Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn trong dạ cỏ để ứng dụng chăn nuôi gia súc nhai lại và cung cấp cho quá trình lên men cồn từ bã mía (TT) - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Vi sinh vật học

Mã ngành: 62 42 01 07

VÕ VĂN SONG TOÀN

PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI KHUẨN TRONG
DẠ CỎ ĐỂ ỨNG DỤNG CHĂN NUÔI GIA SÚC
NHAI LẠI VÀ CUNG CẤP CHO QUÁ TRÌNH
LÊN MEN CỒN TỪ BÃ MÍA

Cần Thơ, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Vi sinh vật học

Mã ngành: 62 42 01 07

VÕ VĂN SONG TOÀN

PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI KHUẨN TRONG
DẠ CỎ ĐỂ ỨNG DỤNG CHĂN NUÔI GIA SÚC
NHAI LẠI VÀ CUNG CẤP CHO QUÁ TRÌNH

xuyên trong sản xuất nông nghiệp, lương thực, dược phẩm, năng lượng
cũng như năng suất thấp và ô nhiễm môi trường. Một trong những sản
phẩm của công nghệ sinh học là dạng thức ăn bổ sung probiotic. Bào tử
của một số loài B. cereus, B. licheniformis, và B. subtilis thường được
sử dụng như thức ăn bổ sung probiotic để đưa vào đường tiêu hóa
(Sanders et al., 2003). Việc cho ăn trực tiếp vi sinh vật (Microbials
Direct-Fed, DFM) đã tác động tốt đến môi trường dạ cỏ, đồng thời cải
thiện sức khỏe và sự phát triển của bê non (Krehbiel et al., 2014). Điều
này đã cho thấy việc sử dụng những vi sinh vật sở hữu hệ cellulase đồng
thời có khả năng sử dụng như một thức ăn probiotic là rất cần thiết để
cải thiện khả năng tiêu hóa của gia súc nhai lại, góp phần cải thiện sức
khỏe của vật nuôi.
Bên cạnh đó, sức p t khủng hoảng dầu mỏ và nhu cầu năng
lượng luôn là vấn đề đặt ra cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Tuy
nhiên, việc sản xuất ethanol thế hệ thứ nhất (sản phẩm nông nghiệp) đe
dọa nền an ninh lương thực toàn cầu. Điều này đã khích lệ các nước trên
thế giới đầu tư nghiên cứu vào lĩnh vực nhiên liệu sinh học thế hệ thứ
hai: lignocellulose (Rubin, 2008). Bã mía đã được sử dụng để lên men
ethanol bằng Candida shehatae NCIM 3501 (Anuj, 2007). Pichia
stipitis tái tổ hợp đã được sử dụng để lên men thân cây bắp sau khi nổ
hơi nước và được thủy phân trực tiếp với enzyme (Xiushan, 2011).
Với mong muốn phát triển chế phẩm vi sinh vật hỗ trợ gia súc
nhai lại tiêu hóa xơ thực vật và phát triển nguồn nhiên liệu sinh học thế
hệ thứ 2, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “phân lập, tuyển chọn vi
khuẩn trong dạ cỏ để ứng dụng chăn nuôi gia súc nhai lại và cung cấp
cho quá trình lên men cồn từ bã mía”
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tuyển chọn tổ hợp VKDC ứng dụng trong chăn nuôi GSNL.
- Tuyển chọn tổ hợp VKDC-nấm men để lên men ethanol t
bã mía.

