BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán
về ít hơn lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai đủ năng lực và phẩm chất
để phục vụ cho đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập là một việc làm rất
quan trọng và cần thiết. Vì thế, việc hình thành nhân cách và phát triển tư duy,
kĩ năng, năng lực... của trẻ là việc làm thường xuyên mà Đảng và Nhà nước giao
cho Ngành Giáo dục. Trong đó bậc Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, bậc học
hình thành cho trẻ kĩ năng tư duy, tính toán, nhạy bén, hình thành nhân cách...
Chính vì lẽ đó, đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp
và có sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chung
cũng như môn Toán nói riêng. Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lời
văn ở lớp 2. Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứa
trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán. Do vậy tôi
xác định việc dạy “Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quan trọng
và cần thiết. Nên tôi chọn đề tài : “Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có
văn dạng Bài toán về ít hơn lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2D
trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.
Phương pháp đọc tài liệu, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp
điều tra, phương pháp đối chiếu.
3. Các giải pháp:
Đọc kĩ đề và hiểu đề, phân tích và tóm tắt đề toán, hướng dẫn học sinh đặt
câu lời giải và xác định đơn vị, hướng dẫn cách làm bài và trình bày bài giải, rèn
kĩ năng giải toán, ôn luyện kĩ năng, kĩ xảo làm bài tập.
1
bài toán có lời văn thường là một tình huống có vấn đề cần giải quyết.
Chính vì lẽ đó, đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp
và có sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chung
cũng như môn Toán nói riêng. Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lời
văn ở lớp 2. Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứa
trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán. Do vậy,
tôi xác định việc dạy “Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quan
trọng và cần thiết. Nên tôi chọn đề tài :
“Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán về ít hơn,
lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra cơ sở lí luận định hướng và đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải toán có lời văn về dạng bài toán “Ít
hơn” lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2D
trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi lớp 2D trường Tiểu học Lộc
Ninh, huyện Dương Minh Châu.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Phương pháp này giúp chúng tôi tìm được cơ sở lí luận có liên quan
đến đề tài qua các tài liệu:
- Giáo trình phương pháp dạy học môn toán lớp 2.
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu
học.
- Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học ở lớp 2 - tập 1.
3
chóng chán. Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học
sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu
kiến thức. Trí nhớ trực quan hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ, khái
quát, lôgic. Các em nhớ và khắc sâu chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể
nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng. Học sinh
lớp 2 (ở đầu năm học) có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp
lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ ý nghĩa của tài liệu học tập đó
mà vẫn có thể học thuộc. Cho nên, cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòng
tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ và không sắp xếp lại, không diễn
đạt bằng lời lẽ của mình.
5
Vì thế, việc truyền thụ kiến thức của giáo viên đến đối tượng học sinh giúp
học sinh lĩnh hội và khắc sâu kiến thức là một việc làm quan trọng và không dễ
thực hiện. Giáo viên phải tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp tìm ra
những phương pháp phù hợp với từng đối tượng, phải thật sự gần gũi, động
viên, giúp đỡ, tin tưởng vào các em, không buông trôi, thả lỏng hay để các em tự
mài mò… Có như thế thì các em mới lĩnh hội và khắc sâu các kiến thức đã được
học.
Bên cạnh đó, nhằm quán triệt các Chỉ thị và Nghị quyết của Đại hội Đảng
cộng sản Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
trong tình hình mới. Đảm bảo tốt cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong
thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; Nói không với vi phạm đạo đức nhà
giáo và tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp”; thực hiện xây dựng phong trào
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Vì thế, Bộ Giáo dục Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cho các trường tiểu
học thực hiện, gồm các văn bản sau:
Công văn 896/BGD&ĐT – GDTH ngày 13 tháng 02 năm 2006 của Bộ
Do giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc nghiên cứu nội dung bài và
phương pháp giảng dạy một cách chu đáo, nhiệt tình và sáng tạo.
Giáo viên chưa khuyến khích và giúp đỡ một cách hợp lý và kịp thời các
nhóm, các đối tượng học sinh trong quá trình học.
Giáo viên ít quan tâm đến học sinh, chưa phân chia đối tượng học sinh,
chưa thường xuyên liên lạc với phụ huynh.
2.1.2. Về phía học sinh :
Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều.
Học sinh đọc đề chưa trôi chảy, chưa hiểu đề toán.
Học sinh không biết tóm tắt, không biết phân tích đề, không biết yêu
cầu của đề là gì.
