Quản lý thuế nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh lạng sơn - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

ĐOÀN THANH BÌNH

QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI
CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

ĐOÀN THANH BÌNH

QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI
CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS LÊ DANH TỐN


quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc nhất tới thày giáo PGS. TS Lê Danh Tốn đã nhiệt tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“Quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn”.
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng
nghiệp tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã quan tâm tạo điều kiện, nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Đoàn Thanh Bình

2


MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC

1

DANH MỤC BẢNG BIỂU

6

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

12

1.1.1. Các công trình nghiên cứu

12

1.1.2. Kinh nghiệm quản lý thuế nhập khẩu tại một số Cục Hải
quan địa phương

14

1.1.3. Kết quả và khoảng trống nghiên cứu

18

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhập khẩu

18

1.2.1. Thuế nhập khẩu

18

1.2.2. Khái niệm và nội dung quản lý thuế nhập khẩu

25

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thuế nhập khẩu 34

43

2.2.4. Phương pháp so sánh

44

CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ
NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN

46

3.1. Tổng quan về đặc điểm địa lý tỉnh Lạng Sơn và về
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

46

3.1.1. Đặc điểm địa lý tỉnh Lạng Sơn

46

3.1.2. Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

47

3.2. Tình hình quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh
Lạng Sơn

51

3.2.1. Xây dựng kế hoạch và văn bản quản lý thuế

75

3.3.1. Những kết quả chủ yếu

75

3.3.2. Những hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của hạn chế

80

CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH
LẠNG SƠN

89

4.1. Bối cảnh mới và ảnh hưởng của nó đối với hoạt động
quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn
4

89


4.2. Định hướng hoàn thiện hoạt động quản lý thuế nhập khẩu
tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

91

4.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động quản
lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn


4.3.7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ

103

4.4. Một số kiến nghị

103

4.4.1. Đối với Chính phủ

103

4.4.2. Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan

104

4.4.3. Đối với UBND tỉnh Lạng Sơn

105

KẾT LUẬN

106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

107

5


Bảng 3.3

Số thu thuế nhập khẩu năm 2010 - 2014

66

4

Bảng 3.4

Số nợ đọng thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan

70

tỉnh Lạng Sơn năm 2014
5

Bảng 3.5

Kết quả kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan

73

tỉnh Lạng Sơn
6

Bảng 3.6

Số liệu vi phạm về nhập khẩu được phát hiện


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, nguồn thu thuế từ hoạt động xuất
nhập khẩu nói chung, từ hoạt động nhập khẩu nói riêng luôn chiếm vai trò
quan trọng nhằm duy trì sự cân đối ngân sách, đảm bảo đáp ứng tốt các nhu
cầu hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong những năm vừa qua, chính sách
và cơ chế quản lý thuế nhập khẩu đã có những thay đổi lớn và đạt được những
kết quả quan trọng cả về thu ngân sách và quản lý điều tiết vĩ mô quan hệ
kinh tế đối ngoại, góp phần ổn định kinh tế - xã hội.
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn là cơ quan trực thuộc Tổng cục Hải quan,
có chức năng tổ chức thực thi pháp luật về Hải quan và các quy định khác của
pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan theo quy định
của pháp luật; Trong đó nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức thực hiện pháp luật về
thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Lạng Sơn
là một tỉnh miền núi phía Bắc, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.
Với lợi thế lớn nhất là có 253km đường biên giới, 2 cửa khẩu Quốc tế, 1 cửa
khẩu Quốc gia và 9 cửa khẩu phụ đã thông thương với Trung Quốc. Trong
những năm qua, hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói
chung, hoạt động nhập khẩu nói riêng đã thu được những kết quả khả quan
hơn so với thời điểm trước năm 2010. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt
động nhập khẩu tăng hơn 4%, kim ngạch và số thuế nộp ngân sách năm sau
đều tăng so với cùng năm trước
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cơ chế chính sách quản lý thuế
nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn còn những tồn tại như: hệ thống
thuế vẫn còn bộc lộ hạn chế, tính thực thi chưa cao; chính sách thuế còn có
những điểm quy định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi
8



cứu: Những giải pháp nào cần được thực hiện để hoàn thiện hoạt động quản
lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thuế nhập
khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế nhập khẩu.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải
quan tỉnh Lạng Sơn. Chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
- Đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý
thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý thuế nhập khẩu tại Cục
Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: luận văn nghiên cứu vấn đề quản lý thuế nhập khẩu
tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý thuế nhập khẩu
tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2010 đến năm 2014, các giải pháp
được đề xuất đến năm 2020.
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 4 chương:

10


Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý

đốc, thu nợ, cưỡng chế nợ thuế; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Trên
cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, luận án đã đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế đến năm 2010. Đó là các giải pháp: 1) Đẩy
mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực Hải quan, mà trọng tâm là cải cách
thủ tục Hải quan; 2) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Hải quan; 3) Hoàn
12


thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu; 4) Tăng cường sức mạnh, đổi mới đấu
tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại; 5) Xây dựng mô hình quản lý
Hải quan hiện đại, tập trung thống nhất dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ
thông tin; 6) Hoàn thiện tổ chức bộ máy, xây dựng lực lượng Hải quan chính
quy, hiện đại, trong sạch và vững mạnh.
- Trần Thành Tô, 2006. Đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu của ngành Hải quan hiện nay. Luận văn Thạc sĩ của Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã hệ thống hóa có bổ sung những vấn đề lý
luận cơ bản về quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong ngành Hải
quan; tìm hiểu kinh nghiệm một số nước phát triển và rút ra bài học có thể
tham khảo cho ngành Hải quan nước ta. Đánh giá đúng thực trạng quản lý thu
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các dạng gian lận thương mại và đề xuất các
giải pháp có tính khả thi nhằm tiếp tục đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu ngành Hải quan trong thời gian tới.
- Nguyễn Ngọc Túc, 2007. Tiếp tục cải cách, hiện đại hóa Hải quan
Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ của
Trường Đại học Ngoại thương. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra các
định hướng, giải pháp thực hiện công tác cải cách, hiện đại hóa ngành Hải
quan trong tình hình mới.
- Dương Phú Đông, 2008. Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng
hóa xuất nhập khẩu ngành Hải quan, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Đại

* Cục Hải quan thành phố Hải Phòng
Hải quan Hải Phòng là một Cục Hải quan lớn của Việt Nam, với địa
bàn hoạt động rộng, làm thủ tục cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Hải Phòng và các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình với lượng hàng hóa
có giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, số thu thuế xuất nhập khẩu luôn hoàn
thành chỉ tiêu kế hoạch được giao. Trong thời gian qua, dù gặp phải không ít
14


khó khăn nhưng tập thể cán bộ công chức Cục Hải quan thành phố Hải Phòng
đã nỗ lực đoàn kết, phát huy sức mạnh, trí tuệ tập thể để vững bước đi lên.
Với quyết tâm không ngừng đổi mới để phát triển, từ một đơn vị mới thành
lập của ngành Hải quan, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã từng bước
khẳng định mình và đã ghi được những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát
triển, được xem là một trong các đơn vị tiên phong của ngành Hải quan trong
ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho
hoạt động xuất nhập khẩu.
Để hoàn thành công tác thu thuế nhập khẩu của mình, Cục Hải quan
thành phố Hải Phòng đã chủ động, sáng tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn. Trong thời gian qua, Cục Hải quan
thành phố Hải Phòng đã xây dựng thành công trang Website phục vụ cộng
đồng doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ công chức của Cục có
nguồn tra cứu văn bản, biểu thuế ... phục vụ công tác nghiệp vụ. Trang Web
này luôn được cập nhật văn bản và có hệ thống, các văn bản được lưu trữ một
cách khoa học, logic, dễ tra cứu. Trên trang Web còn có diễn đàn trao đổi
vướng mắc khi thực hiện thủ tục hải quan giữa doanh nghiệp và Cục Hải quan
thành phố Hải Phòng. Nhờ đó mà Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã nắm
bắt được tâm tư nguyện vọng của các doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ những
vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp để quản lý tốt hơn, được cộng đồng
doanh nghiệp ca ngợi là điểm sáng trong cải các thủ tục hành chính. Cũng qua

niềm tin cho cán bộ công chức trong toàn Cục. Đoàn viên thanh niên của Cục
ngoài việc tạo thuận lợi đối với các doanh nghiệp đang làm thủ tục tại Cục,
còn được giao nhiệm vụ khảo sát các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập
khẩu trên địa bàn đang làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu, các tỉnh khác ...
để động viên về làm thủ tục tại Cục nhằm làm tăng nguồn thu nộp ngân sách
trên địa bàn quản lý. Đồng thời đoàn viên thanh niên của Cục còn được giao
16


nhiệm vụ tìm kiếm giá các mặt hàng mới trên Internet để quy đổi ra giá CIF
Việt Nam nhằm bổ sung vào danh mục hàng nhập khẩu trọng điểm cấp Cục.
Ngoài ra trong các năm qua, Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa luôn có số thuế
truy thu qua tham vấn giá là rất lớn. Bằng cách này Cục Hải quan tỉnh Thanh
Hóa đã chủ động được nguồn thu thuế và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu
thuế của mình.
* Cục Hải quan tỉnh Bắc Ninh
Cục Hải quan tỉnh Bắc Ninh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
hải quan trên địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Thái Nguyên. Mặc dù
mới được thành lập từ năm 2012 đến nay, nhưng Cục đã được cộng đồng
doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đồng tình ủng hộ nhất
là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, ngay từ đầu năm Cục đã đề ra
các biện pháp như: Công khai, minh bạch các chế độ chính sách về quy trình
thủ tục hải quan, về thuế nhập khẩu, các chính sách khác có liên quan đến
hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng,
cũng như niêm yết tại trụ sở Cục. Để các doanh nghiệp nắm được chế độ
chính sách về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc khai báo được kịp thời và chính xác, cũng như tránh được những vướng
mắc có thể xảy ra trong quá trình khai báo làm thủ tục hải quan và nộp thuế
của mình. Đồng thời, Cục thường xuyên tăng cường công tác cải cách thủ tục

