Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Môn Toán là một trong những môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình
giáo dục tiểu học. Môn học góp phần to lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn
diện. Với đặc trưng của môn học, môn toán chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kĩ
năng toán học cơ bản cho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao động. Đây cũng là
môn học giúp học sinh rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận,
phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề; đồng thời rèn luyện trí thông
minh sáng tạo và các đức tính quý báu như: cần cù, nhẫn nại, tự lực, ý chí vượt khó,
thích chính xác... Trong chương trình TH, môn toán chiếm thời lượng tương đối lớn.
Tuy nhiên, môn toán không được phân chia thành các phân môn chuyên biệt mà là sự
kết hợp của 5 tuyến kiến thức được sắp xếp xen kẽ nhau (số học, hình học, đại lượng,
thống kê mô tả và giải toán) . Trong đó, giải toán có lời văn là một trong những mạch
kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học. Đây là mạch kiến thức
tổng hợp của các mạch kiến thức toán học. Khi giải toán có lời văn các em sẽ vận dụng
các kiến thức đã học để giải các loại toán về số học, yếu tố đại số, yếu tố hình học và đo
đại lượng. Ngược lại, thông qua học giải toán, học sinh được củng cố khắc sâu các kiến
thức về số học, về đại lượng, đo đại lượng, về hình học...
Mặt khác, dạy học giải toán toán còn giúp rèn luyện cho học sinh các kỹ năng
tính toán với các phép tính về số học, quan trọng hơn cả là giúp học sinh hình thành
phương pháp giải toán, rèn luyện khả năng diễn đạt khi giải toán. Vì vậy, khả năng giải
toán sẽ phản ánh lại năng lực vận dụng kiến thức toán học của học sinh. Giải toán có lời
văn là học cách giải quyết vấn đề của môn toán. Đồng thời, giải toán có lời văn còn là
cầu nối giữa toán học và các môn học khác, giữa toán học và thực tế cuộc sống. Trong
khi đó, giải toán có lời văn là dạng toán khó đối với học sinh dân tộc thiểu số, các em
thường gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài toán, xác định yêu cầu của bài toán.
Vì vậy cần phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm phù hợp với nội dung dạy học mới
đồng thời có thể khắc phục dần những hạn chế của học sinh. Đây chính là những điều
chúng tôi băn khoăn, trăn trở và đi đến quyết định nghiên cứu về Phương pháp dạy
II.1.Cơ sở lí luận
Học sinh tiểu học được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp 1 và học liên
tục đến lớp 5. Dạng toán có lời văn được xem như chiếc cầu nối kiến thức toán học
trong nhà trường và ứng dụng của toán học trong đời sống thực tế, đời sống xã hội.
Chính vì vậy, muốn học sinh giải quyết tốt những bài toán có lời văn thì việc
giúp các em hiểu được bài toán và biết cách tóm tắt đúng các bài toán là một việc quan
trọng, là chỗ dựa cho học sinh tìm ra trình tự giải và phép tính tương ứng của bài giải.
Qua tóm tắt, giải bài toán có lời văn giúp học sinh rèn tư duy lô-gic óc suy luận, khả
năng phân tích, tổng hợp và khả năng trình bày khoa học .
II.2. Thực trạng
a. Thuận lợi - khó khăn
*Thuận lợi:
- Được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của các cấp lãnh đạo và chính quyền
địa phương.
- Có sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn thể trong nhà trường và sự hợp tác của
hội cha mẹ học sinh.
-Giáo viên thường xuyên được tham dự các lớp tập huấn, chuyên đề và nghiên
cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học theo chương trình,
giảng dạy các môn học theo vùng miền, giảng dạy trẻ có hoàn cảnh khó khăn,...
- Giáo viên được phép chủ động trong việc xây dựng kế hoạch dạy học và có sự theo
dõi kiểm tra chỉ đạo thường xuyên của tổ khối chuyên môn, lãnh đạo trường.
- Tài liệu tham khảo khá phong phú
* Khó khăn:
- Trình độ dân trí ở địa phương còn thấp, điều kiện kinh tế gia đình học sinh còn
khó khăn. Nhiều gia đình học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của con em.