Một số học sinh chưa hiểu được cách ghi lời giải, ghi chưa đúng đơn
vị.
Một số học sinh khi nói đến giải toán còn lo sợ, không tự tin khi làm
bài hoặc một số em làm được phép tính nhưng đặt lời giải chưa chính xác.
7
Thường học sinh giải đề toán theo kiểu học thuộc lòng, máy móc, rập
khuôn, chưa khoa học.
2.1.3. Về phía phụ huynh học sinh:
Phần lớn học sinh lớp 2D là con gia đình nông dân, phụ huynh rất bận
rộn công việc nên chưa quan tâm đến việc học của con em mình, các em chủ yếu
chỉ được học ở trường, chưa có ý thức tự học ở nhà dẫn đến việc học của các em
còn chậm.
Một số gia đình còn khoán trắng việc dạy học con mình cho nhà
trường và giáo viên chủ nhiệm. Không bao giờ kiểm tra việc học của con ở
trường.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
lớp học nhẹ nhàng,.
3.2. Giải pháp:
Để nâng cao hiệu quả của việc giải toán có lời văn, bản thân tôi đã thực
hiện những giải pháp sau:
3.2.1. Đọc kĩ đề và hiểu đề:
Rèn cho học sinh có thói quen đọc kĩ đề là việc làm rất quan trọng, từ
đó học sinh mới nắm được nội dung bài toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng:
nhiều hơn, ít hơn.. và xác định được đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm. Từ đó
các em biết bài toán đó thuộc dạng toán nào hay bài toán đó tương tự bài toán
nào đã giải rồi. Để hiểu được nội dung bài toán, yêu cầu học sinh tự đọc, tri giác
nhận biết đề toán.
Để tập cho các em có thói quen đọc kĩ đề và hiểu đề, trước khi giải toán tôi
thường gọi 2, 3 học sinh đọc to đề cho cả lớp cùng nghe. Hoặc cho cả lớp đọc
thầm rồi tôi hỏi lại các dữ kiện của đề toán để kiểm tra xem các em có đọc kĩ đề
không và hiểu được đề chưa. Muốn giải được bài toán học sinh nào cũng phải
xác định được hai bộ phận đó và mối quan hệ giữa chúng, cho nên giáo viên cần
phải hướng dẫn, gợi ý để học sinh chú ý vào các từ, cụm từ quan trọng của đề
toán.
Ví dụ:
Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn số học sinh gái 3 bạn.
Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai? Bài toán yêu cầu tìm số học sinh trai,
9
ta biết số học sinh trai ít hơn số học sinh gái là 3 bạn, mà số học sinh gái lớp 2A
là 15, vậy để tìm số học sinh trai ta lấy: 15 - 3 = 12 (bạn trai)
Sau khi học sinh đọc đề, phân tích bài toán và xác định đây là dạng toán ít
hơn. Học sinh tiến hành giải bài toán.
Bên cạnh đó, giáo viên còn chú tâm giúp đỡ các em hạn chế kĩ năng đọc
Ví dụ:
Hàng trên có 7 quả cam. Hàng dưới có ít hơn hàng trên 2 quả. Hỏi hàng
dưới có mấy quả cam ?
* Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
7 quả
Hàng trên:
2 quả
Hàng dưới:
? quả
Qua tóm tắt học sinh sẽ nhận thấy được 2 quả là số quả hàng trên nhiều
hơn số quả hàng dưới. Các em sẽ xác định được dạng toán gì? Sau đó các em
tiến hành giải.
Ngoài ra, ta có thể hướng dẫn học sinh dùng ngôn ngữ ngắn gọn để tóm
tắt. Khi tóm tắt cần phải ngắn gọn, dễ hiểu.
* Tóm tắt bằng lời văn:
Hàng trên có: 7 quả cam
Hàng dưới có ít hơn hàng trên: 2 quả
Hàng dưới có : …quả ?
Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề. Chỉ định một em học sinh đặt câu hỏi:
“Bài toán cho biết gì?” gọi bạn trả lời (Bài toán cho biết: Hàng trên có 7 quả
cam, hàng dưới có ít hơn hang trên 2 quả). Bạn trả lời đúng được quyền đặt câu
hỏi tiếp “Bài toán hỏi gì?” gọi bạn trả lời (Bài toán hỏi hàng dưới có bao nhiêu
quả cam) giáo viên nhận xét bổ sung. Học sinh xác định đây là dạng toán ít hơn.
