SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP
1”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Toán học là môn học có vị trí vô cùng quan trọng. Nó góp phần đào tạo học sinh trở
thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo.
Việc dạy học giải toán ở tiểu học.giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng
lực tư duy, rèn phương pháp suy luận và những phẩm chất của con người lao động mới.
Trong dạy học toán thì giải toán có lời văn đối với học sinh lớp1 là loại toán khó. Do đó
việc dạy loại toán này đạt kết quả chưa cao vì :
- Giáo viên chưa trú trọng đến việc hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán hiểu nội dung bài
toán và tóm tắt bài toán để tìm phương pháp giải bài toán theo các bước. Do đó việc rèn
luyện tư duy của học sinh còn hạn chế.
- Nhiều học sinh đọc bài toán chưa thông thạo, chưa hiểu nội dung bài toán, chưa xác
định được yêu cầu của bài toán: Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì?
- Đa số học sinh chưa biết trình bày bài giải.
- Mới làm quen với môn toán, với các phép tính cộng, trừ lại tiếp xúc với việc giải toán
có lời văn, không khỏi có những bỡ ngỡ với học sinh.
- Một số học sinh ý thức học chưa cao, chưa chú ý trong việc học toán.
- Một số gia đình các em còn khó khăn chưa quan tâm đến việc học tập của các em, có
em còn thiếu đồ dùng học tập.
- Giáo viên chưa sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, còn phụ thuộc nhiều
vào sách giáo khoa và sách hướng dẫn của giáo viên.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của môn toán ở bậc tiểu học. Phần “Giải toán có lời văn” được
dạy ở tiểu học mang ý nghĩa chuẩn bị cho việc học môn giải toán ở các lớp trên. Khả
năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh.
Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán, kết hợp với
kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học. Góp phần hình thành tư duy,
khả năng suy đoán lôgic, óc tưởng tượng, rèn kĩ năng diễn đạt, đồng thời giúp học sinh
có những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc với những tình huống toán học ở các lớp trên.
II. Cơ sở thực tiễn:
Đối với học sinh lớp 1, đọc, hiểu một bài toán thật không dễ nhất là phải dùng lời văn của
mình viết thành một lời giải phù hợp với nội dung bài toán. Làm thế nào để học sinh đọc,
hiểu, giải bài toán đúng theo yêu cầu bài. Đó là đều mà mỗi giáo viên cần quan tâm. Vậy
để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, ngay từ đầu năm học, tôi đ đề ra một số
biện pháp giúp các em nắm vững kĩ năng giải toán một cách chính xác, tạo điều kiện và
làm nền tảng cho các môn học khác.
III. Thực trạng:
1. Thuận lợi:
- Cơ sở vật chất đảm bảo cho dạy và học.
- Gia đình luôn quan tâm, động viên học sinh học tập.
- Chương trình giới thiệu cho học sinh làm quen với dạng toán từ dễ đến khó: từ dạng
toán nhìn hình vẽ điền số đến dạng toán có lời văn hoàn chỉnh.
2. Khó khăn:
-Học sinh còn chưa đọc kĩ bài toán, xem bài toán cho biết gì? hỏi gì? Học sinh còn chưa
biết cách xác định phép tính của bài toán, cách trình bày bài giải còn chưa chính xác,
nhiều học sinh còn chưa viết được câu lời giải hoặc lời giải chưa sát với câu hỏi bài toán.
IV. Một số biện pháp để giải quyết vấn đề:
Quy trình giải một bài toán có lời văn thường gồm nhiều bước: phân tích đề toán, tìm
Ví dụ 1: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?
3. Giúp học sinh tóm tắt đề toán:
Để giúp học sinh biết cách phân tích một đề toán, tôi hướng dẫn học sinh biết tóm tắt
đề toán. Tôi hướng dẫn tóm tắt đề toán bằng phương pháp đàm thoại: Bài toán cho gì?
Hỏi gì?. Dựa vào mỗi câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt. Sau đó cho học sinh dựa
vào tóm tắt nêu lại bài toán.
Tuỳ theo từng dạng toán cụ thể mà có cách tóm tắt phù hợp: Tóm tắt bằng lời, tóm tắt
bằng sơ đồ đoạn thẳngTóm tắt bằng lời:
Ví dụ 2: An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?
- Cho học sinh đọc đề toán.
-Hỏi:
+Bài toán cho biết gì?
( An có 4 quả bóng.)
=> An có
: 4 quả bóng
(Bình có 3 quả bóng)
=> Bình có
: 3 quả bóng
+Bài toán hỏi gì?
(Cả hai bạn có mấy quả bóng?)
=>Cả hai bạn có :…quả bóng?
+ Câu lời giải.
+ Phép tính.
+ Đáp số.
- Dòng ghi phép tính lùi vào 1 ô so với dòng ghi câu lời giải. Dòng ghi đáp số lùi vào
1 ô so với dòng ghi phép tính.
Ví dụ:
Số con gà nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Đáp số: 9 con gà
- Tôi lưu ý học sinh từ (con gà) được đặt trong dấu ngoặc đơn.
- Cho học sinh đọc lại nhiều lần bài giải để nhớ cách trình bày một bài giải dạng toán
có lời văn.
V. Hiệu quả áp dụng:
Tôi tục áp dụng kinh nghiệm vào năm học 2011 - 2012 và dạy thử nghiệm học sinh lớp
1F . Chất lượng học sinh tăng hơn rất nhiều so với năm học trước:
HS
viết HS
viết
Năm
HS
HS
34
32
94.12% 31
91.7% 32
94.1%
91.7%
2011
201131
2012
-Hầu hết các em nhìn vào bài toán nêu được tóm tắt, nhìn vào tóm tắt hiểu nội dung bài
toán. Biết trình bày bài giải, các em tư duy được nhiều câu lời giải khác nhau. Các em
nắm chắc được kiến thức cơ bản của từng dạng toán . Đặc biệt nắm được các bước khi
giải toán.
C. KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA.
-Phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 giúp học sinh hoàn hoàn thiện