BÁO CÁO THỰC TẬP-LÍ THUYẾT CHUYÊN ĐỀ GIÚP HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN - Pdf 27

LÍ THUYẾT CHUYÊN ĐỀ
MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN.
Hiện nay có rất nhiều em học yếu dạng toán có lời văn.
Thông thường các em sai về cách đặt lời giải và không tìm ra
cách giải bài. Sau đây là một số kinh nghiệm giúp học sinh học
tốt hơn:
1. Giúp học sinh đọc tốt để giải toán tốt :
Đa phần các em yếu về giải toán có lời văn là yếu ngay từ lớp
1 và sau đó lên các lớp trên các em tiếp tục yếu theo.
Ở lớp 1 các em yếu phần lớn là do các em đọc yếu và viết
yếu. Đọc yếu dẫn đến các em không hiểu được nội dung bài bài
toán. Nên các em không thể giải được, đặc biệt là trong các kì
kiểm tra định kì các em không có sự giúp đỡ của giáo viên trong
việc đọc và phân tích đề toán. Khi viết yếu thì các em viết lời
giải rất khó khăn và tốn nhiều thời gian từ đó dẫn đến việc các
em không thích các bài toán có lời văn.
Vậy đối với học sinh lớp một muốn các em giải toán có lời văn
tốt thì yêu câu đầu tiên giáo viên phải rèn cho các em đọc và
viết tốt.
2. Giúp học sinh ghi lời giải đúng.
Có rất nhiều học sinh khi giải toán có lời văn các em làm tính
đúng, đáp án đúng nhưng lời giải lại sai. VD : Tìm chiều dài lại
ghi chiều rộng, Tìm số bút mực lại ghi số bút chì. Lời giải lại
không rõ nghĩa VD : Số ki lô mét mà quãng đường đi được là :.
Cho nên giáo viên cần giúp cho học sinh biết cách dựa vào
câu hỏi của bài toán để đặt lời giải. Bài toán hỏi cái gì thì đặt lời
giải để tìm cái đó.
Ví dụ:
"Nhà Hà có 4 con gà. Mẹ mua thêm 3 con gà. Hỏi nhà Hà
có tất cả bao nhiêu con gà?"

Tìm diện tích hình chữ nhật đó biết chu vi hình chữ nhật bằng
24 m.
Giải
Tổng của chiều dài và chiều rộng là : 24 : 2 = 12 (m)
Chiều rộng là : 12 : 4 = 3 (m)
Chiều dài là : 12 - 3 = 9 (m)
Diện tích hình chữ nhật là : 9 x 3 = 27 (m
2
)
Ở bước 2 tìm chiều rộng lấy 12 : 4. nhưng trong bài toán
không có dữ liệu nào bằng 4 cả. Vậy bài giải chưa hợp lí vì chưa
tìm được 4. Mà ở đây học sinh biết tìm 4 tức là tổng số phần của
chiều dài (3 phần) và chiều rộng (1 phần) là : (3 + 1 = 4). Bước
2 cần giải như sau : Chiều rộng là : 12 : (3 + 1) = 3 (m)
b) Tìm cách giải toán:
Hoạt động tìm cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích
các dữ kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác định mối liên hệ
giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp.
Hoạt động này thường diễn ra như sau:
*Minh hoạ bài toán bằng tóm tắt đề toán, dùng sơ đồ, dùng
mẫu vật, tranh vẽ.
VD: Cho một hình chữ nhật có chiều rộng bằng 1/3 chiều dài.
Tìm diện tích hình chữ nhật đó biết chu vi hình chữ nhật bằng
24 m.
Đầu tiên cho học sinh đọc lại đề bài toán nhấn mạnh các từ
ngữ quan trọng như:
Ví dụ bài toán:
"Nhà Hà có 5 con gà. Mẹ mua thêm 3 con gà. Hỏi nhà Hà
có tất cả bao nhiêu con gà?"
Đầu tiên cho học sinh đọc lại đề bài toán nhấn mạnh các

và trình bày giải. Mỗi bài giải yêu cầu học sinh phải xác định
xem có bao nhiêu bước mỗi bước đều có câu lời giải, phép tính
tương ứng. Phải tìm lời giải cho từng bước. Tìm cái gì thì lời giải
là tìm cái đó. Ở ví dụ trên :
Bước 1 Tìm tổng của chiều dài và chiều rộng (nửa chu
vi). Lời giải và phép tính là : Tổng của chiều dài và chiều rộng
là : 24 : 2 = 12 (m).
Bước 2 Tìm tổng số phần bằng nhau. Lời giải và phép tính
là : Tổng số phần bằng nhau là: 3 + 1 = 3(m).
Bước 3 Tìm chiều rộng. Lời giải và phép tính là : Chiều rộng
là : 12 : 4 = 3 (m).
Bước 4 Tìm chiều dài. Lời giải và phép tính là : Chiều dài
là : 12 - 3 = 9 (m).
Bước 4 Tìm diện tích. Lời giải và phép tính là : Diện tích
HCN là : 9 x 3 = 27(m
2
).
*Chú ý : Đối với học sinh yếu môn toán nhiều khi các em không
có khả năng tìm ra các bước và sự logic của các bước giải. Để
giúp học sinh yế giải tốt thì sau khi hướng dẫn các em giải bài
toán giáo viên có thể ghi các bước lên bảng để giúp các em giải
toán.
VD : Đối với bài toán trên
Bước 1 Tìm tổng của chiều dài và chiều rộng
Bước 2 Tìm tổng số phần bằng nhau.
Bước 3 Tìm chiều rộng.
Bước 4 Tìm chiều dài.
Bước 4 Tìm diện tích.
Có như vậy thì các em yế mới có khả năng giải tốt các bài toán.
Khi các em giải tốt rồi (hoặc những bài toán tương tự) thì giáo

toán đơn. Mặt khác các dạng toán đều đã được học ở các lớp
trước, bao gồm hai nhóm chính như sau:
- Nhóm 1: Các bài toán hợp mà quá trình giải không theo
một phương pháp thống nhất cho các bài toán đó.
- Nhóm 2: Các bài toán điển hình, các bài toán mà trong
quá trình giải có phương pháp riêng cho từng dạng bài toán.
VD:- Tìm số trung bình cộng ; - Tìm hai số khi biết tổng và
hiệu của hai số đó ; - Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số
đó; - Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.; - Bài toán
liên quan đến đại lượng tỉ lệ thuận, liên quan đến đại lượng tỉ lệ
nghịch.
Người giáo viên phải nắm vững các dạng toán để khi hướng
dẫn học sinh giải toán sẽ tổ chức cho học sinh trước hết xác
định dạng toán để có cách giải phù hợp.
Việc dạy cho học sinh nắm được phương pháp chung để
giải toán được chú trọng ngay từ khi các em giải bài toán đầu
tiên ở đầu bậc tiểu học và sau này vẫn được thường xuyên quan
tâm, các em luôn được rèn luyện trong việc tìm hiểu đề toán,
trong việc phân tích cái gì đã cho, cái gì phải tìm trong việc suy
nghĩ tìm ra cách giải và trong việc thực hiện cách giải. Đặc biệt,
các em được thường xuyên sử dụng việc tóm tắt đề toán bằng
sơ đồ, hình vẽ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status