11
Như vậy các em có thể tóm tắt bài toán bằng nhiều cách, bằng lời hay sơ
đồ đoạn thẳng để dễ dàng làm toán và giải toán đúng.
Đọc đề phân tích đề là một khâu rất quan trọng của bài toán có lời văn.
Cách 3: Cũng như trên dựa vào các câu hỏi của bài toán đưa từ "Học sinh
trai" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và thêm từ "Số" ở đầu câu, bỏ
từ "Bao nhiêu", rồi thêm từ "Là" ở cuối câu để có: "Số học sinh trai lớp 2A có
là".
Tôi vẫn khuyến khích học sinh trình bày câu lời giải đầy đủ và hoàn chỉnh
như cách 2 và cách 3. Sau đó cho học sinh chậm kĩ năng nhắc lại. Từ đó khắc
sâu và nhấn mạnh cho học sinh hiểu muốn tìm được câu lời giải đúng với yêu
cầu của bài toán phải dựa vào cái cần tìm (đây cũng chính là câu hỏi của bài
toán).
Ngoài ra, giáo viên cần giúp đỡ học sinh xác định được đơn vị của bài
toán, đây cũng là vấn đề rất quan trọng trong giải toán có lời văn mà giáo viên
cần lưu ý và hướng dẫn học sinh nhận biết được đơn vị khi giải toán.
3.2.4. Hướng dẫn cách làm bài và trình bày bài giải
Đối với dạng toán có lời văn giáo viên nên nêu vấn đề, gợi ý để các em
tìm hiểu vấn đề, đọc kĩ đề toán, nhận dạng toán để tìm ra cách giải đúng.
Từ tư duy đúng các em tìm được lời giải, phép tính, cách ghi tên đơn vị và
ghi đáp số đúng. Bước này tuy đơn giản vẫn tương đối khó với học sinh của lớp.
Lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời theo thứ tự : Lời giải –
phép tính – đáp số.
Phép tính trong bài giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị trong phép
tính, nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn
Tóm tắt đề toán đúng sẽ giúp các em biết cách trình bày bài giải và thực
hiện phép tính đúng. Câu lời giải viết trước, phép tính viết sau kèm theo đơn vị
và cuối cùng là đáp số.
Học sinh nắm được các bước giải toán giáo viên cần cho các em thực hành
giải bài tập để rèn luyện kỹ năng giải toán, nhằm đánh giá việc chiếm lĩnh kiến
thức mới. Đối với học sinh tiếp thu bài chậm giáo viên cần cho các em làm thêm
các bài tập cùng dạng để các em nắm vững rồi nâng dần lên, còn học sinh có kĩ
năng vượt trội ngoài những bài tập khó ở Sách giáo khoa, giáo viên nên sưu tầm
kiến thức, rèn luyện kĩ năng qua các tiết ôn tập bằng các hình thức: hái hoa kiến
thức, trò chơi (Rung chuông vàng; Đi tìm ẩn số; Ô cửa bí mật; Ai nhanh hơn…)
tạo hứng thú cho học sinh học tập.
14
Ở các tiết học bồi dưỡng, phụ đạo giáo viên cần tìm và hướng dẫn cho học
sinh giải nhiều dạng toán khác nhau phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Đối với học sinh có kĩ năng vượt trội cần yêu cầu các em tìm nhiều câu lời
giải khác nhau cho cùng một bài toán, tạo tâm lí thoải mái, không gò ép giúp các
em hứng thú hơn trong học tập.
Qua giải pháp này giúp học sinh nhận ra kiến thức mới học trong các dạng
bài tập khác nhau, giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả năng của mình.
Bên cạnh đó học sinh có thể hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ.
*Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện thành công các giải pháp trên:
+ Về phía giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải nắm được tâm tư tình cảm của
từng đối tượng học sinh, theo dõi thường xuyên cụ thể kết quả học tập (trên lớp,
làm bài tập …) để phân loại đối tượng học sinh. Đối với học sinh chậm các kĩ
năng cần có kế hoạch giúp đỡ cụ thể, giao các bài tập nhằm khích lệ, động viên
các em đều được học và học có hiệu quả.
Tổ chức đôi bạn cùng tiến, học nhóm, phụ đạo theo nhóm, có phương pháp
lấp lỗ hổng kiến thức và rèn kỹ năng cho từng em.
