TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ
NHÂN SINH PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
GVHD
:TS. BÙI XUÂN THANH
HV THỰC HIỆN : PHẠM NGỌC DIỄM
1
1
1
1
TP.HCM, THÁNG 12/2015
I.
2
2
2
2
MỤC LỤC
Lời mở đầu
LỜI MỞ ĐẦU
Từ trước đến nay, vấn đề con người từ đâu sinh ra, khi chết đi con người sẽ
về đâu luôn là một trong số những câu hỏi lớn tốn không biết bao nhiêu giấy mực.
Vấn đề này không những được các nhà khoa học, nhà tư tưởng bàn luận, tranh cãi
mà còn được đề cập đến như một khía cạnh trong nội dung triết lý của các tôn giáo
từ phương Đông đến phương Tây.
Phật giáo cũng không ngoại lệ, với hệ thống giáo lý đồ sộ chứa đựng nhiều
tư tưởng triết lý sâu sắc, Phật giáo đã lý giải về con người, sự tồn tại của của con
người một cách thuyết phục và đầy tính nhân bản. Bên cạnh đó, những triết lý này
cũng giúp con người nhìn nhận được ưu, khuyết điểm của bản thân, từ đó hướng
cuộc sống của mỗi cá nhân đến chiều hướng tích cực hơn.
4
I.
Những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh Phật giáo nguyên thuỷ
Triết lý nhân sinh Phật giáo là triết lý về con người, những nỗi khổ trong
cuộc đời con người và giải thoát con người khỏi bể khổ. Học thuyết nhân sinh quan
của Phật giáo kế thừa những tư tưởng của Upanisát về nhân quả, nghiệp báo, số
kiếp luân hồi… Quá trình thác sinh luân hồi chịu chi phối bởi luật nhân duyên.
1. Thuyết Tứ diệu đế
Thông qua thuyết Tứ diệu đế, Phật giáo nêu ra bốn chân lý để giải thoát
chúng sinh khỏi kiếp khổ trầm luân.
1.1. Khổ đế
Khổ đế bàn về những nỗi khổ mà con người trải qua. Phật giáo cho rằng vạn
Tử khổ: Là nỗi khổ trong lúc chết. Phần lớn con người đều bị bệnh khổ hành hạ cho
đến lúc chết đi. Chính vì thân đau đớn, nên tâm mới không an. Tứ Đại sắp phân tán
rồi, muôn vàn sầu khổ lập tức ùa về. Chết – nỗi khổ đó thật khó diễn bày được.
5
Sinh, lão, bệnh, tử là bốn thứ khổ làm cho con người không tự tại, từ đó phát
-
sinh vô số nỗi buồn phiền.
Ái biệt ly khổ: Là nỗi khổ khi phải xa lìa người thân yêu. Người còn sống, nhưng
cách biệt nhau vạn dặm, yêu thương khó nói hết thành lời. Hay cảnh người sống, kẻ
chết, nỗi khổ này cũng không dễ dàng khống chế. Cảnh sinh ly tử biệt với người
-
mình yêu thương quả thật vô cùng đau khổ.
Sở cầu bất đắt khổ: Là nỗi khổ về mong muốn mà không được. Từ khi sinh ra, con
người đã có rất nhiều ước mong, khát vọng. Thuở nhỏ, mong mình có thật nhiều đồ
chơi, bánh kẹo. Lớn lên một chút, mong mình học giỏi, nổi bật. Lúc trưởng thành,
lại mong mình xinh đẹp, giàu có. Khi về già lại muốn mình trẻ lại, sống lâu. Muôn
ngàn ước muốn, nhưng có mấy ước muốn thành sự thật, cầu mong mà không được
-
toại ý thì khiến lòng cảm thấy trống trải, bức bách.
Oán tăng hội khổ: Là nỗi khổ khi ghét nhau mà phải sống cùng nhau. Bản thân con
người, khó tránh phải việc sống, làm việc chung với những kẻ đối nghịch, thù oán
hay buông lời gièm pha hay tìm cách mưu hại. Điều này làm cho con người cảm
-
nhân duyên thì con người sẽ thoát ra khỏi luân hồi, thoát ra khỏi bể khổ.
Vô minh: Vô minh là nguyên nhân thâu tóm tất cả, là do không nhận định được
chân lý của sự khổ, nguyên nhân của sự khổ và con đường diệt khổ. Do vô minh
nên không biết được sự sinh ra, tồn tại, mất đi của sự vật đều do nhân duyên mà
thành, từ đó dẫn đến nhầm lẫn cái thật có, thật mất làm tâm chuyển biến không
-
ngừng.
Hành: Là hành động, sinh ra tuỳ thuộc vào vô minh. Những hành động tốt, xấu đều
-
bắt nguồn từ vô minh, thông qua hành mà tạo nghiệp.