2.1. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu “Tổ hợp vi khuẩn dạ cỏ thích hợp để để
phân giải bã mía trong điều kiện in vitro và in vivo và lên men ethanol
t bã mía có sự kết hợp giữa nấm men và tổ hợp dịch vi khuẩn dạ cỏ bò”
đề tài đã xây dựng và hoàn thành nội dung nghiên cứu:
(1) Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn dạ cỏ của bò, trâu, c u, dê.
(2) Tuyển chọn vi khuẩn dạ cỏ để phân giải bã mía trong điều
kiện in vitro và in vivo.
2


(3) Tuyển chọn nấm men để kết hợp với vi khuẩn dạ cỏ bò để lên
men ethanol t bã mía.
Những nội dung nghiên cứu được mô tả theo sơ đồ sau:

Hinh 2.1. Sơ đồ nội dung nghiên cứu luận án
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Nội dung 1: Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn phân giải xơ bã
mía từ dịch dạ cỏ trâu, bò, cừu và dê
2.2.1.1. Phân lập vi khuẩn có nguồn gốc từ dịch dạ cỏ (VKDC)
Dịch dạ cỏ mỗi loài gia súc nhai lại (bò, trâu, c u và dê) dùng để
phân lập vi khuẩn trên đĩa petri theo phương pháp của Robert Koch
(Brock, 1961) với thành phần dung dịch khoáng của môi trường nuôi
cấy theo Ryckeboer et al. (2003) và tiến hành ủ ở ở 38oC trong 48 giờ
trong bình ủ thủy tinh có nắp kín. Đèn cầy được đặt bên trong bình đốt
hết oxy trong bình ủ để tạo môi trường kỵ khí (bình ủ kỵ khí).
Những khuẩn lạc đồng nhất về hình dạng, màu sắc dạng bìa sẽ
được sử dụng quan sát tiếp ở vật kính độ phóng đại 100X để xác định độ

3

5
6
7

  
1


2


3


4
Ghi chú: ĐC: đối chứng, NT: nghiệm thức.

NT
8



9

10






kính 5 mm của môi trường M1 (cơ chất CMC hoặc bã mía), ủ 3 ngày ở
38oC trong bình ủ kỵ khí. Mẫu được nhuộm với Congo Red sau 3 ngày
để khảo sát vòng halo phân giải bả mía (Nguyễn Đức Lượng, 2004).
4


2.2.2. Nội dung 2: Tuyển chọn tổ hợp dịch VKDC phân giải bã mía
trong điều kiện in vitro và in vivo
2.2.2.1. Phối hợp VKDC giữa các loài trong điều kiện in vitro
a) Ảnh hƣởng của tổ hợp VKDC bò và trâu hoặc cừu hoặc dê
Mẫu: Tổ hợp 03 VKDC bò (BM13, BM21 và BM49 = 1:1:1),
dịch VKDC trâu (TM9 và TM11), hoặc VKDC c u (CD43 và CD11),
hoặc VKDC dê (DD9 và DD7) được chọn t kết quả của 2.2.1.3.
Thành phần dung dịch đệm theo Tilley và Terry (1963). Dịch dạ
cỏ (DDC) bò được thu qua lỗ dò của bò được trữ vào lọ tối màu và
chuyển vào bình giữ ấm. Dịch dạ cỏ thu về được dùng để bố trí thí
nghiệm in vitro sau khi gạn bỏ thức ăn th a. Khí CO2 được bơm trong
45 phút để tạo kỵ khí và ủ ấm ở nhiệt độ 38oC trong bồn ủ ổn nhiệt
trước khi dùng.
Bảng 2.2. Phối hợp VKDC giữa các loài trong điều kiện in vitro
Thành phần
DDC bò
DD đệm (mL)
VKDC bò (mL)
VKDC 1 (mL)
VKDC 2 (mL)

DC40
160
0


NT4
40
160
6
3
3

NT5
40
160
3
9
0

NT6
40
160
3
0
9

NT7
40
160
3
4,5
4,5

* Ghi chú: DC-: Đối chứng âm; DC+: Đối chứng dương; NT: Nghiệm thức

160
40

NT4
2
160
40

0
0
0

12
0
0

12
0
0

9
3
0

Nghiệm thức
NT5 NT6
2
2
160
160

9
0
3

6
0
6

3
0
9

4
4
4

5


* Ghi chú: VK 1: Tổ hợp VKDC bò: BM13, BM21 và BM49 = 1:1:1; VK 2: VKDC cừu:
CD43:CD1 = 1:1 , VK 3: VKDC dê = DD9.

