Sáng kiến kinh nghiệm rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 - Pdf 43

Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

___________________________________________________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Họ và tên tác giả : Nguyễn Văn Trường.
Trình độ chuyên môn: Trung cấp sư phạm.
Chức vụ: Giáo viên.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Dương Thành.
1. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến:
Bậc Tiểu học là bậc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh.
Đây là bậc cung cấp những tri thức ban đầu về tự nhiên, xã hội, trang bị những
phương pháp kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn bồi
dưỡng tình cảm thói quen và đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam. Trong các
môn học ở Tiểu học đều có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Cùng với
những môn học khác môn Toán có vị trí rất quan trọng. Môn Toán giúp học sinh
Tiểu học phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng và phát triển những thao tác tư duy trí
tuệ cần thiết để nhận thức thế giới như: khái quát hoá, trừu tượng hoá. Nó rèn
luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn
đề,… giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duy học tập, linh hoạt, sáng tạo.
Đặc biệt toán có lời văn có một vị trí rất quan trọng trong chương trình toán phổ
thông.
Trong dạy - học Toán ở Tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan
trọng. Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy
động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong
nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu
ra một cách tường minh và trong chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động,

________________________________________________________________ 1

Điểm trung bình
SL
%
13
46,4

Điểm yếu
SL
%
4
14,3

Với những lý do đó, học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói
riêng, việc học toán và giải toán có lời văn là rất quan trọng và rất cần thiết. Từ đó
tôi đã lựa chọn và thực hiện sáng kiến "Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học
sinh lớp 5 ” để nghiên cứu, với mục đích là:
Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời
văn cho học sinh lớp 5 và hướng dẫn học sinh giải cụ thể một số bài toán, một số
dạng toán có lời văn ở lớp 5, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp
phần nâng cao chất lượng dạy - học giải toán có lời văn.
- Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực
hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập được vận dụng kiến thức và rèn
luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn.
- Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và
kỹ năng suy luận, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi.
Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc của người lao

______________________________________________________________ 3
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


______________________________________________________________ 4
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
huống gợi mở để học sinh tìm ra cách giải bài toán: Làm thế nào? tại sao?,…
c. Giải bài toán:
Đây là bước rất quan trọng bởi khi học sinh đã tìm ra được phép tính đúng
nhưng khi trình bày bài giải lại chưa hoàn chỉnh ( câu trả lời chưa đúng). Vì vậy
khi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải tôi đã hướng dẫn học sinh cần lưu ý dựa
vào phần tóm tắt bài toán để tìm ra câu trả lời đúng và ghi đúng danh số.
( dựa vào đề bài).
d. Thử lại:
Sau khi giải bài toán xong, tôi hướng dẫn học sinh thử lại.
3.1.3. Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải một bài toán có lời văn.
a. Dạy bài toán tìm số trung bình cộng:
Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:
- Tìm tổng.
- Chia tổng đó cho số các số hạng.
* Ví dụ:
Một vòi nước chảy vào bể. Giờ đầu chảy được
được

2
bể, giờ thứ hai chảy vào
15

1

15

Giờ hai:

1
bể
5

TB 1 giờ:... phần bể?
Bước 2: Lập kế hoạch giải:
Muốn tìm trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được bao nhiêu phần bể ta làm
thế nào? ( Ta lấy giờ đầu cộng giờ hai rồi chia cho 2)
Bước 3: Giải bài toán:
Bài giải
Trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được là:
((

2 1
1
+ ) : 2 = ( bể nước)
15 5
6

Đáp số:

1
bể
6

Bước 4: Thử lại.

Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
Bước 1: Tìm hiểu đề.
- Tôi hướng dẫn các em đọc đề toán nhiều lần để tìm hiểu các dữ liệu tường
minh của bài toán.
+) Bài toán cho biết gì? (Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng

7
số thứ hai)
9

+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)
- Tóm tắt bài toán:

Hãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán? ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bài
toán. Tỉ số của số thứ nhất và số thứ hai là

7
, nếu số thứ nhất là 7 phần thì số thứ
9

hai sẽ là 9 phần như thế )
Bước 2: Lập kế hoạch giải.
- Làm thế nào để tìm được hai số đó? ( Tính tổng số phần bằng nhau, sau đó
tìm số thứ nhất số thứ hai)
- Dựa vào sơ đồ em có thể tìm số nào trước ?
( số thứ nhất hoặc số thứ hai trước đều được).
- Em tìm số thứ nhất bằng cách nào? ( tính tổng số phần sau đó lấy tổng chia
cho tổng số phần rồi nhân với số phần biểu thị số đó).


Cách 2 : Ta có sơ đồ
Số thứ hai

80

Số thứ nhất
?

Theo sơ đồ, số thứ hai là:
80 : ( 9 + 7 ) x 9 = 45
Số thứ nhất là:
80 - 45 = 35
Đáp số: Số thứ hai: 45
Số thứ nhất: 35
Bước 3: Thử lại.
Tổng số thứ nhất và số thứ hai là: 35 + 45 = 80
Tỷ số giữa số thứ nhất và số thứ hai là:

35 7
=
45 9

c. Dạy bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
Đối với dạy toán này tôi cũng hướng dẫn các em làm bài toán theo bước:
- Xác định hiệu của 2 số .
- Xác định tỉ số của hai số.
- Tìm hiệu số phần bằng nhau.
- Tìm giá trị 1 phần .



9
, nếu số thứ nhất là 9 phần thì số thứ hai sẽ là 4 phần như thế )
4

Bước 2: Lập kế hoạch giải .
- Làm thế nào để tìm được hai số đó?
( Tính hiệu số phần bằng nhau, sau đó tìm số thứ nhất số thứ hai).
- Làm thế nào để tìm được số thứ hai
( Em hãy đi tìm giá trị của 1 phần rồi nhân với số phần biểu thị ).
- Em tìm giá trị 1 phần bằng cách nào?
( Lấy hiệu chia cho hiệu số phần).
- Tìm được số thứ hai, muốn tìm số thứ nhất em phải làm thế nào?
( Lấy số bé cộng với hiệu )
- Bài nào có thể có mấy cách giải ( 2 cách giải )

______________________________________________________________ 9
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
Bước 3: Giải bài toán.
Cách 1:
?

Ta có sơ đồ:
Số thứ hai:


Hiệu giữa 2 số là : 99 - 44 = 55

______________________________________________________________ 10
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
Tỉ số của số thứ nhất bằng

9
99 9
=
số thứ hai:
4
44 4

d. Dạy bài toán tìm tỉ số phần trăm:
* Dạy bài toán tìm tỉ số phần trăm của hai số.
Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:
- Tìm thương của hai số đó.
- Nhân thương đó với 100, viết thêm kí hiệu % vào bên phải tích tìm được.
* Ví dụ: Một lớp học có 25 học sinh, trong đó có 13 học sinh nữ. Hỏi số học
sinh nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh của lớp đó?
( Bài 3 trang 75 - SGK Toán 5 )
Bước 1: Tìm hiểu đề.
- Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.
- Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.
+) Bài toán cho biết gì?

* Dạy bài toán tìm một số phần trăm của một số.
Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:
- Lấy số đó chia cho 100.
- Nhân thương đó với số phần trăm.
Hoặc:

- Lấy số đó nhân với số phần trăm
- Nhân tích đó với 100.