Thức: Phật giáo quan niệm rằng khi còn người mất đi, tâm thức của họ vẫn tồn tại
mang theo nghiệp báo của đời này mà tái sinh trong một cơ thể khác ở một kiếp
-
sống mới.
Danh – sắc: phát sinh cùng lúc với thức. Danh thuộc về tâm, thức thuộc về cơ thể
-
sống hữu hình.
Lục nhập: hình thành từ danh – sắc, là sự gặp gỡ giữa sáu căn và sáu trần làm thức
xuất hiện. Đức Phật dạy “Vì có mắt và sắc nên nhãn thức phát sanh, xúc là giao
điểm của ba yếu tố ấy. Vì có tai và âm thanh nên nhĩ thức phát sanh. Vì có mũi và
-
hoá lại trở nên có thật.
Sinh: là sự phát sinh một hiện tượng mới, một kiếp sống mới. Do không rõ đạo lý
-
duyên khởi nên nhầm lẫn sự vật thật sự sinh sống.
Lão – tử: là kết quả hiển nhiên của quá trình sinh ra, trưởng thành, già yếu, chết đi
của cuộc đời con người.
Vô minh thuộc về hoặc và hành thuộc về nghiệp. Đó là nhân quá khứ, từ đó
phát sinh năm quả khổ hiện tại: thức, danh – sắc, lục nhập, xúc và thụ. Từ quả khổ
mà tạo ra ái, thủ. Ái, thủ lại tạo nghiệp là hữu, tạo khổ cho đời sau là sinh và lão –
tử. Quá trình nhân quả lại diễn ra liên tục, không thể nhận ra điểm bắt đầu cũng như
điểm kết thúc, dòng sinh tử của con người từ đó bị vô minh che phủ. Phá vỡ được
vô minh được xem như phá vỡ nguồn gốc gây nên đau khổ.
1.3. Diệt đế
Diệt đế bàn về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ trong cuộc sống của con
người để đạt được niết bàn.
Phật giáo quan niệm con người tồn tại trên cuộc đời này với đầy rẫy
những đau khổ. Phật giáo còn xác nhận một điều, khi con người dập tắt được phiền
não sẽ chấm dứt được khổ đau, đồng nghĩa với việc đạt được hạnh phúc, cực lạc.
Muốn diệt được mọi nỗi khổ thì phải truy từ mười hai nhân duyên, bắt
đầu bằng diệt trừ vô minh. Muốn diệt trừ vô minh phải tu dưỡng thân tâm, nâng cao
trí tuệ. Theo Kinh Di giáo: “Có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự
dò xét, không để lỗi lầm có thể có được, như thế là trong chánh pháp của Như lai,
người ấy có khả năng thực hiện giải thoát… Trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc
nhất vượt biển sinh lão bệnh tử, là ngọn đèn sáng nhất đối với đối với hắc ám vô
minh, là thần dược cho mọi kẻ bệnh tật, là búa sắt chặt cây phiền não”.
hiểu biết chính mình, từ đó có có thể tịnh tâm, rời khỏi những dục vọng thấp hèn.
Chính tư duy: Là suy nghĩ theo lẽ phải, không suy nghĩ có lợi cho mình mà tìm trăm
mưu nghìn kế hại cho người. Suy nghĩ đến những đau khổ của bản thân, của con
người, nhận ra vô minh là nguồn gốc của tội lỗi, từ đó tu tâm tu thân để tìm giải
thoát cho mình, cho người.
Không suy nghĩ đến cách thức hại người, hơn người, dùng tà thuật, mưu mô
nhằm mê hoặc, dụ dỗ người khác. Đừng để những vấn đề bất thiện như tham lam,
tức tối, thù hận… chi phối tư duy, để đầu óc được minh mẫn mà nghĩ về việc
-
thương yêu, giúp đỡ con người, về việc nhẫn nhục, giải thoát.
Chính ngữ: Là lời nói đúng đắn, chân thật không giả dối. Không nói những lời đưa
đến đau khổ, chia rẽ, làm tổn hại đến đời sống cũng như danh dự người khác; đặt
biệt là lời nói xuyên tạc, nguyền rủa, mắng nhiếc và thô tục. Đưa ra những lời nói
sáng suốt, ngay thẳng, hợp lý, không thiên vị, hướng tới tuyên dương đạo lý làm
-
người, làm giác ngộ tự tâm trong mỗi con người.
Chính nghiệp: Là hành vi tạo ra trong đời sống phải đúng đắn, theo lẽ phải. Biết tôn
trọng quyền sống chung của mọi người, mọi loài. Hành động có lương tâm, đạo
đức, không tổn hại đến nghề nghiệp, tài sản, danh dự người khác. Không có hành vi
giết hại, trộm cướp, dâm tà.