Trong đó, dịch VKDC bò (BM13, BM21 và BM49 = 1:1:1) chọn
t 2.2.1.3, tổ hợp VKDC c u (CD11 và CD43), và VKDC dê (DD9)
được chọn t 2.2.2.1.a
Thành phần dung dịch đệm theo Tilley và Terry (1963); Dịch dạ
cỏ (DDC) bò chuẩn bị như ở tiểu mục 3.3.2.1; VKDC trâu hoặc VKDC
c u hoặc VKDC dê có mật số 107CFU/mL được bố trí theo bảng 2.3 và
được tiến hành theo phương pháp in vitro của Tilley và Terry (1963).
Đánh giá: Phần trăm VCK được phân giải (AOAC, 2000),

Dịch vi khuẩn được kiểm tra mật số bằng phương pháp đếm sống
ở các thời điểm 12, 24, 48, 72, 96, 120, 144, 168, 192 giờ.
b. Khảo sát ảnh hƣởng của VKDC bò và dê trong điều kiện in vivo
Bò đực Lai Sind (4 con) khoảng 2,5 năm tuổi có trọng lượng ban
đầu trung bình t 150-170 kg và đã được mổ lỗ dò. Tổ hợp VKDC sử
dụng bao gồm VKDC bò (BM13, BM21 và BM49 = 1:1:1) và VKDC
dê (DD9) có mật số 107 CFU/mL và được phối trộn theo tỷ lệ 1:3.
Bò được tiêm ng a lở mồm long móng, được chia làm 2 nhóm.
nhóm 1:2 con bò cho ăn theo khẩu phần nhưng không bổ sung VKDC;
Nhóm 2:2 con bò cho ăn theo khẩu phần kết hợp bổ sung VKDC.
Thí nghiệm tiến hành tại trại nuôi bò của hộ ông Nguyễn Văn
Việt (Ấp Phú Long, Xã Phú Thành, H. Trà Ôn, T. Vĩnh Long) diễn ra
liên tục trong 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn khảo sát là 15 ngày. Chuồng
trại nuôi bò có diện tích dài x rộng = 4 x 3 (m2), chiều cao 3m, nền
bêtông, mái lá; bên cạnh có đường bêtông dài x rộng = 6 x 1 (m2) để
dẫn bò t trại đến chỗ để cân bò.
Khẩu phần thực liệu dùng cho mỗi con bò đã mổ lỗ dò bao gồm
cỏ lông tây, bã mía, bánh dầu bông vải và urea theo tỷ lệ 70% : 20% :
8,5% : 1,5%. Bò được cho uống và ăn tự do khẩu phần thực liệu (được
trộn đều) thí nghiệm vào lúc 8 giờ và 15 giờ mỗi ngày. Ngay sau cho ăn,
bổ sung dịch VKDC cho hai (02) bò thuộc nhóm 2 thông qua lỗ dò.
Thu mẫu thức ăn th a, phân loại và cân mỗi loại thức ăn th a vào
mỗi buổi sáng hôm sau lúc 8 giờ; Cân trong lượng bò; Thu mẫu phân
vào các ngày thứ 15, 30, 45, 60 (ngày kết thúc mỗi giai đoạn thí
nghiệm); Thu mẫu dịch dạ cỏ và bã thức ăn trong dạ cỏ của mỗi con bò
ở các mốc thời gian: 0 giờ, 2 giờ, 4 giờ và 6 giờ sau khi cho bò ăn của
các ngày thứ 15, 30, 45, 60.
Đánh giá: Lượng thực liệu ăn vào, pH, hàm lượng NH3 trong dịch
dạ cỏ, thành phần hóa học (VCK, cellulose, hemicellulose, lignin) của
thực liệu được tiêu hóa, kích thước thức ăn trong dạ cỏ, thành phần hóa

D3
NT2
+
+
D7
NT3
+
+
D9
NT4
+
+
D11
NT5
+
+
D16
NT6
+
+
H6
NT7
+
+
H13
NT8
+
+
CM4
NT9

Vi khuẩn
+
+
+

121oC
+

Nấm men
+
+
+

* DC: đối chứng; 121oC: khử trùng 121oC, 15 phút; -: không bổ sung; +: bổ sung.