có công trình nào nghiên cứu đề tài quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan
tỉnh Lạng Sơn. Các công trình nghiên cứu nói trên là tài liệu tham khảo quý
giá để tác giả tham khảo và kế thừa trong thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ
của mình.
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhập khẩu
1.2.1. Thuế nhập khẩu
18


1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế nhập khẩu
a. Khái niệm về thuế và thuế nhập khẩu
Sự ra đời của thuế là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Nhà nước. Nhà nước xuất hiện đòi hỏi phải có cơ sở vật chất
nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình. Do đó Nhà nước
phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong
xã hội vào tay Nhà nước. Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó có thể
được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt
buộc được gọi là thuế. Thuế có thể thu bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng
ngày công lao động. Với sự mở rộng không ngừng chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, hệ
thống thuế của các quốc gia đã không ngừng phát triển và thuế thu bằng tiền
đã trở thành hình thức thu phổ biến.
Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự
thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Theo các nhà kinh điển thì thuế được
quan niệm rất đơn giản. C.Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó,
cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó
là thuế má...”. Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn
thiện hơn. Trong cuốn Từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Christopher
Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh
trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp

Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như
sau: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân
cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử
dụng cho mục đích công cộng” . [1]
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thường có tên gọi chung là thuế quan.
Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại
20


cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất
và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng
hóa giữa các quốc gia.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam Tập 4, Nhà xuất bản Từ điển Bách
khoa Hà Nội (2005) thì: “Thuế nhập khẩu thu vào hàng đem từ nước ngoài
vào trong nước để tiêu dùng. Khi cần bảo hộ sản xuất và tiêu dùng hàng nộ
địa, người ta đánh thuế vào những hàng nhập thật cao nhằm ngăn chặn
hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào. Ngược lại, muốn khuyến khích
đưa hàng hóa từ nước ngoài vào thị trường trong nước, người ta không thu
hoặc thu rất ít.” (Trang 286) [36].
Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa
Hà Nội (2001) thì: “Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa tại biên
giới khi hàng nhập qua lãnh thổ hải quan (thông thường là một nước).”
(Trang 443) [37].
Theo Nguyễn Thị Bất trong cuốn Quản lý thuế (2012): “Thuế nhập
khẩu là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế
nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các
ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài”. [1]
Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế nhập khẩu cùng như các quan
niệm về thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát
thành khái niệm chung về thuế nhập khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là một

Hai là, Thuế nhập khẩu gắn với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ. Bởi lẽ, ngoại thương là một trong những hình
thức hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại mà thuế nhập khẩu là công cụ
góp phần thực hiện vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương của nhà
nước. Sự xuất hiện của thuế nhập khẩu bắt nguồn từ yêu cầu điều chỉnh sự
vận động của hàng hóa giữa các quốc gia có chủ quyền. Hoạt động kinh tế đối
22


ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ không cố định mà luôn vận động
và phát triển theo sự phát triển chung của nhân loại. Vì vậy, có thể nói rằng
thuế nhập khẩu gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại và luôn vận động,
phát triển theo sự phát triển của quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia.
Ba là, Thuế nhập khẩu chỉ do cơ quan Hải quan quản lý thu, cơ quan
Thuế các cấp không thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt vừa do cơ
quan Hải quan thu vừa do cơ quan Thuế thu. Thuế thu nhập doanh nghiệp, thu
nhập cá nhân, môn bài... chỉ do cơ quan Thuế các cấp thu), nhằm gắn công tác
quản lý thu thuế nhập khẩu với công tác quản lý nhà nước về Hải quan đối với
các hoạt động nhập khẩu.
1.2.1.2. Vai trò của thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu nằm trong hệ thống thuế quốc gia cho nên cũng có
vai trò của thuế nói chung đó là tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dưới góc độ một sắc thuế cụ thể, vai trò của
thuế nhập khẩu được thể hiện khác nhau tùy theo thực trạng phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, cụ thể như sau:
Một là, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu ngân sách Nhà nước. Thuế nhập
khẩu là một nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Thông qua nhập
khẩu Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động nhập
khẩu hàng hóa để tập trung vào ngân sách. Tùy thuộc vào thời kỳ, giai đoạn
lịch sử khác nhau, sự phát triển kinh tế đối ngoại và quan điểm sử dụng mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status