- Học sinh dân tộc thường nhút nhát, thiếu tự tin, khả năng tiếp thu chậm.
- Giáo viên và học sinh, phụ huynh bất đồng về ngôn ngữ.
b.Thành công - hạn chế
* Thành công:
- Học sinh có thói quen giải toán theo đúng quy trình .
công nghệ thông tin.
+ Học sinh: Đi học chuyên cần, có ý thức vượt khó trong học tập
*Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
- Học sinh không học tập bằng tiếng mẹ đẻ mà bằng ngôn ngữ thứ 2.
- Khả năng ghi nhớ, vận dụng kiến thức của các em hạn chế.
- Thiếu sự quan tâm, hướng dẫn, nhắc nhở từ phía gia đình.
- Một số giáo viên chưa mạnh dạn trong đổi mới phương pháp dạy học.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra
- Về phía học sinh: Các em học tập bằng ngôn ngữ thứ 2, đây là lí do ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình tiếp cận tri thức trong sách vở cũng như tri thức trong cuộc
sống. Các em đọc, hiểu chậm nên tiếp thu kiến thức mới cũng chậm. Cộng với khả năng
ghi nhớ hạn chế dẫn đến việc vận dụng kiến thức của các em gặp nhiều khó khăn. Cụ thể
là khả năng đọc hiểu bài toán của các em chưa tốt nên nhiều học sinh không biết tóm tắt,
không biết phân tích đề, không biết yêu cầu của đề là gì và xác định sai dạng toán. Một
số học sinh thiếu tự tin khi giải toán, có em làm được phép tính nhưng chưa hiểu được
cách ghi lời giải, ghi sai đơn vị …Mặt khác, học sinh dân tộc thường nhút nhát, khả năng
tiếp thu chậm nên cũng gây nhiều khó khăn cho giáo viên khi áp dụng đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực hoá các đối tượng học sinh.
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
3
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
- Về phía phụ huynh: Phần lớn các gia đình học sinh chưa nhận thức được đầy đủ
về lợi ích của việc học; đời sống của đa số gia đình các em còn nghèo, họ chưa thể đầu
tư cho việc học hành của con em một cách tốt nhất. Ngoài ra, thời gian của các bậc phụ
huynh ở rẫy nhiều hơn ở nhà nên việc phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục các
em cũng rất khó khăn.
liên quan đến việc rút về đơn vị, dạng a : b × c ; loại giải bằng 2 phép tính chia có liên
quan đến việc rút về đơn vị, dạng a : (b : c).
- Những dạng thuộc loại toán điển hình : tìm trung bình cộng của nhiều số, tìm
hai số khi biết tổng và hiệu của chúng, tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ của
chúng, bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ,...
- Tuyến kiến thức về giải toán ở tiểu học:
4
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
+ Lớp 1 : giới thiệu bài toán có lời văn ; giải các bài toán bằng một phép tính (một
phép cộng hoặc một phép trừ) ; chủ yếu là các bài toán thêm, bớt một số đơn vị.
+ Lớp 2: giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ ; các bài toán về nhiều
hơn, ít hơn một số đơn vị ; phép nhân và phép chia; bước đầu làm quen giải bài toán có
nội dung hình học (tính chu vi các hình đã học), các bài toán liên quan đến các phép
tính với các đơn vị đo đã học (km, m, dm, cm, mm, kg, lít).
+ Lớp 3: giải các bài toán có đến hai bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và
đơn giản ; giải các bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học.
+ Lớp 4: giải các bài toán có đến hai hoặc ba bước tính, có sử dụng phân số ; giải
các bài toán liên quan đến : tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng, tìm hai số khi
biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ của chúng, tìm số trung bình cộng, các bài toán có nội dung
hình học đã học) ; giới thiệu bước đầu về việc sử dụng toán học lớp 4 để giải quyết các
vấn đề của thực tế.