Giai đoạn đường hóa và lên men ethanol được chuẩn bị tương tự
như tiểu mục 2.2.3.1.
Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ VCK (AOAC, 2001), CF bã mía được
phân giải (Weende, 1983), số mL khí CO2 sinh ra trong quá trình lên
men, hàm lượng ethanol (g/L) sinh ra (Lê Thanh Mai et al., 2007).
c) Ảnh hƣởng của nhiệt độ, pH và thời gian đến sự lên men ethanol

Mẫu: Nấm men D11 và VKDC (BM13, BM21 và BM49).
Bố trí thí nghiệm theo thể thức th a số 3 nhân tố, 3 mức độ và 3
lần lặp lại.
Điều kiện lên được bố trí theo thể thức th aa số 3 nhân tố nhiệt
độ (25, 30 và 35oC) pH (5,6 và 7), thời gian (5, 6 và 7 ngày).
Giai đoạn đường hóa được chuẩn bị tương tự như tiểu mục
2.2.3.1. Kết thúc giai đoạn này bình ủ được sử dụng trực tiếp để bổ sung
thêm nấm men D11 vào để tiến hành lên men. Giai đoạn lên men


Lignin
(%)
15,6 ± 1,51

Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn phân giải xơ bã mía mạnh
từ dịch dạ cỏ bò, trâu, cừu và dê
3.2.1. Vi khuẩn dạ cỏ bò
Kết quả đã có 62 dòng vi khuẩn được phân lập t dịch dạ cỏ bò
(VKDC bò).
Qua phân tích hoạt tính endoglucanase và exoglucanase của
VKDC bò (bảng 3.2) đã tuyển chọn được 4 dòng VKDC bò trong đó
BM13, BM21, BM97 có hoạt tính exoglucanase (Exgl) mạnh và BM49
có hoạt tính endoglucanase (Engl) mạnh.
Bảng 3.2. Hoạt tính endoglucanase và exoglucanase của VKDC bò
3.2.

Tên
mẫu

Số
mẫu

VKDC


62
21

VKDC có


23,7b

23bc

12

13

14

15
16,3ef

17,7e

11

10,3g

18e

Nghiệm thức
7 8 9 10

21d

6

17,7e


Ghi chú: VKDC: vi khuẩn dạ cỏ, ĐK: đường kính, DC: đối chứng, NT: nghiệm thức.
VKDC bò: 1: BM13, 2: BM21, 3: BM49, 4: BM97
NT1: 1, NT2: 2, NT3: 3, NT4: 4, NT5: 1+2, NT6: 1+3, NT7: 1+4, NT8: 2+3, NT9:
2+4, NT10: 3+4, NT11: 1+2 + 3, NT12: 1+2+4, NT13: 1+ 3+4, NT14: 2+3+4,
NT15: 1+2+3+4
CVVKDC bò = 6,41%

