Quan hệ quốc tế ở nước ta gặp nhiều khó khăn, trở ngai lớn.
_ cuối thập niên 70 của thế kỉ XX, do “sự kiện Campuchia”, các nước ASEAN và một
số nước khác thực hiện cấm vận Việt Nam.
_Nguyên nhân:
+, Do nước ta chưa nắm bắt được xu thế chuyển từ đối đầu qua hòa hoãn và chạy đua
kinh tế tren thế giới.
+Không tranh thủ được các nhân tố thuận lợi trong quan hệ quốc tế để khôi phục kinh
tế sau chiến tranh.
+, Nguyên nhân cơ bản là do “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động
giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”.
II, ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP KINH TẾ SAU THỜI KÌ MỚI.
1, Hoàn cảnh lịch sử và quá trình phát triển đường.
a, Hoàn cảnh lịch sử.
Tình hình thế giới
_Giữa những năm 1980: cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh
mẽ tác động sâu sắc đến mọi mặt quốc gia.
_Đầu những năm 90: Chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Khiến cho:
o Các nước XHCN lâm vào khủng hoảng sâu sắc.
o Hình thành trật tự thế giới mới.
o Các cuộc chiến tranh cục bộ vẫn còn nhưng xu thế chung của thế giới là hòa
bình và hơp tác và phát triển.
o Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước thay đổi tư duy đối ngoại.
o Do hậu quả nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế nước nhà lâm vào khủng
hoảng nghiêm trọng. Vì vậy, nhu cầu chống tụt hậu về Kinh tế đặt ra gay gắt.
=>Vì vậy, bối cảnh lịch sử hết sức khó khăn lúc này đã yêu cầu Đảng Cộng Sản
Vn phải hoạch định chủ trương chính sách đối ngoại kịp thơi để thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
b, Các giai đoạn hình thành phát triển đường lối.
*Giai đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá,
đa phương hoá quan hệ quốc tế.
Tháng 12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chủ trương kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại điều kiện mới, yêu cầu mở rộng quan hệ hợp
tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp
phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi.
Tháng 12-1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành.
Tháng 5-1988, Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình
mới là củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế,
chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta, đặt nền móng hình thành
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ
quốc tế.
Năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất và kinh doanh
xuất nhập khẩu.
Tháng 6-1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chủ trương “hợp tác
bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội
khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm “Việt
Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà
bình, độc lập và phát triển”,thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
Các hội nghị Trung ương sau đó đã tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, trên cơ sở tư tưởng chỉ
đạo là: giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất
Về cơ hội:
+, Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển kinh tế.
+, Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đã nâng cao thế và lực của nước ta trên trường
quốc tế.
Về thách thức:
+ Phân hoá giàu nghèo, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia…gây tác động bất lợi
đối với nước ta.
+ những biến động trên thị trường quốc tế sẽ tác động nhanh và mạnh hơn đến thị
trường trong nước.
+ các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” chống phá chế độ
chính trị và sự ổn định, phát triển của nước ta
_Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại.
_ Tư tưởng chỉ đạo
+Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính .
+ Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ đối ngoại.
+ Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế
+ Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
+ Kết hợp đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân
+ Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; bảo
vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
bên ngoài.
+ Thực hiện các cam kết gia nhập WTO, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn
kết toàn dân trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
b. Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại hội nhập kinh tế
quốc tế
_Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá X (2-2007) đã đề ra một số chủ
trương, chính sách lớn như:
+, Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững
+ Hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, không đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực
hiện các cam kết của các tổ chức kinh tế quốc tế.
+ Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế
và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết.
+ Doanh nghiệp nước ta hầu hết quy mô nhỏ, yếu kém cả về quản lý và công nghệ
+ Đội ngũ cán bộ lĩnh vực đối ngoại nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số
lượng lẫn chất lượng.
III, THỰC TIỄN VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
_Trong thế kỉ 21, toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước
_Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các
quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển.
_Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo,
chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn xẩy ra ở nhiều nơi với tính
chất và hình thức ngày càng đa dạng và phức tạp.
_Sau gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã
lớn mạnh lên nhiều.
+ Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định.
+Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế
giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ
ngoại lực.
_Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn. Bốn nguy cơ
mà Đảng ta đã từng chỉ rõ tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 là tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã
hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, diễn biến hoà bình do các thế lực thù
địch gây ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau.
_Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế
với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."
liên tục và đôi khi chưa kịp thời; việc tuyên truyền đấu tranh, phản bác các quan điểm
sai trái của các thế lực thù địch trong các vấn đề liên quan tới chủ quyền biển, đảo còn
thụ động và chưa đồng bộ…
Để tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo phục vụ
CNH, HĐH đất nước, nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh bảo vệ chủ
quyền biển, đảo Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và coi đây là vũ khí đấu tranh hiệu quả
trước các âm mưu, thủ đoạn gây tranh chấp về chủ quyền biển, đảo. Việc tổ chức, triển
khai công tác tuyên truyền trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp, yêu
cầu cơ bản sau:
1, Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác tuyên truyền
về chủ quyền biển, đảo.
_Đây là yêu cầu tiên quyết đặt ra đối với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về
chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Công tác tuyên truyền về chủ quyền biển,
đảo đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương tới cơ sở và sự phối
hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các địa phương; cần quán triệt sâu sắc các quan
điểm, chủ trương và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền chủ
quyền biển, đảo; triển khai thực hiện công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo ở
tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước về biển, đảo và công
tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo
_ Cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể, các tổ chức
chính trị - xã hội, đặc biệt là các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc triển khai thực
hiện công tác tuyên truyền về chủ quyền, biển đảo.
