ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
ĐINH THỊ NHUNG
VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
TRÊN BÁO IN HIỆN NAY
(Khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển,
Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
ĐINH THỊ NHUNG
VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
TRÊN BÁO IN HIỆN NAY
(Khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển,
Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 - 2015)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Quang
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2015
Ngƣời thực hiện luận văn
Đinh Thị Nhung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 2
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
......................................................................................................................... 12
1.1. Khái niệm về Dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc ................................. 12
1.2. Vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc . 18
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác tuyên truyền các vấn
đề về đại đoàn kết dân tộc. ........................................................................ 33
1.4. Đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng vùng đồng bào dân tộc
thiểu số miền núi ....................................................................................... 35
1.5. Công tác thông tin tuyên truyền về “Vấn đề Đại doàn kết dân tộc trên
báo in”. ..................................................................................................... 36
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 40
Chƣơng 2: TUYÊN TRUYỀN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
......................................................................................................................... 42
2.1. Sự hình thành và phát triển Báo Đại đoàn kết ................................... 42
2.2. Sự hình thành và phát triển Báo Dân tộc và Phát triển...................... 45
2.3. Sự hình thành và phát triển Tạp chí Dân tộc ..................................... 47
2.4. Kết quả khảo sát ................................................................................. 49
2.5. Nội dung tuyên truyền........................................................................ 52
2.5.1. Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số........ 52
2.5.2. Tuyên truyền chủ trƣơng, đƣờng lối chính sách pháp luật của Đảng,
Nhà nƣớc về công tác dân tộc ................................................................... 56
2.5.3. Phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc
3.3.8. Cần có chính sách hợp lý đối với phóng viên, biên tập viên ........ 102
3.4. Cần có giải pháp cụ thể với từng tờ báo in ...................................... 104
Tiểu kết chƣơng 3 ................................................................................... 106
KẾT LUẬN .................................................................................................. 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 111
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 116
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
DTTS : Dân tộc thiểu số
DT & MN : Dân tộc và Miền núi
DT & PT : Dân tộc và Phát triển
TTĐC: Truyền thông đại chúng
CNH : Công nghiệp hóa
HĐH : Hiện đại hóa
UBND : Ủy ban Nhân dân
UBDT : Uỷ ban Dân tộc
UBMT : Uỷ ban Mặt trận
UNESCO
: Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa liên hiệp
KT - XH
: Kinh tế xã hội
quốc
ĐĐK : Đại đoàn kết
các thế lực thù địch ở nƣớc ngoài lập ra nhằm mục đích bôi xấu lãnh tụ,
xuyên tạc chính sách, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc, kích động quần
chúng nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ly khai, chống lại Nhà
nƣớc. Điển hình là vụ xúi giục hình thành nhà nƣớc Đề Ga ở Tây Nguyên, sự
kiện Mƣờng Nhé - Điện Biên. Mặc dù các nhà chuyên môn đã thiết lập tƣờng
lửa để ngăn chặn, nhƣng chiến dịch “chuyển lửa về quê hương” với tần xuất
ngày càng dày khiến không ít thanh thiếu niên, ngƣời dân bị lung lạc mất
niềm tin vào chế độ. Do phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số học vấn thấp,
hiểu biết còn hạn hẹp nên họ đã trở thành đối tƣợng để các thế lực xúi giục,
kích động. Trƣớc tình hình phức tạp nhƣ vậy, vấn đề “Đại đoàn kết dân tộc
trên báo in hiện nay” rất đƣợc các cơ quan chủ quản chú trọng quan tâm. Báo
in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số với tƣ cách là một trong những cơ quan
báo chí chính thống, có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chủ trƣơng chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc cho đồng bào hiểu không tin theo kẻ xấu phá
hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, nâng cao nhận thức chính trị của biên
tập viên, phóng viên và sự cần thiết phải đổi mới, nâng cao chất lƣợng thông
3
tin là yêu cầu cấp bách đối với báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số
trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức rõ đƣợc tầm quan trọng của công tác dân tộc trong tình hình
mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa
IX nêu rõ:
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời
cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc
phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải
quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát
triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
đòi hỏi của nhiệm vụ.
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn có những khó khăn về
địa hình, về điều kiện kinh tế, về trình độ nhận thức… Các thế lực thù địch
luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn, hạn chế của đồng bào, những yếu
kém, sai sót của các cấp, các ngành trong nhận thức và tổ chức thực hiện công
tác dân tộc ở vùng dân tộc, miền núi để kích động chia rẽ, phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội… Vì vậy, cùng với
việc tuyên truyền đƣờng lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc đến
với đồng bào, tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo,
xây dựng đời sống mới, tăng cƣờng đại đoàn kết dân tộc… Báo in còn có
nhiệm vụ rất quan trọng, đó là giúp đồng bào nâng cao ý thức cảnh giác với
kẻ xấu, không làm theo những điều trái pháp luật.
