THÀNH VIÊN : Nguyễn Trần Linh Phương
Nguyễn Thị Thanh Trà
Nguyễn Quang Tuấn
Nguyễn Nhi Phương
Trần Thảo Trân
Lê Hà Thư
ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM
Thể loại
1
• Văn xuôi tự sự
2
• Thơ lục bát
3
• Thơ song thất lục bát
4
• Thơ hát nói
5
Truyện ngắn: tự sự truyền kì phát triển
cùng với nghê thuật trữ tình. Một số tác phẩm
như là Thái Tông di thảo, Truyền Kì mạn lục ra
đời, thay đổi cảm hứng sáng tác
•
Kí: dùng để ghi chép về con người, sự việc,
… Một số tác phẩm ra đời như Công dư tiếp kí
(Vũ Phương Đề), Thượng Kinh kí sự (Lê Hữu
Trác), Bắc hành tùng kí ( Lê Quýnh), Vũ trung
tùy bút (Phạm Đình Hổ), Như Tây nhật kí
(Phạm Phú Thứ),..
•
Tiểu thuyết chương hồi: Nam Triều Công
nghiệp (Nguyễn Khoa Chiêm), Thiên Nam Liệt
Truyện, Hoàng Lê Nhất thống chí, Hoàng Việt
long hưng chí, Việt Lam tiểu sử,…
2
Nguyễn Trần Linh Phương
THƠ LỤC BÁT
THƠ LỤC BÁT
Khái quát chung :
• 928 câu lục bát
• Tố cáo tội ác “sát phu
hiếp phụ” của vua chúa
quan lại, đề cao phẩm
chất cao đẹp của người
phụ nữ
3
Trần Thảo Trân
Thơ Song thất lục bát
Thơ Song thất lục bát
4
Nguyễn Quang Tuấn
Thơ Hát Nói
THƠ HÁT NÓI
Sinh ra từ nhu cầu của
nghệ thuật ca trù
1
Khổ cuối ( khổ xếp ) 3 câu
Dôi khổ
Có 15, 19, 13, 27 câu , thường dôi ở khổ đầu và
giữa
Thiếu khổ
Thiếu khổ giữa, còn 7 câu
Hai câu đầu: gieo vần chân thanh trắc
Đổi nhau
luân phiên
Hai câu tiếp gieo vần chân thanh bằng
Câu cuối 6 tiếng mang nhiều dư âm
Hấp dẫn ở giọng điệu
Thích hợp bày tỏ tư tưởng tình cảm tự
do, thoát ra ngoài khuôn thể
=> Nhà thơ tài hoa, tài tử, xem trọng nhu cầu cá nhân tìm đến thể thơ này
5
Lê Hà Thư
THƠ ĐƯỜNG LUẬT
THƠ ĐƯỜNG LUẬT
• Nguồn gốc: nhà Đường, Trung Quốc
Kết.
Qua đèo ngang
NIÊM
Bà Huyện Thanh Quang
1. Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
2. Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
VẦN
ĐỀ
3. Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
ĐỐIđác bên sông, chợ mấy nhà.
4. Lác
THỰC
5. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
6. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
7. Dừng chân đứng lại trời non nước,
LUẬN
8. Một mảnh tình riêng ta với ta.
KẾT
8
Nguyễn Trần Linh Phương
Văn Tế
Văn Tế
• Văn tế có nghĩa chung là “bài văn đọc khi cúng tế”,
trong đó có văn tế thần thánh, năm, mùa màng,
người chết (vài trường hợp tế người sống), một số
bài văn tế có nội dung trào lộng, đả kích, châm biếm
• Văn tế trung đại Việt Nam ra đời, tồn tại, phát triển
từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Và những đóng
góp của văn tế trung đại trong văn học Việt Nam thật
sự là một đề tài lớn để chúng ta tìm hiểu và nghiên
cứu