+ Lớp 5: giải các bài toán có đến ba bước tính là chủ yếu. Đó là các bài toán đơn
giản về tỉ số phần trăm : tìm tỉ số phần trăm của hai số, tìm phần trăm của một số, tìm
một số biết một số phần trăm của nó; các bài toán đơn giản về chuyển động đều,
chuyển động ngược chiều và cùng chiều : tìm vận tốc khi biết thời gian chuyển động và
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Quá trình tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua việc đọc bài toán.
Học sinh cần đọc kỹ, hiểu rõ đề toán, phân biệt được cái đã cho và cái phải tìm.Có thể
nói đây là bước quan trọng góp phần vào sự thành công trong việc giải toán của học
sinh, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh xác định được yêu cầu của đề, nắm bắt được
mấu chốt trong yêu cầu của bài toán. Hết sức tránh tình trạng học sinh vừa đọc xong đề
đã vội vã bắt tay vào giải ngay. Phải tập cho học sinh có thói quen tự tìm hiểu đề toán
qua việc phân tích những điều đã cho và xác định được những điều phải tìm.
Trong một bài toán, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc lựa chọn phép
tính thích hợp được quy định không chỉ bởi các dữ kiện mà còn bởi các câu hỏi. Với
cùng các dữ kiện như nhau có thể đặt các câu hỏi khác nhau do đó việc lựa chọn phép
tính cũng khác nhau, việc thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều kiện căn bản để giải
đúng bài toán đó. Với học sinh dân tộc thiểu số, khả năng hiểu tiếng Việt còn hạn chế
nên các em đã gặp khó khăn ngay từ bước này. Do vậy, giáo viên cần chú ý với việc kết
hợp giảng giải từ và thuật ngữ toán học giúp học sinh hiểu được nội dung bài toán.
Giáo viên cần dựa vào các hoạt động cụ thể của các em với vật thật, mô hình hay dựa
vào hình vẽ, các sơ đồ toán học.... để giúp các em hiểu khái niệm "nhiều hơn ", "ít
hơn”, ‘thêm”, “bớt”,... trong tương quan giữa các mối quan hệ trong bài toán. Giáo viên
cần chú ý vận dụng các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các
môn học giúp các em được rèn luyện nhiều hơn về khả năng đọc – hiểu tiếng Việt.
Để kiểm tra việc học sinh hiểu nội dung bài toán như thế nào, giáo viên nên cho
học sinh nhắc lại yêu cầu bài toán không phải bằng hình thức đọc thuộc lòng mà bằng
cách diễn đạt của mình (đây là yêu cầu khó đối với học sinh dân tộc thiểu số nhưng
không vì thế mà giáo viên bỏ qua, cần phải kiên trì luyện tập cho các em). Sau khi đọc
bài toán, học sinh cần xác định được 3 yếu tố cơ bản của bài toán:
- Những dữ kiện của bài toán: Đó là những cái đã cho, những cái đã biết của bài
toán. Giáo viên nên yêu cầu học sinh tự xác định dữ kiện bằng bút chì trước rồi mới
phát biểu bằng lời sau (hướng dẫn học sinh gạch chân các dữ kiện đã cho theo quy ước
Hoạt động tìm tòi cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ kiện, ẩn
số và điều kiện của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng. Từ đó lựa chọn
phép tính số học thích hợp. Hoạt động này thường diễn ra như sau:
- Minh hoạ bài toán thông qua tóm tắt đề toán: Việc làm này giúp học sinh bớt
được một số câu, chữ làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa các số đã cho và
số phải tìm hiện ra rõ hơn. Bởi vậy cần tóm tắt thật ngắn gọn, GV chỉ cần hướng sự tập
trung chú ý của HS đến những chi tiết chính của bài toán, còn những chi tiết phụ của bài
toán cần gạt bỏ đi để HS không bị rối. Tóm tắt bài toán chính là sự biểu diễn cái đã cho,
cái cần tìm và mối liên hệ giữa chúng. Có rất nhiều cách để tóm tắt một bài toán, có thể
tóm tắt đề toán theo các cách sau:
+ Tóm tắt bằng lời
+ Dùng sơ đồ đoạn thẳng
+ Dùng ngôn ngữ và kí hiệu
+ Dùng chữ thay số
+ Dùng sơ đồ Graph
+ Dùng bảng
+ Dùng sơ đồ ven
+ Dùng hình vẽ
+Dùng hình tượng trưng
Tuy nhiên, với khả năng của học sinh lớp 2, chúng ta chỉ nên hướng dẫn các em
các cách tóm tắt bằng lời, dùng sơ đồ đoạn thẳng hoặc dùng hình tượng trưng.
