SKKN kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có lời văn - Pdf 26

Đặt vấn đề
I. Lời nói đầu:
Phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ là mục tiêu của mọi xã hội.Nhân
cách cúa con ngời đợc hình thành trong quá trình giáo dục.Vì vậy việc giáo dục
trẻ ngay từ những ngày đầu tới trờng là một việc làm hết sức cần thiết. Nó là nền
tảng vững chắc ngay từ bớc đầu để trẻ hoàn thiện và phát triển nhân cách một
con ngời. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền đợc chăm sóc và bảo vệ, đợc giaó dục
và học hành. Nghị quyết trung ơng II của Đảng đã sáng suốt đa nền giáo dục lên
quốc sách hàng đầu.Chính vì vậyĐảng và nhân dân ta không ngừng quan tâm và
từng bớc đổi mới quá trình dạy học một cách rõ rệt, để tạo tiền đề đa đất nớc ta
tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Thời đại hiện nay, việc biết giải toán có lời văn đối với các em, đặc biệt
với học sinh lớp 3 là rất quan trọng. Bớc đầu các em biết vận dụng các kiến thức
kỹ năng giải toán có lời văn (có không quá hai bớc) trong đó có một số dạng bài
toán nh tìm một trong các phần bằng nhau của một số, gấp một số lên nhiều lần,
so sánh số lớn gấp mấy lần số bé, so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn, bài
toán liên quan đến rút về đơn vị, bài toán có nội dung hình học
Trong dạy học toán, giải toán có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh tiểu học, giúp học sinh củng cố kiến
thức , kỹ năng về toán. Đồng thời giáo viên dễ dàng phát hiện những u điểm
thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huy những u
điểm, khắc phục thiếu sót, có thể coi việc dạy học giải toán là Hòn đá thử vàng
của dạy học toán. Thông qua dạy học giải toán sẽ giúp học sinh hình thành và
phát triển khả năng suy luận, lập luận và trình bày các kết quả theo một trình tự
hợp lí làm cơ sở cho quá trình dạy học toán ở các lớp cao hơn ngày nay.
Dạy giải toán là giúp học sinh luyện đợc những đức tính và phong cách làm
việc của ngời lao động nh ý thức vợt khó, thói quen xét đoán, tính cẩn thận, chu
đáo, cụ thể, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng. Đồng thời từng
bớc hình thành và rèn luyện thói quen về khả năng suy nghĩ, tính toán độc lập,
khắc phục đợc phép tính rập khuôn , xây dựng đợc tính ham thích tìm tòi, sáng
tạo, phát triển t duy giải toán còn là hoạt động gồm những thao tác nh xác lập

Xếp loại
Khả năng
phân tích đề
Khả năng thiết
lập các dữ kiện
để xây dựng quy
trình
Khả năng nêu
lời giải đúng
Khả năng
trình bày bài
toán
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Từ thực trạng trên để công việc dạy học đạt kết quả tốt hơn, tôi mạnh dạn
đổi mới phơng pháp, đa ra một số giải đáp trong công tác giảng dạy để phù hợp
với đối tợng học sinh.
B. Giải pháp vấn đề.
I. Các giải pháp thực hiện:
Với những trăn trở trên, tôi đã học hỏi đồng nghiệp, tìm một số giải pháp tối u

+ Biết 7 bao đựng 28 kg gạo, muốn tìm mỗi bao đựng bao nhiêu kg gạo
phải làm phép tính gì: (phép chia)
28 : 7 = 4(kg)
+ Biết mỗi bao đựng 4 kg gạo , muốn tìm 5 bao đựng đợc bao nhiêu ki lô
gam gạo ta làm phép tính gì? (phép nhân)
4 x 5 = 20(kg)
- Trình bày bài giải:
Bài toán giải theo hai bớc:
Số ki lô gam gạo đựng trong mỗi bao là:
28 : 7 = 4(kg)
Số gạo đựng trong 5 bao là:
4 x 5 = 20(kg)
Đáp số: 20 kg gạo.
Sau khi gợi ý và hớng dẫn cho học sinh cách giải giáo viên cần đặt câu hỏi
khắc sâu kiến thức nhận biết bài toán đơn và toán hợp, mối liên quan giữa các
giữ kiện trong bài toán và so sánh cách giải với nhau để các em nắm chắc dạng
bài và phơng pháp giải, giúp học sinh tự đặt vấn đề toán tơng tự và giải.
Ví dụ: Bài 2(trang 129 tiết 132 SGK toán 3)
Có 2135 quyển vở đợc xếp vào 7 thùng. Hỏi 5 thùng đó có bao nhiêu quyển
vở
Vẫn là bài toán trên giáo viên có thể hớng dẫn học sinh chuyển đề toán trả
lời hai câu hỏi nh sau:
Có 2135 quyển vở đợc xếp vào 7 thùng. Hỏi:
- 1 thùng có bao nhiêu quyển vở?
- 5 thùng có bao nhiêu quyển vở?
Từ đó khắc sâu cho học sinh phơng pháp giải : Khi giải dạng toán này thờng
tiến hành 2 bớc.
Bớc 1: Tìm giá trị một phần (thực hiện phép chia)
Bớc 2: Tìm giá trị nhiều phần (thực hiện phép nhân)
Đây là dạng toán không chỉ hớng dẫn cho học sinh ở phần bài mới mà cần