Bảng 3.3 cho thấy có thể có sự tương tác tích cực hoặc ức chế
giữa các dòng vi khuẩn với nhau trong đó nghiệm thức 11 (tổ hợp vi
khuẩn BM13, BM21 và BM49) phân giải bã mía và tạo đường kính
vòng halo lớn nhất là 29 mm. Điều này cho thấy 2 dòng vi khuẩn BM13
và BM21 (có hoạt tính exgl mạnh) phối hợp với BM49 (có hoạt tính
engl mạnh) đã hỗ trợ tích cực nhau trong quá trình phân giải bã mía.
Theo Wang and McAllister (2002), hoạt động kết hợp của engl và exgl
sẽ dẫn đến thay đổi đặc điểm bề mặt của phân tử cellulose t đó sẽ làm
cho tỷ lệ phân giải thay đổi nhanh chóng.
3.2.2. Vi khuẩn dạ cỏ trâu
Kết quả đã có 15 dòng vi khuẩn được phân lập t dịch dạ cỏ trâu
(VKDC trâu).
Qua phân tích hoạt tính endoglucanase và exoglucanase của
VKDC trâu, đã tuyển chọn được 4 dòng VKDC trâu trong đó TM11,
TM9 và TM17 có cả hai hệ enzim là Engl và Exgl mạnh và dòng TM27
có hoạt tính Engl mạnh.
Kết quả định danh 4 dòng VKDC trâu TM9, TM11, BM17 và
BM27, đã giải được trình tự của 3 dòng vi khuẩn TM11, TM17 và
TM27 và được so sánh với ngân hàng gen NCBI bước đầu cho thấy 3
dòng vi khuẩn này lần lượt tương đồng với Uncultured bacterium
nbw138b09c1, Bacterium C6129 và Uncultured bacterium aab40g11 ở
mức đồng hình là 88%, 94%, và 94%.


16,3ef

Nghiệm thức
7 8 9 10

de

6

18,7c

5

0h

4

12g

3

20bcd

2

0h

1


Tương tự như bố trí thí nghiệm phối hợp giữa 4 dòng VKDC bò,
đối với 4 dòng VKDC c u CD15, CD11, CD21, CD43 lần lượt được ký
hiệu 1, 2, 3 và 4 tổ hợp với nhau tương ứng 15 nghiệm thức. Kết quả
phân tích đã cho thấy tổ hợp hai dòng vi khuẩn CD11 và CD43 phân
giải bã mía mạnh nhất với đường kính vòng halo phân giải bã mía tạo ra
là 32 mm (CV=7,44%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các
nghiệm thức còn lại (bảng 3.5).

12


12

13

14

15,7ef

7,0i

15

10,7h

11

27,7b

6,0i


20,3c

0k

ĐK halo
(mm)

DC

14,0fg

Bảng 3.5. Tổ hợp VKDC c u phân giải bã mía

12

13

14

15

8,67k

5,33l

19,0cd

13,3



2

20,7bc

1

17,3de

DC

0

ĐK halo
(mm)

3.2.4. Vi khuẩn dạ cỏ dê
Kết quả đã có 19 dòng vi khuẩn được phân lập t dịch dạ cỏ dê
(VKDC dê).
Phân tích hoạt tính Engl và Exgl của VKDC dê đã tuyển chọn
được 4 dòng VKDC dê trong đó có 3 dòng vi khuẩn DD9, DD13, DD7
có hoạt tính Exgl mạnh và 1 dòng vi khuẩn DD5 có hoạt tính Engl
mạnh.
Dựa vào trình tự vùng 16S rDNA của 4 dòng vi khuẩn DD5,
DD7, DD9 và DD13 kết quả đã xác định được 3 trình tự của 3 dòng vi
khuẩn DD5, DD7, DD9 bằng cặp mồi 8F, 1492R (Turner et al., 1999)
và được so sánh với ngân hàng gen NCBI bước đầu cho thấy 3 dòng vi
khuẩn này lần lượt tương đồng với Escherichia coli RW-29, Bacterium
C3-3-1 và Bacillus subtilis RC24 ở mức đồng hình là 97%, 92% và
94%.


VI

BM13-A.xylosoxidans-BL6

V

CD11-3-Vi-Betaproteobacteria
A.insuavis-LMG26845
A.xylosoxidans-LMG1863
BM97-8S-Unculturedbacterium

IV

DD5-3S-E.coli-RW29
CD21-7S-Unculturedbacterium
TM11-9S-Unculturedbacterium-nbw138b09c1
TM17-6S-Bacterium-C6129
TM27-4S-Unculturedbacterium-aab40g11

I, II,
III

Ruminococcus-flavefaciens
Bacteroides-ruminicola
Fibrobacter-succinogenes

Hình 3.1. Phả hệ mô tả tương quan di truyền giữa các dòng vi khuẩn
* Chỉ số Boottrap ghi ở đầu nhánh; Thanh Scale: đơn vị đo khoảng cách di truyền.