Tập trung nâng cao chất lượng dạy Toán có lời văn ở lớp 2, giáo viên cần
chú ý các vấn đề sau :
+ Điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình
sách giáo khoa.
+Trong khi soạn bài giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ nội dung bài, tìm ra
những biện pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng loại toán và
Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm câu lời giải có phép tính tương ứng và
đáp số được viết đúng như quy định.
+ Về phía phụ huynh:
Luôn nhắc nhở, đôn đốc và thường xuyên kiểm tra bài làm ở nhà của học
sinh.
Phải có sự liên hệ chặt chẽ với giáo viên, tìm hiểu cách hướng dẫn học
sinh từ phía giáo viên để giúp đỡ, kèm cặp con em mình.
4. Kết quả của đề tài:
Qua một thời gian áp dụng những biện pháp giảng dạy nêu trên tại lớp 2D
trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu. Kết quả mà các em đạt
được cụ thể như sau:
16
* Bảng 1:
Đọc và hiểu đề
Thời
gian
TS
học
sinh
Đọc
Đọc và
Chính
Chính
xác
xác
nhưng
chưa
hiểu đề
Tỉ
S
S
lệ
L
L
%
Tỉ
lệ
%
Chưa
chính
xác
chậm
Tỉ
L
%
Trước
khi
thực
28
10
28
16
35,
7
hiện đề
11
39,
7
3
thực
57,
1
hiện đề
12
42,
1
50,
9
4
0
1 39,
1
3
3
10,
7
tắt đề
tắt đề
biết
xác
xác
được
đặt
17
toán
toán tốt
còn
chậm
Tỉ
S
S
Tỉ
S
lệ
L
%
Tỉ
lệ
%
S
L
được
theo
Tỉ
lệ
S
bài
Tỉ
L
25,
1
46,
0
3
4
6
21,
1
46,
4
3
4
4
14,
3
3
0
7
6
1
4
2
7,2
đề tài.
* Bảng 3:
Xác định đơn vị
Xác
Thời
gian
TS
Xác
xác
định
được
Chính
Chính
xác
Chưa chính
xác, đẹp
nhựng
xác
chậm
đơn vị
S
L
Tỉ
lệ
%
S
L
57,1 8
28,
6
4
14,
3
13 46,4
7
25,0
8
28,6
tài.
Sau khi
thực
hiện đề
28
2
3
20
III. KẾT LUẬN
Muốn thực hiện tốt và có hiệu giải toán có lời văn nói chung hay dạng toán
về “Ít hơn” thì đòi hỏi mỗi giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình, cấu
trúc SGK về “Giải toán có lời văn” ở lớp 2 để xác định được trong mỗi tiết học
phải dạy cho học sinh cái gì, dạy như thế nào ?
Dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 2 không thể nóng vội mà phải
hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành
cho học sinh một phương pháp tư duy học tập, đó là tư duy khoa học, tư duy
sáng tạo, tư duy lôgic. Rèn cho học sinh đức tính chịu khó cẩn thận trong “Giải
toán có lời văn” nói riêng và học môn toán nói chung.
Quá trình sử dụng đồ dùng trực quan phải linh động và phù hợp với mỗi
bài dạy, giúp các em lĩnh hội kiến thức mới một cách dễ dàng, hứng thú hơn
trong mỗi tiết học.
Thường xuyên tổ chức đánh giá và giám sát học sinh. Luôn quan tâm đến
từng đối tượng học sinh và đầu tư giúp đỡ cho học sinh chậm kĩ năng.
Cần tuyên dương, khen thưởng kịp thời, đúng lúc.
Giáo viên phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, học hỏi để nâng cao tay nghề
Phối hợp với phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho học sinh học tập, đôn
đốc việc thực hiện kế hoạch học tập ở trường cũng như ở nhà.
21
Học sinh phải có đầy đủ đồ dùng học tập, có ý thức tích cực tự giác trong
học tập.
II. NỘI DUNG:...................................................................................................3
1. Cơ sớ lý luận của đề tài ...................................................................................3
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ……………………….…………………… ……4-5
3. Nội dung vấn đề …………………………………………………………..5-10
4. Kết quả đề tài ……………………………………………………………10-11
5. Phạm vi áp dụng …………………………….…………………………...11-12
III. KẾT LUẬN ................................................................................................13
24
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
1. Nhận xét của HĐKH trường Tiểu học Lộc Ninh:
Nhận xét:................................................................................................................
................................................................................................................................
25