Khi dạy dạng toán giải có nội dung hình học, đây là dạng toán tơng đối
khó mà mới đối với học sinh lớp 3. Vì vậy khi dạy, giáo viên chú ý cho học đến
biểu tợng, hiểu rõ vấn đề cần giải quyết để ngay từ bớc đầu học sinh hiểu đúng
về biểu tợng và khắc sâu kiến thức đó.
Chẳng hạn khi dạy về chu vi hình chữ nhật hoặc chu vi hình vuông giáo
viên cần cho học sinh hiểu tính chu vi là tính tổng độ dài các cạnh của một hình
và nhớ lại đặc điểm của hình đó sau đó mới hình thành kiến thức (quy tắc tính
chu vi) của hình đó.
Ví dụ 1: Tính chu vi hình chữ nhật có:
Chiều dài 10cm, chiều rộng 5cm.
Sau khi học sinh đã nắm đợc bản chất của vấn đề và nắm đợc quy tắc rồi thì
có thể vận dụng vào làm bài tập.
Bài giải
Chu vi hình chữ nhật là:
(10 + 5) x 2 = 30cm
Lúc này giáo viên có thể gợi ý để học sịnh vận dụng kiến thức mới học
vào thực tế.
Ví dụ: Em hãy đo và tính chu vi của cái bàn học của em.
Cho các em khắc sâu kiến thức , để đến khi học về diện tích Hình chữ nhật
hoặc diện tích hình vuông học sinh không nhầm lẫn quy tắc tính và đơn vị đo
giữa diện tích và chu vi.
Ví dụ: Bài 1 trang 153- SGK toán 3.
Tính diện tích và chu vi hình chữ nhật có chiều dài 4dm, chiều rộng 8cm.
Để giải bài toán này giáo viên nên cho học sinh nêu lai quy tắc tính diện
tích và chu vi hình chữ nhật. Sau đó cho học sinh tự lập kế hoạch và giải bài toán
dựa theo những dữ kiện của bài toán.
Bài giải
Đổi 4dm = 40cm
Chu vi hình chữ nhật là:
(40 + 8) x 2 = 96(cm)

+ Giáo viên làm 2 câu lệnh làm việc:
+ Hãy gạch 1 gạch dới cái đã cho
+ Hãy gạch 2 gạch dới câu hỏi của bài toán.
+ Sau khi học sinh đã thực hiện theo hai câu lệnh làm việc của giáo viên,
giáo viên yêu cầu một số học sinh trình bày phân tích nội dung để hiểu rõ nội
dung đề toán.
4 vỉ thuốc có 24 viên
3 vỉ thuốc nh vậy có bao nhiêu viên?
- Lập kế hoạch giải:
Suy luận để tìm cách trả lời các câu của bài toán, cần biết gì? dùng phép
tính gì? Suy luận các số , điều kiện đã có, có thể biết gì? có thể sử dụng phép
tính gì? Phép tính đó trả lời câu hỏi của bài hay không? trên cơ sở đó lập kế
hoạch trình tự để giải toán.
+ Thực hiện các phép tính theo kế hoạch để tìm ra kết quả đúng của bài
toán.
Mỗi bớc giải của phép tính đều phải đợc kiểm tra lại cho đúng, thử lại đáp
số tìm đợc, xem cách giải, lời giải, đáp số có trả lời đúng câu hỏi của bài hay đã
phù hợp với điều kiện của bài toán hay cha? Trình bày giải.
Cũng nh ở ví dụ của bài 1: Trang 128 trên, giáo viên cho học sinh tự đặt
thêm câu hỏi Mỗi vỉ thuốc chứa bao nhiêu viên thuốc?
Bài giải
24 : 4 = 6 (viên)
Số viên thuốc trong 3 vỉ là:
6 x 3 = 18 (viên)
Đáp số: 18 viên thuốc.