12,27; 2,86; 0,68; 2,53% (P
d

e

e

e

f

7,00
2,20d
0,41c
1,67d
11,89bc
6,28b
5,24a
1,09b

5,49
2,18de
0,37d
1,66d
10,58d
5,27c
0,92c
0,84bc

5,47
2,18e

5,833
7,06
7,65
6,323
7,79
8,17a
Cellulose***
bc
d
bc
bc
ab
cd
9,3
7,70
8,76 d
9,25
9,49
7,88
10,81a
Hemicellulose***
b
e
f
a
cd
de
1,98
0,72
0,18

5,86cd
9,10bcd
1,18cd

19,49bc
5,63cd
8,79bcd
1,56bc

15


- DC -:20% DDC bò; DC+: 6% VKDC bò; NT1: 20% DDC bò +6% VKDC bò; NT2: 20% DDC bò
+3% VKDC bò + 3% TM9/ CD43/; NT3: 20% DDCB +3% VKDC bò + 3% TM11/ CD11/
DD9; NT4: 20% DDC bò +3% VKDC bò + 1,5% TM9/ CD43/ DD9 + 1,5% TM11/ CD11/
DD7; NT5: 20% DDCB +1,5% VKDC bò + 4,5% TM9/ CD43/ DD9; NT6: 20% DDCB
+1,5% VKDC bò + 4,5% TM11/ CD11/ DD7; NT7: 20% DDCB +1,5% VKDC bò + 2,25%
TM9/ CD43/ DD9 + 2,25% TM11/ CD11/ DD7.

- CV*VCK, cellulose, hemicellulose, lignin = 1,80; 6,93; 6,51 và 8,17%.
- CV**VCK, cellulose, hemicellulose, lignin = 3,91; 4,35; 9,32 và 4,66%.
- CV***VCK, cellulose, hemicellulose, lignin = 5,70; 8,28; 10,63 và 13,79%.
Tương tự, với sự phối hợp thêm VKDC c u với tỷ lệ 1,5% CD43
và 1,5% CD11 bên cạnh 20% DDC bò, 3% VKDC bò đã cho thấy sự
phân giải bã mía đạt hiệu quả cao với hàm lượng VCK, cellulose,
hemicellulose, lignin lần lượt 13,31; 7,08; 3,33 và 1,14%. Cũng như sự
phối hợp thêm 4,5% VKDC dê bên cạnh 20% DDCB, 1,5% VKDC bò
đã cho thấy sự phân giải bã mía đạt hiệu quả cao với hàm lượng VCK,
cellulose, hemicellulose, lignin lần lượt 21,27; 8,17; 10,81; 1,26%.
3.3.1.2. Ảnh hƣởng của tổ hợp VKDC bò, cừu và dê

exoglucanase; Đồng thời có khối lượng phân tử dao động trong khoảng
81,28 - 71,69 kDa.
3.3.2. Ảnh hƣởng của VKDC bò và dê lên các chỉ tiêu khảo sát trong
điều kiện in vivo
3.3.2.1. Sự phát triển của vi khuẩn dạ cỏ

Hình 3.3. Đường tăng trưởng của VKDC bò và dê
- VKDC: vi khuẩn dạ cỏ, VKDC bò: BM13, BM21, BM49; VKDC dê: DD9;

17


- CVBM13 = 4,25%; CVBM21 = 3,80%; CVBM49 = 3,93%; * CVDD9 = 3,09%.