VÝ dô 1: Trong vườn có 9 cây táo, mẹ trồng thêm 6 cây táo nữa. Hỏi trong vườn
có tất cả bao nhiêu cây táo?
Tóm tắt:
Có
: 9 cây táo
Thêm
: 6 cây táo
Tất cả có : …cây táo?
VÝ dô 2: Lớp 2A có 29 học sinh và số học sinh lớp 2B nhiều hơn số học sinh
+1
2
:3
?
−4
5
Tùy theo trình độ học sinh thấp hay cao mà lựa chọn cách tóm tắt mang nhiều hay ít
tính trực quan. Học sinh dân tộc thiểu số thường gặp khó khăn khi tìm hiểu nội dung bài
toán. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn tóm tắt bài toán bằng cách đàm thoại (Bài toán
cho biết gì? Hỏi gì?). Học sinh dựa vào các dữ kiện của bài toán (phần đã gạch chân) để
trả lời các câu hỏi của giáo viên và từng bước hoàn thành tóm tắt bài toán.
- Lập kế hoạch giải toán nhằm xác lập trình tự giải quyết, thực hiện các phép tính số
học: Có hai hình thức thể hiện tương ứng với hai phương pháp phân tích bài toán để tìm
cách giải cho một bài toán, tùy từng bài toán cụ thể mà ta lựa chọn phương pháp tìm cách
giải phù hợp.
+ Phép phân tích xuôi: Là phương pháp tìm cách giải đi từ dữ kiện của bài toán
đến câu hỏi của bài toán. Từ những cái đã cho (đã có) suy ra hoặc tính được điều gì
giúp ích cho việc giải toán không? Cứ như thế ta suy luận để tìm ra cách giải toán.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh tìm cách giải bài toán: “Lớp 2A có 18 học sinh
đang tập hát, lớp 2B có 21 học sinh đang tập hát. Hỏi cả hai lớp có bao nhiêu học sinh
đang tập hát?” (bài 3 -trang 11 - SGK Toán 2), giáo viên nêu các câu hỏi như sau:
- Bài toán đã cho biết những gì? (Lớp 2A có 18 học sinh, lớp 2B có 21 học sinh)
- Bài toán hỏi gì? (Cả hai lớp có bao nhiêu học sinh?)
8
viết câu lời giải ở dạng đơn giản. Bởi vậy, ở những tiết toán có bài toán giải có lời văn,
giáo viên cần dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày mẫu nhiều
bài giúp các em hình thành và ghi nhớ kĩ năng giải toán.
Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở trang 11 SGK Toán 2.
“ Lớp 2A có 18 học sinh đang tập hát, lớp 2B có 21 học sinh đang tập hát. Hỏi
cả hai lớp có bao nhiêu học sinh đang tập hát?”.
Học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán:
Lớp 2A có
:
18 học sinh.
Lớp 2B có
:
21 học sinh.
Cả hai lớp có :
… học sinh?
Học sinh nêu miệng câu lời giải:
Cả hai lớp có tất cả số học sinh đang tập hát là:
Học sinh nêu miệng phép tính: 18 + 21 = 39 (học sinh)
Tiếp đó, cho học sinh tự trình bày bài giải. Ở những bài toán trong các tuần
đầu, giáo viên cần cho học sinh luyện nêu miệng bài toán nhiều lần để các em ghi nhớ
cách trình bày một bài giải.