2.2. Hớng dẫn học sinh giải bằng nhiều phơng pháp khác nhau:
Nhằm giúp học sinh chọn đợc phơng pháp hay nhất, hiểu sâu cấu trúc của
bài. Giải một bài toán bằng nhiều phơng pháp có tác dụng rèn luyện óc sáng tạo,
hứng thú tìm tòi học tập, giáo dục cho các em ý thức tiết kiệm thời gian, biết tìm

cộng)
Muốn tìm số bóng đèn còn lại trong kho sau 2 lần chuyển đi làm tính gì?
(tính trừ)
Trình bày bài giải:
Số bóng đèn đã chuyển đi tất cả là:
38.000 + 26.000 = 64.000 (bóng đèn)
Số bóng đèn trong kho là:
80.000 64.000 = 16.000 (bóng đèn)
Đáp số: 16.000 bóng đèn
2.3. Hớng dẫn học sinh xây dựng một đề toán mới:
Việc cho học sinh tự xây dựng đề toán vừa giúp các em phát triển t duy độc
lập, vừa giúp phát triển tính năng động sáng tạo của t duy. Đây là biện pháp gây
chú ý và hứng thú hoặc tập giúp các em hiểu rõ cấu trúc, cách ghi nhớ dạng bài,
đi sâu tìm hiểu thực tế và phát triển ngôn ngữ thông qua việc tự nêu và giải quyết
vấn đề, phát huy tính tích cực, vai trò trung tâm của các em trong quá trình dạy
học. Có nhiều cách để giúp học sinh tự xây dựng một đề toán, giáo viên cần nêu
vấn đề, yêu cầu và định hớng từ thấp đến cao, từ dễ đến khó.
2.3.1. Đề toán đa ra thiếu số liệu.
Học sinh tìm số liệu trên điền vào rồi giải.
Ví dụ: Đội một có . ngời, đội hai có . ngời. Hỏi cả hai đội có tất cả bao
nhiêu ngời?
2.3.2. Đề toán không đa ra câu hỏi.
Học sinh tự đặt câu hỏi cho bài toán và giải.
Ví dụ: Có 35.000 đồng mua đợc 5 quyển sổ
Em hãy đặt câu hỏi để bài toán có liên quan đến rút về đơn vị rồi giải.
2.3.3. Đặt đề toán dựa vào tóm tắt bằng sơ đồ, hình vẽ.
Ví dụ: Nêu bài toán rồi giải bài toán theo tóm tắt sau:

17kg
Con:

ợng học tập của học sinh. Kết quả thu đợc nh sau:
Tổng số học sinh tham gia kiểm tra: em
Khả năng
Xếp loại
Khả năng
phân tích đề
Khả năng thiết
lập các dữ kiện
để xây dựng quy
trình
Khả năng nêu
lời giải đúng
Khả năng
trình bày bài
toán
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Qua các bài kiểm tra và luyện kiểm tra việc học, làm bài tập của học sinh
tôi thấy rằng: Việc đa phơng pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, vai trò
của giáo viên là ngời hớng dẫn đã mang lại kết quả khá tốt. Đa số học sinh của

suy nghĩ, tính toán độc lập, phát triển t duy cho học sinh nên tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu này.
Cần kết hợp vận động linh hoạt hệ thống phơng pháp. Khi dạy nội dung
kiến thức mới, giáo viên nên đặt ra các tình huống có vấn đề để học sinh tự phát
hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới.
Giáo viên phải là ngời nắm rõ và phân loại chính xác từng đối tợng học
sinh của lớp mình để có định hớng đúng đắn giúp học sinh giải quyeets yêu cầu
bài học, chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, sáng tạo và có hứng thú trong
học tập.
3. Đề xuất:
Đề nghị phòng giáo dục cũng nh các ban ngành tạo điều kiện về cơ sở vật
chất hơn nữa để giáo viên yên tâm giảng dạy.
Mong các đồng chí góp ý để sáng kiến này ngày càng hoàn thiện hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status