Kết quả (hình 3.3) cho thấy mật mật số vi khuẩn tăng nhanh trong
3 ngày đầu và đạt cực đại ở ngày thứ 4; Sau đó vi khuẩn di vào pha chết
thể hiện ở mật số giản dần t ngày thứ 5. Điều này phù hợp với nghiên
cứu của Ray et al. (2007) thời gian tối ưu cho sự sản sinh enzyme
cellulase của 2 dòng vi khuẩn Bacillus subtilis CY5 và Bacillus circlans
TP3 đều ở 96 giờ ủ.
3.3.2.2 Ảnh hƣởng của VKDC bò và dê trong điều kiện in vivo
a. Thành phần hóa học thực liệu dùng để nuôi bò
Bảng 3.8. Thành phần hóa học thực liệu sử dụng nuôi bò
Thành phần
VCK (%)
Xơ thô (%)
Protein thô (%)
Cỏ Lông Tây
22,4±1,60
38,9±2,44

vào/ngày (kg)
0,348b ± 0,18
0,960a ± 0,35
50,32

Lượng bánh dầu bông vải
ăn vào/ngày (kg)
0,167b ± 0,02
0,348a ± 0,11
30,32

* TB: Trung bình; B: Bò không bổ sung vi khuẩn, BVK: Bò có bổ sung VKDC.
* CVcỏ lông tây = 3,1%, CVbã mía = 50,32%, CVbánh dầu bông vải = 30,29%.

c. pH và hàm lƣợng NH3 dịch dạ cỏ
Bảng 3.10. Giá trị pH dịch dạ cỏ bò ở các mốc thời gian sau cho ăn
Chỉ tiêu

Nhóm

0 giờ

2 giờ

4 giờ

6 giờ

B
6,58 a ± 0,19

để đảm bảo ổn định pH dịch dạ cỏ trong quá tiêu hóa thức ăn của bò
(Trần Thanh Ngân, 2012). Bên cạnh đó, VKDC đã hỗ trợ bò tăng khả
năng tiêu hóa chất xơ tạo ra nhiều NH3 sau 4 giờ cho ăn (0,22 g/L).
d. Hàm lƣợng VCK và xơ trong dạ cỏ
Kết quả (hình 3.4) cho thấy việc bổ sung VKDC đã góp phần làm
tăng khả năng phân giải VCK, cellulose, hemicellulose và lignin của
nhóm BVK sau 4 giờ lần lượt là 13,11%, 2,13%, 4,76% và 2,73%.

Hình 3.4. Hàm lượng VCK, cellulose, hemicellulose và lignin
- B: Bò không bổ sung dịch vi khuẩn; BVK: Bò được bổ sung dịch vi khuẩn vào dạ cỏ;
- Các giá trị có cùng ký tự của một chỉ tiêu khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%,
- CVVCK = 9,05%; CVcellulose = 10,83%; CVhemicellulose = 14,40%; CVlignin = 13,95%.

e. Kích thƣớc thức ăn trong dạ cỏ
Bảng 3.11. Kích thước thức ăn trong dạ cỏ bò (% VCK)
NT
B-0 giờ
B-2 giờ
B-4 giờ
B-6 giờ
BVK-0 giờ
BVK-2 giờ
BVK-4 giờ
BVK-6 giờ

Rây 1
62,51a
59,49 b
52,89 d
55,48 c

4,36 cd
2,74 e
5,62 ab
4,62 bcd

Rây 5
5,21 b
6,84 a
7,16 a
4,52 bc
3,96 c
5,25 b
7,01 a
4,38 c

Rây 6
3,69 d
3,20 d
5,59 b
4,85 c
1,97 e
4,57 c
7,58 a
8,17 a

Rây 7
1,53 e
2,66 d
3,12 d
4,73 b

Hình 3.5. Sự phân giải các dạng thức ăn
- B: Bò không bổ sung VKDC; BVK: Bò được bổ sung VKDC.
- Thức ăn dạng lớn: rây 1; Thức ăn dạng vừa: rây 2 – rây 7; Thức ăn dạng nhỏ: rây 8
- CVdạng lớn = 4,14%; CVdạng vừa = 3,33%; CVdạng nhỏ = 10,44%.