_Cần có quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan truyền thông trong nước với các
cơ quan truyền thông quốc tế để triển khai các hoạt động thông tin tuyên truyền về
biển, đảo Việt Nam.
_Có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các cơ quan thông tấn báo chí
trong và ngoài nước, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo nhằm góp phần
củng cố nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tranh thủ sự ủng hộ của cộng
hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các tuyên bố năm 1977 và năm 1982 của Chính
phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về các vùng biển Việt Nam; Tuyên bố về cách
ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002; Báo cáo quốc gia xác định ranh
giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam trình Ủy ban ranh giới ngoài thềm lục địa của
Liên hợp quốc năm 2009; Bản hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở
biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc vừa được thông qua tháng 7-2011.
_Thông qua tuyên truyền khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đấu tranh không khoan nhượng với những
luận điệu tuyên truyền xuyên tạc sự thật lịch sử về quyền và chủ quyền trên biển của
Việt Nam. Đồng thời với sự thống nhất về nội dung, cần phải đa dạng hóa việc sử
dụng các phương tiện và hình thức tuyên truyền như: sách, báo, tạp chí, các phương
tiện truyền thanh, truyền hình, internet, tiếp xúc ngoại giao, đàm phán kinh tế, trao đổi
khoa học công nghệ Trong từng thời điểm và bối cảnh cần căn cứ vào các đối tượng
để xác định cách thức tuyền truyền phù hợp. Nội dung tuyên truyền cần được truyền
đạt thông qua nhiều ngôn ngữ và chữ viết phổ biến như: tiếng Anh, Trung, Nga, Nhật,
Pháp… và thông qua hình ảnh để nâng cao hiệu quả tuyên truyền.
_Công tác tuyên truyền biển, đảo vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ
trọng yếu thường xuyên, lâu dài; tuyên truyền về biển, đảo đòi hỏi phải xây dựng lực
lượng rộng rãi, trong đó các cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông là lực lượng
nòng cốt, lấy chủ quyền biển, đảo làm mục tiêu tuyên truyền và tập hợp rộng rãi lực
lượng cách mạng, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong đấu tranh bảo
vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.
2. Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng nhà nước về vấn đề biển Đông
Tranh chấp trên biển Đông sẽ không thể giải quyết trong một thời gian ngắn và cần
kiên trì giải quyết bằng đối thoại và biện pháp hòa bình, trên cơ sở vì lợi ích của mỗi
bên và dựa vào luật pháp quốc tế.
+, Tại cuộc tọa đàm, các đại biểu đã cùng trao đổi và phê phán việc làm sai trái của các
tàu hải giám Trung Quốc trong việc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 của Tập
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế của
Việt Nam vào ngày 26/5 vừa qua.
Chúng ta không nói suông, không thụ động ngồi im, nhưng cũng không bảo vệ chủ
quyền một cách thiếu khôn ngoan mà phải dựa vào sức mạnh thời đại, đó là niềm tin, sự
ủng hộ vào chân lý và khát vọng hoà bình của tất cả các nước, tất cả các dân tộc trong
thế giới ngày nay. Ngay cả nhân dân Trung Quốc cũng vậy, họ rất yêu chuộng hoà bình
và cũng mong muốn một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước mình. Chúng ta sẽ sử dụng đúng
luật pháp quốc tế và bảo vệ bằng được chủ quyền lãnh thổ, tài sản quốc gia. Với những
cố gắng của chúng ta trong tuyên truyền, đấu tranh ngoại giao, đối thoại với Trung
Quốc và tăng sức mạnh bảo vệ thì tôi tin sẽ không tái diễn sự kiện 26/5 lần nữa”.
+, Chúng ta giải quyết bằng biện pháp hòa bình, và chúng ta có cơ sở để kiên trì giải
pháp hòa bình trên tinh thần tăng cường đoàn kết, hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết và
tôn trọng lẫn nhau. Trong thế giới toàn cầu hóa, Trung Quốc cần một hình ảnh tốt đẹp
để phát triển quan hệ ngoại giao, kinh tế, xã hội
+, Chúng ta tin tưởng các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiểu được vấn đề này. Trên cơ sở
nhận thức như vậy, nhưng giải pháp của chúng ta sẽ mang lại lợi ích cho chúng ta và lợi
ích cho chính Trung Quốc, và có thể sẽ được hiện thực hóa trong tương lai, tất nhiên nó
sẽ vô cùng lâu dài và khó khăn, nhưng phải kiên trì.
Vấn đề cần thiết nữa là chúng ta phải tăng cường sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau với
Trung Quốc. Chúng ta muốn hòa bình, hòa hiếu, chỉ muốn giữ mảnh đất, vùng biển của
chúng ta theo điều luật quốc tế quy định, và chúng ta cần giữ được độc lập tự chủ về
đường lối.
Điểm cuối cùng là chúng ta cần quan tâm xây dựng quân đội tinh gọn, hiện đại. Không
trang bị vũ khí có tính chất tấn công mà chỉ mang tính tự vệ. Không tham gia các liên
minh quân sự. Đặc biệt không gây lo ngại cho bất kỳ quốc gia nào về đe dọa sử dụng vũ
lực. Vừa rồi chúng ta mua tàu ngầm, máy bay hoàn toàn là để phòng thủ.
Tóm lại, vấn đề đối ngoại hiện vẫ là một vấn đề khó khăn và nhức nhối đối với
Đảng và nhà nước ta. Nhưng hi vọng trong tương lai, nước nhà sẽ giải quyết một
cách êm đẹp các vấn đề bất cập hiện nay, trở thành một đất nước hòa bình, văn
minh, lịch sự và khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 10 năm 2011.