9
-
Chính định ở đây là quan sát, xem xét các sự vật, hiện tượng trong cuộc
sống để loại trừ những điều không thanh tịnh, đoạn trừ tâm tư thù hận. Quan niệm
sự vật tồn tại trên đời đều do nhân duyên mà thành, từ đó từ bỏ tâm tư cố chấp. Tuy
vậy, không vì ham muốn nhanh chóng đi sâu vào cõi thiền mà luyện bùa chú, phép
lạ, cầu mong trường sinh bất tử.
Các chi phần trong Bát chính đạo có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác
động hỗ trợ nhau. Bát chính đạo được chia làm ba bước là Giới, Định và Tuệ. Trong
đó Giới là Chính ngữ, Chính nghiệp, chính mệnh; Định là Chính tinh tấn, Chính
niệm, Chính định và Tuệ là Chính kiến, Chính tư duy.
Như vậy, nếu con người diệt trừ được vô minh, đi theo Bát chính đạo sẽ đạt
đến sự giải thoát, cả về thân thể lẫn linh hồn, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi mà
nhập vào niết bàn.
2. Thuyết Nhân quả, Tái sinh – luân hồi
10
Phật giáo phủ nhận thuyết Định mệnh, nhưng lại chấp nhận thuyết Nhân
quả, nếu như thuyết Định mệnh cho rằng số kiếp con người là do trời định, không
thể thay đổi thì thuyết Nhân quả của Phật giáo quan niệm rằng số phận con người
do bản thân mình định lấy, có thể thay đổi được.
Nhân quả là gì? Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả, nguyên nhân thế
-
nào thì sẽ gây ra kết quả thế ấy.
Nhân quả thể hiện qua mười hai nhóm cơ bản:
Hiện báo là quả nhận được ngay trong kiếp này, có thể lập tức hay qua vài tháng,
-
-
lại lo nghĩ, buồn khổ.
Cận tử báo là quả báo lúc sắp chết. Con người khi già yếu sắp chết, nghiệp báo tích
tụ bấy lâu càng dễ dồn lại, dễ ảnh hưởng hơn lúc bình thường. Nếu trước đây làm
việc hiền thiện thì trước lúc chết tâm tư an nhàn, ra đi một cách thoải mái, nhẹ
nhàng. Ngược lại nếu việc ác chất chứa nhiều, trước lúc chết tâm trí lẫn cơ thể đều
cảm thấy mệt mỏi, ra đi khó khăn.
11
-
Thục vi thục báo là trạng thái của nghiệp báo lúc chưa thuần thục và đã thuần thục.
Đức Phật có dạy “Có người trọn đời làm lành mà khi chết bị đoạ vào ác đạo, bởi
nghiệp lành đời này chưa chín muồi, song nghiệp dữ kiếp trước đã đến lúc thuần
thục. Có kẻ trọn đời làm ác nhưng khi chết sanh lên thiên cung, bởi nghiệp ác đời
này chưa thuần thục mà nghiệp lành kiếp trước đã đến thời kỳ chín muồi. Việc nhân
-
quả rất phức tạp, tuỳ theo thế lực mạnh yếu mà đến trước hoặc sau”.
Chuyển báo là những biến chuyển khổ vui, phụ thuộc vào nghiệp thiện ác của bản
thân. Nói rõ ràng hơn, khi nghiệp ác ở kiếp này quá mạnh, nó sẽ đẩy toàn bộ phước
đức tích tụ được từ nhiều kiếp trước để hưởng ở kiếp này, sau đó kiếp sau sẽ phải
-
mang sẵn một cái nghiệp, tạo ra do những cái nhân sinh ra ở kiếp trước, trải qua
luân hồi, phải trả cái quả trong kiếp sống này.
Luân hồi, được hiểu nôm na như bánh xe xoay tròn trở lại chỗ cũ, là sự
chuyển hoá sự sống của đối tượng qua nhiều kiếp. Tất cả các sự vật, giống loài đều
tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt, khi nó chết đi, linh hồn sẽ chuyển từ thân xác
này sang một thân thể mới. Sự sống cái chết mãi tiếp nối không có điểm bắt đầu
cũng như điểm kết thúc, vô cùng vô tận.
Theo Phật giáo, nếu khi sống tạo nghiệp ác thì khi chết trải qua luân hồi
tái sinh, đầu thai vào thân phận chịu khổ cực, đau đớn để trả cho cái nghiệp đã gây
ở kiếp trước. Còn nếu khi sống tạo nghiệp lành, sau này sẽ đầu thai vào thân xác
mới có cuộc sống tốt lành, hạnh phúc.