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
9
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh một số mẹo nhỏ để viết được lời giải chính xác
với yêu cầu câu lời giải cần phải ghi ngắn gọn, đủ ý được mệnh đề khẳng định . Đối với
Đọan thẳng AB dài 10cm, đoạn thẳng CD dài hơn đoạn thẳng AB 2cm. Hỏi đoạn
thẳng CD dài bao nhiêu cm?
Học sinh không viết câu lời giải: "Số xăng-ti-mét đoạn thẳng CD dài là" mà
phải viết là: "Độ dài đoạn thẳng CD là".
- Viết phép tính: Phép tính phải viết theo hàng ngang, không được viết theo cột
dọc. Không viết đơn vị kèm theo trong các phép tính mà chỉ viết đơn vị vào sau kết quả
phép tính và đặt trong dấu ngoặc đơn.
- Viết đáp số: Đáp số viết ở cuối bài giải, bài toán có bao nhiêu câu hỏi thì có bấy
nhiêu đáp số, chỉ ghi 1 lần từ “đáp số”. Đáp số phải ngắn gọn và đủ ý trả lời cho câu hỏi của
bài toán. Dạy học sinh dân tộc thiểu số nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ cho các em cách viết
từ “Đáp số” lùi vào mấy ô li so với từ “Bài giải” (đã được viết chính giữa trang vở)
10
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
Ví dụ: Con lợn thứ nhất nặng118kg. Con lợn thứ hai nặng kém con lợn thứ nhất 7kg. Hỏi:
a) Con lợn thứ hai nặng bao nhiêu kilôgam?
b) Cả hai con lợn nặng bao nhiêu kilôgam?
(Bài 239 – trang 39 - Toán nâng cao lớp 2)
Bài giải:
a) Con lợn thứ hai nặng là:
118 – 7 = 111(kg)
b) Cả hai con lợn nặng là:
118 + 111 = 229 (kg)
Đáp số: a) 111 kg
b) 229 kg
Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán.
Việc kiểm tra nhằm phân tích xem cách giải phép tính và kết quả là đúng hay sai,
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
Phương pháp dạy học tích cực là hệ thống các phương pháp tác động liên tục của
giáo viên nhằm kích thích tư duy của học sinh, tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh
theo quy trình. Phương pháp này tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh đều tham gia
tích cực vào qua trình dạy học, học sinh được tiếp cận kiến thức bằng hoạt động làm bài
tập, học sinh được làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, trao đổi hợp tác với bạn, với thầy.
Trong phương pháp dạy học tích cực:
- Giáo viên giữ vai trò chủ đạo, tổ chức các tình huống học tập, hướng dẫn học
sinh giải quyết vấn đề, khẳng định kiến thức mới trong vốn tri thức của học sinh. Giáo
viên nói ít, giảng ít nhưng lại thường xuyên làm việc với từng học sinh hoặc từng nhóm
học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu. Như vậy, giáo viên phải biết cách tổ chức
các hoạt động của học sinh, đồng thời phải có một tri thức vượt ngoài lĩnh vực bộ môn
mình dạy để có thể làm chủ nội dung và nghệ thuật dạy. Cách dạy như thế sẽ giúp học
sinh phát triển năng lực, sở trường cá nhân .
- Học sinh là chủ thể nhận thức, phải chủ động, độc lập suy nghĩ, làm việc tích
cực và biết tự học, tự chiếm lĩnh tri thức từ nhiều nguồn khác nhau, dưới sự theo dõi
hướng dẫn của giáo viên. Cách học này tạo cho học sinh thói quen tự giác, chủ động
không dập khuôn, biết tự đánh giá và đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, đặc
biệt là tạo niềm vui, niềm tin trong học tập.
Như vậy học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học, nghĩa là học sinh
phải hoạt động để đạt được các yêu cầu của bài học. Giáo viên trở thành người cộng tác
thực sự trong cùng một công việc, cùng một nhiệm vụ theo những cách thức hình thức
khác nhau.
Ngoài việc quan tâm tới vai trò của giáo viên và học sinh, phương pháp dạy học tích
cực còn quan tâm đến cả yếu tố môi trường (bao gồm cơ sở vật chất, tâm tư, tình cảm, tính
cách...). Bởi môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học của học sinh và phương pháp sư
- Các em tiếp thu bài một cách chủ động, ghi nhớ được bài.