Kết quả (hình 3.5) cho thấy sau 0, 2, 4, 6 giờ cho ăn, VCK thức
ăn dạng lớn giảm dần trong khi đó thức ăn dạng v a và nhỏ tăng dần.
Đặc biệt, đối với nhóm bò được bổ sung VKDC thì thức ăn dạng nhỏ
tăng cao theo các mốc thời gian lần lượt là 4,28%, 10,10%, 15,64% và
20,59% còn đối với nhóm bò không được bổ sung vi khuẩn thì tỷ lệ thức
ăn dạng nhỏ tăng rất chậm lần lượt như sau: 4,04%, 7,92%, 9,85% và
10,90%.

20


f. Hàm lƣợngVCK và xơ trong phân

Hình 3.6. VCK, cellulose, hemicellulose và lignin được phân giải
- B: Bò không bổ sung dịch vi khuẩn, BVK: Bò được bổ sung VKDC.
- CVVCK = 9,34%; CVcellulose = 9,87%; CVhemicellulose = 10,12%; CVlignin = 9,43%.

Kết quả thí nghiệm (hình 3.6) cho thấy các thành phần hóa học
trong phân bò bao gồm VCK, cellulose, hemicellulose và lignin được
phân giải theo các mốc thời gian 0 giờ, 2 giờ, 4 giờ, 6 giờ của nhóm bò
có bổ sung vi khuẩn tốt hơn so với nhóm bò không có bổ sung vi khuẩn.
g. Tỷ lệ tiêu hóa protein thô
Bảng 3.12. Hàm lượng protein thô được tiêu hóa
Nhóm
B

h. Tăng trọng của bò
Kết quả tăng trọng của hai nhóm bò được bổ sung và không bổ
sung dịch vi khuẩn vào dạ cỏ được trình bày trong bảng 3.13.
21


Bảng 3.13. Trung bình tăng trọng của bò/ngày
Nhóm
Tăng trọng/ngày (kg)
B
0,202b
BVK
0,517a
* B: Bò không bổ sung dịch vi khuẩn, BVK: Bò được bổ sung dịch vi khuẩn; CV = 69,97%.

Kết quả này cho thấy nhóm bò được bổ sung vi khuẩn tăng trọng
nhanh hơn so với nhóm bò không được bổ sung vi khuẩn (0,517
kg/ngày so với 0,202 kg/ngày).
Tóm lại, với 6% dịch VKDC trong đó có sự kết hợp giữa 1,5%
dịch VKDC bò (BM13, BM21 và BM49) và 4,5% dịch VKDC dê
(DD9) được bổ sung đều đặn 3 ngày/lần vào buổi sáng trước khi cho bò
ăn trong suốt 4 giai đoạn (mỗi giai đoạn là 15 ngày) diễn ra thí nghiệm
đã góp phần hỗ trợ tích cực bò tăng khả năng phân giải xơ, tiêu hóa
protein và giúp bò tăng trọng nhanh.
4.7. Tuyển chọn nấm men và VKDC để lên men ehanol từ bã mía
Kết quả lên men ethanol có sự kết hợp các dòng nấm men với các
dòng VKDC được tuyển chọn ở bò (bảng 3.14)
Bảng 3.14. Kết hợp nấm men với VKDC bò để lên men ethanol
+VK+ST1


3,9
3,7
3,9
3,9
VCK được phân
3,0b 17,8a 17,6a
17,6a
17,6a 18,1a 17,8a
17,9a
17,2a
17,8a
giải (%)
CF được phân giải
6,6b 24,0a 23,7a
23,5a
23,8a 24,7a 23,8a
24,1a
23,5a
24,0a
(%)
Thể tích khí sinh ra
0g
0g
39,9c
29,9e 29,3ef 46,7a 36,9d
42,4b
40,3bc 35,2d
(mL)
Hàm lượng
0h


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status