Đổi mới thông tin nói chung và đổi mới, nâng cao chất lƣợng thông tin
phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện
nay đối với hệ thống Báo in. Trƣớc hết cần đánh giá đúng thực trạng, tìm ra
những ƣu điểm, nhƣợc điểm; đồng thời, đề ra những giải pháp khắc phục,
5
nâng cao hơn nữa chất lƣợng và hiệu quả của thông tin tuyên truyền phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc
trên báo in hiện nay” khảo sát trên (Báo Đại đoàn kết, Báo Dân tộc và Phát
triển, Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 - 2015) làm luận văn Thạc sĩ khoa học
báo chí.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những năm qua “Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc trên Báo in hiện
nay” đã được nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở
nhiều góc độ, cách tiếp cận vấn đề khác nhau.
chức hội thảo “Hiệu quả từ các ấn phẩm báo, tạp chí đối với đồng bào dân
tộc thiểu số” Tại Hội thảo, các đại biểu tham dự đã khẳng định ảnh hƣởng của
công tác tuyên truyền thông qua các ấn phẩm báo chí đã góp phần thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn; thực hiện các mô hình kinh
tế trang trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tăng năng suất và chất lƣợng, góp
phần nâng cao đời sống; giúp đồng bào học hỏi và áp dụng những tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất; góp phần thúc đẩy nhanh công tác xóa đói
giảm nghèo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nâng cao cảnh giác và
ngăn ngừa những luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc.
2.2. Các luận văn thạc sĩ
Năm 2005, Phạm Ngọc Bách đã hoàn thành luận văn thạc sĩ: “Chương
trình Dân tộc và Miền núi trên sóng VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam”. Tác
giả đã khảo sát các chƣơng trình dân tộc và miền núi từ tháng 1/2004 đến tháng
6/2005; đồng thời đƣa ra các giải pháp nâng cao chất lƣợng chƣơng trình. Năm
7
2010, Lữ Thị Ngọc có đề tài nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng báo in phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số” (khảo sát trƣờng hợp ngƣời Thái ở Tƣơng Dƣơng,
Nghệ An). Năm 2001, Nguyễn Xuân An Việt có đề tài nghiên cứu luận án
thạc sĩ: "Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1- Đài Truyền hình Việt
Nam". Luận văn đã khảo sát chƣơng trình về đề tài dân tộc miền núi của Đài
Truyền hình Việt Nam trong 3 năm 1999-2001. Ở công trình này, tác giả đƣa
ra các giải pháp cụ thể nâng cao chất lƣợng chƣơng trình, tăng cƣờng hiệu quả
thông tin về vấn đề dân tộc miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam.
Nội dung các luận văn cho thấy báo chí đã kịp thời tuyên truyền chủ
trƣơng đƣờng lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc đến với đồng
bào, những gƣơng ngƣời tốt, việc tốt, những mô hình sản xuất, kinh doanh
trong luận văn này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên báo in hiện nay có nhiều nội dung thông tin phong phú đề cập đễn
nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên vấn đề đại đoàn kết dân tộc tập trung chủ
yếu ở hệ thống báo in phục vụ đồng bào. Trong khuân khổ luận văn này,
chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát vấn đề: “Đại đoàn kết dân tộc trên
báo in hiện nay” (khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển,
Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 – 2015).
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc viết trên cơ sở quan điểm triết học Mác - Lênin, mà nền
tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phân
tích đánh giá trong đề tài đứng trên quan điểm báo chí vô sản, tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về đƣờng lối dân tộc; dựa vào đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách của
Đảng, Nhà nƣớc đối với vấn đề đại đoàn kết dân tộc; cũng nhƣ quan điểm của
9
Đảng Nhà nƣớc về vai trò của báo in trong đời sống văn hóa xã hội để làm
căn cứ trong quá trình nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp điều tra xã hội học, thực hiện đối với đồng bào dân tộc
thiểu số ở 4 tỉnh là: Yên Bái, Sơn La, Cần Thơ và Gia Lai.
Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích vấn đề một cách cụ thể, khách quan.
Qua đó, tìm ra những điểm nổi bật về nội dung, hình thức, thế mạnh của vấn
đề “Đại đoàn kết dân tộc trên báo in”.
Phƣơng pháp phỏng vấn sâu một số ngƣời am hiểu, quan tâm đến nội
dung vấn đề “Đại đoàn kết các dân tộc trên báo in”, cùng ý kiến của các
đồng nghiệp, của lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên Báo Đại đoàn kết,Tạp
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1.1. Khái niệm về Dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc
1.1.1. Dân tộc thiểu số
Dân tộc và dân tộc thiểu số là những khái niệm có mối liên kết mật
thiết với nhau, tuy thống nhất mà không đồng nhất. Ở chúng vẫn có những
điểm khác cần nhận rõ.
Từ điển Bách khoa Việt Nam đƣa ra định nghĩa nhƣ sau:
Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị- xã
hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban
đầu đƣợc hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau
này của nhiều cộng đồng mang tính ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời.
Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác
nhau… ( Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam)
Từ điển Tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc nhƣ sau:
1. Cộng đồng ngƣời hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các
quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trƣng văn hóa và tính
cách…
2. Tên gọi chung những cộng đồng ngƣời cùng chung một ngôn
ngữ,lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ
lạc…
3. Cộng đồng ngƣời ổn định làm thành nhân dân một nƣớc, có ý thức
vềsự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế,
truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung.Và định nghĩa dân tộc
thiểu số nhƣ sau: “Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất
trong một nƣớc có nhiều dân tộc”.
12
trong những năm trƣớc đây còn đƣợc gọi là “dân tộc ít người”. Mặc dù hiện
nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhƣng cách gọi “dân
tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung.
Rút ra định nghĩa về dân tộc và dân tộc thiểu số nhƣ sau:
Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để
chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của
một tộc người. Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu tố có chung
ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người. Xét
cho cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình độ phát
triển kinh tế. Bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào
phương thức sản xuất.
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số
dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong
một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa
biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi
khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia
này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. giới.
1.1.2. Khái niệm về Đại đoàn kết dân tộc
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học và Nhà xuất
bản Giáo dục phát hành năm 1994 và sau đó là các Từ điển khác đều đƣa ra
khái niệm đoàn kết nhƣ sau: “đoàn kết là kết thành một khối thống nhất, cùng
hoạt động vì một mục đích chung” và Đại đoàn kết là “đoàn kết rộng rãi”.
Rõ ràng, đây là một cắt nghĩa phổ thông về Hán Việt và mới chỉ đƣa ra cái vỏ
thông tin của khái niệm chứ chƣa có nội dung đầy đủ. Đó là trong lĩnh vực
nghiên cứu ngôn ngữ.
Khái niệm đại đoàn kết theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh:
14
Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức
mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm tƣơng
đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai
cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hƣớng tới tƣơng lai.
Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết
thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp
hài hòa các lợi ích cá nhân - tập thể - toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với
giữ gìn kỷ cƣơng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi
dƣỡng, nâng cao tinh thần yêu nƣớc, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ
quốc, tinh thần tự lực tự cƣờng xây dựng đất nƣớc; xem đó là những yếu tố
quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bốn là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính
trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng đƣợc thực hiện bằng nhiều biện
pháp, hình thức, trong đó các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nƣớc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Khơi dậy và phát huy tối đa nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, nâng cao ý chí tự lực tự cƣờng, giữ
vững bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Từ khi đất nƣớc thống
nhất, bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới, toàn
diện đất nƣớc, Đảng ta đã vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
dân tộc phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc chuyển
sức mạnh đoàn kết dân tộc trong thời kỳ giữ nƣớc sang thời kỳ dựng nƣớc
không phải là việc dễ dàng, lịch sử đang đòi hỏi những nỗ lực lớn của Đảng
và Nhà nƣớc ta trong lĩnh vực này. Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh trong xu
thế hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, một loạt vấn đề đặt ra mà chúng ta
phải chú ý:
16
củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng các nƣớc, đồng thời phải nắm
vững phƣơng châm ngoại giao mềm dẻo, có nguyên tắc nhằm thực hiện thắng
lợi chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nƣớc ta là: Việt Nam
muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nƣớc trong cộng đồng quốc tế, vì
hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong tình hình thế giới hiện nay, đòi hỏi
chúng ta phải có những chủ trƣơng đúng đắn, sáng tạo trong việc nắm bắt cơ
hội, vƣợt qua thử thách, đẩy lùi nguy cơ, để vừa nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, vừa giữ vững bản sắc dân tộc, giữ vững định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Phát huy bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa
yêu nƣớc với chủ nghĩa quốc tế, lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế theo tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, phải nhất quán coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận
không thể tách rời của cách mạng thế giới, tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các
phong trào cách mạng, các xu hƣớng và trào lƣu tiến bộ của thời đại vì các
mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Để nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới,
Đảng, Nhà nƣớc ta chủ trƣơng nêu cao nguyên tắc độc lập tự chủ, tự lực tự
cƣờng, chủ trƣơng phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc- sức mạnh của chủ
nghĩa yêu nƣớc, sức mạnh của ngƣời làm chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân, trên cơ sở sức mạnh bên trong mà tranh thủ và tận dụng sự đồng tình,
ủng hộ rộng rãi của lực lƣợng bên ngoài. (trích:[1] Hồ Chí Minh, Nxb CTQG,
HN 1995, tập 3, tr 217)
1.2. Vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước
1.2.1. Đặc điểm tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Cộng đồng văn hóa Việt Nam rất đa dạng, bao gồm 54 dân tộc và 7 hệ
ngôn ngữ chính tìm thấy từ Tây Á tới khu vực Thái Bình Dƣơng. Nhiều nhóm
dân tộc đã tồn tại rất lâu đời và thậm chí trƣớc cả khi ngƣời Việt tới định cƣ;
18