Kết quả khảo nghiệm ở các lớp 2 trong học kì I như sau:
Kết quả giải toán có lời văn
TS
HS
Biết tóm Đặt câu Lựa chọn Ghi
tắt
bài lời giải đúng
đúng
phù hợp
phù hợp phép tính đáp số
20
65%
85%
70%
50%
Điểm môn
Toán cuối Ghi chú
kì I (từ TB
trở lên)
90 %
II. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
nhận thức của từng đối tượng học sinh, chưa vội cho học sinh tiếp cận với các bài toán
nâng cao khi các em chưa giải thông thạo các bài toán trong sách giáo khoa. Giáo viên
cần vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học bằng việc tổ
chức, hướng dẫn cho các em tự hoạt động, thao tác với các phương tiện trực quan để
chiếm lĩnh kiến thức dưới các hình thức học tập khác nhau. Quan trọng hơn cả trong
dạy học giải toán có lời văn là hình thành cho học sinh phương pháp giải toán, rèn
luyện khả năng diễn đạt khi giải toán.
III.2. Kiến nghị :
- Giáo viên phải luôn luôn tìm tòi học hỏi trau dồi kinh nghiệm để nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn. Giáo viên phải mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy bằng nhiều
hình thức.
- Sau mỗi bài dạy giáo viên cần tự đánh giá hiệu quả của biện pháp đã vận dụng
và có những điều chỉnh (nếu chưa phù hợp) kịp thời ở bài sau.
- Mỗi giáo viên nên mạnh dạn đưa nội dung trao đổi về biện pháp giảng dạy
các môn học vào các buổi sinh hoạt chuyên môn.
- Nhà trường bổ sung đầy đủ hơn các đồ dùng dạy học, tài liệu hướng dẫn để
tạo điều kiện cho giáo viên nghiên cứu, vận dụng phương pháp dạy học phù hợp
với từng bài, từng đối tượng học sinh.
- Ngành giáo dục cần tổ chức cho giáo viên tham dự các lớp tập huấn,
chuyên đề về phương pháp giảng dạy đối tượng học sinh dân tộc thiểu số thường
xuyên hơn.
- Các tổ chức xã hội cần quan tâm nhiều hơn nữa đến giáo dục ở những vùng khó
khăn, có biện pháp động viên người dân ở vùng khó khăn quan tâm tạo điều kiện cho
con em học tập.
Ngày 05/01/2015
Người viết
Nguyễn Thanh Thuý
16
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Trần Diên Hiển (2004), Thực hành giải toán tiểu học (T1), NXBGD.
[2]. Đỗ Trung Hiệu (2005), Những đề toán hay của toán tuổi thơ, NXBGD.
[3]. Đỗ Đình Hoan (2007), SGK toán 1, NXBGD.
[4]. Đỗ Đình Hoan (2007), SGK toán 2, NXBGD.
[5]. Đỗ Đình Hoan (2007), SGK toán 3, NXBGD.
[6]. Đỗ Đình Hoan (2007), SGK toán 4, NXBGD.
[7]. Đỗ Đình Hoan (2007), SGK toán 5, NXBGD.
[8]. Nguyễn Danh Ninh – Vũ Dương Thụy (2003), Toán nâng cao lớp 2, NXBGD.
[9]. Đỗ Đình Hoan (2010), SGV Toán 2, NXBGD.
[10]. Tài liệu khác : Toán tuổi thơ, Nhi đồng chăm học, Tạp chí giáo dục
Người viết: Nguyễn Thanh Thúy
17
Phương pháp dạy dạng bài “Giải toán có lời văn” cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Trần Diên Hiển (2004), Thực hành giải toán tiểu học (T1), NXBGD.
[2]. Đỗ Trung Hiệu (2005), Những đề toán hay của toán tuổi thơ, NXBGD.
[3]. Đỗ Đình Hoan (2007), SGK toán 1, NXBGD.