Một số người quan niệm rằng, khi chết đi cả linh hồn và thể xác đều tiêu
biến, không có đời sau, thế nên ở kiếp này tha hồ làm điều ác, không hề nghĩ đến
việc tu thiện. Hay một số khác, mặc dù thừa nhận khi chết đi, chỉ có thể xác là tiêu
biến, linh hồn vẫn tồn tại, chỉ có điều làm người sẽ tiếp tục làm người, làm vật sẽ
tiếp tục làm vật. Họ lại tiếp tục suy nghĩ dù có làm đủ điều ác, kiếp sau vẫn được
làm người. Những tư tưởng này không chỉ sai lầm mà còn nguy hiểm. Bởi lẽ chúng
ta đều biết, trong cuộc đời không có sự vật nào vĩnh viễn đứng yên một chỗ huống
hồ chi là số kiếp con người, nếu cứ gây nghiệp ác thì không thể thoát khỏi số kiếp
luân hồi.
Theo Phật giáo, con người tuỳ nghiệp tạo ra trước đó mà luân hồi trong
-
sáu nẻo, tức lục đạo luân hồi, bao gồm:
Thiên: Là cảnh giới cao nhất, thân xác ở đó vi tế hơn con người, mức độ hạnh phúc
-
cũng như tuổi thọ đều cao hơn con người.
Nhân: Là cảnh giới của con người với đời sống khó khăn hơn, vui buồn lẫn lộn.
II. Ý nghĩa lịch sử của những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh Phật
giáo nguyên thuỷ
1. Nhận thức đúng đắn về quá trình phát triển con người
Có thể xem Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một trường phái triết
học mà ở đó quá trình phát triển tự nhiên của con người được nhấn mạnh. Sinh, lão,
bệnh, tử là từng chặng tất yếu của cuộc đời mà ai cũng phải trải qua. Không ai là trẻ
mãi không già, cũng không ai trường sinh bất tử, thế nên con người cũng đừng tìm
tiên đơn diệu thảo hay thần chú, bùa ngãi để đáp lại mong muốn trường thọ của bản
thân. Thay vào đó hãy tu tập bản thân, để sống tốt, sống khoẻ, không sợ hãi trước
những biến chuyển của cuộc đời cũng như bình thản, lạc quan khi tuổi già.
2. Hình thành, hoàn thiện đạo đức con người
Với thuyết Nhân quả, tái sinh – luân hồi, Phật giáo quan niệm rằng sự
vật tồn tại hay mất đi đều do luật nhân quả chi phối. Con người khi sinh ra đều
mang phần nghiệp của kiếp trước, nghiệp ở quá khứ tạo điều kiện cho kiếp sống ở
tương lai. Như vậy, nếu suy nghĩ đúng đắn, nói lời chân chính, hành động theo lẽ
phải sẽ tạo nghiệp tốt cho đời sau. Tin vào điều này con người sẽ không còn nghĩ
ác, không còn hành vi bất thiện bởi chính tư tưởng, hành động của con người sẽ
quyết định hết thảy.
Con người tốt hay xấu, giàu hay nghèo nguyên nhân vẫn chính do bản
thân. Đức hạnh bên trong tạo nên con người, nghiệp ác bên trong lại huỷ diệt con
14
người. Những điều tốt đẹp nhất cũng như xấu xa nhất tồn tại ẩn dật bên trong con
người, nếu biết điều khiển cuộc sống của chính mình, hướng nó theo chiều hướng
tích cực thì mọi việc sẽ tốt đẹp. Ngược lại, sẽ bị mắc trong chính cái bẫy mà mình
giăng ra.
Con người tham muốn những giá trị vật chất như nhà cửa, của cải, tiền
bạc… và còn tham muốn được thoả mãn những giá trị tinh thần như công danh,
Triết lý nhân sinh Phật giáo nguyên thuỷ đã làm rõ nguyên nhân của những
khổ đau cũng như cách thức làm tiêu biến những nỗi khổ này. Đồng thời, Phật giáo
cũng khẳng định vai trò, sức mạnh của con người trong việc làm chủ vận mệnh của
bản thân. Từ đó, khuyến khích con người tu tập, vun đúc những đức tính cao đẹp,
làm cho cuộc sống cũng như mối quan hệ giữa con người với con người trở nên tốt
đẹp hơn.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Minh
Đức
Triều
Tâm
Ảnh,
2014.
Bát
http://thuvienhoasen.org/p22a20703/bat-chanh-dao>
30/12/2015]
2. Minh
Đức
truy
cập:
17/11/2015]
4. Thị Hoa, 2009. Vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật giáo,
[Ngày truy cập: 05/01/2016]
17