* Ví dụ :
Một lớp học có 32 học sinh, trong đó số học sinh 10 tuổi chiếm 75%, còn lại
là học sinh 11 tuổi. Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó.
(Bài 1 - trang 77 - SGK Toán 5)
Bước 1: Tìm hiểu đề.
- Tôi hướng dẫn học sinh đọc đề toán nhiều lần, nhấn mạnh những dữ kiện
cho trước và yếu tố cần tìm.
+) Bài toán cho biết gì? ( lớp học có 32 học sinh, số học sinh 10 tuổi chiếm
75% còn lại là HS 11 tuổi).
+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó)
- Tóm tắt bài toán:
Lớp học: 32 học sinh
HS 10 tuổi: 75%
HS 11 tuổi:... học sinh
Bước 2: Lập kế hoạch giải:

______________________________________________________________ 12
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

- Lấy tích chia cho số phần trăm.
* Ví dụ: Số học sinh khá của trường Vạn Thịnh là 552 em, chiếm 92% số học sinh
toàn trường. Hỏi trường Vạn Thịnh có bao nhiêu học sinh?
(BT1 - trang 78 - SGK Toán 5 )

______________________________________________________________ 13
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
Bước 1: Tìm hiểu đề.
- Tôi hướng dẫn các em đọc đề toán nhiều lần để tìm hiểu các dữ liệu tường
minh của bài toán.
+) Bài toán cho biết gì? ( Số HS khá 552 em chiếm 92% số HS cả trường).
+) Bài toán yêu cầu tìm gì? ( Trường đó có bao nhiêu học sinh).
- Tóm tắt bài toán:
HS khá trường 552 em : chiếm 92% số HS toàn trường.
Trường: ... học sinh?
Bước 2 : Lập kế hoạch giải.
- Làm thế nào để tính được số HS của trường Vạn Thịnh?
( Tìm 1% số HS của trường là bao nhiêu em).
- Số HS khá chiếm 92% số HS toàn trường. Vậy số HS toàn trường là bao
nhiêu phần trăm? ( 100%)
- Tìm số HS toàn trường ta làm thế nào? ( lấy số HS của 1% nhân với 100)
Bước 3: Giải bài toán.
Bài giải
Trường Vạn Thịnh có số học sinh là:
552 × 100 : 92 = 600 ( học sinh)

có lời văn được gắn bó chặt chẽ với hạt nhân số học, tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa
các nội dung đó của môn Toán. Sự sắp xếp các nội dung trong mối quan hệ gắn
bó, hỗ trợ nhau với hạt nhân số học không làm mất đi hoặc mờ nhạt đi đặc trưng
của từng nội dung. Vì vậy ,dạy các yếu tố đại số,các yếu tố hình học,các đại lượng
cơ bản…vừa giúp cho việc chuẩn bị dạy học các nội dung có liên quan ở trung học
cơ sở ,vừa phục vụ cho dạy học nội dung trọng tâm của môn Toán ở Tiểu học. Đó
là sự thể hiện bước đầu quan điểm tích hợp cấu trúc nội dung môn Toán ở Tiểu
học.
Cấu trúc nội dung môn Toán ở Tiểu học quán triệt các tư tưởng của toán học
hiện đại và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh tiểu học. Sự phối
hợp hợp lí giữa số học với các đại lương cơ bản,yếu tố đại số,yếu tố hình học, giải
toán có lời văn là thể hiện tư tưởng coi trọng tính thống nhất của toán học.Việc
hình thành khái niệm số tự nhiên theo tinh thần của lí thuyết tập hợp và dần dần
______________________________________________________________ 15
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
hình thành các tính chất, đặc điểm của các phép tính… Căn cứ vào tâm sinh lí của
học sinh Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán cho phù hợp với từng giai đoạn
phát triển của học sinh.
3.3. Tính thực tiễn:
Ở học sinh lớp 5, kiến thức toán đối với các em không còn mới lạ, khả năng
nhận thức của các em đã được hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đã
bắt đầu có chiều hướng bền vững và đang ở giai đoạn phát triển. Học sinh đã có
vốn sống, vốn hiểu biết thực tế đã bước đầu có những hiểu biết nhất định. Tuy
nhiên trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các
bài toán có lời văn cao hơn những lớp trước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài

để giúp học sinh tiếp nhận kiến thức nhẹ nhàng, dễ hiểu và không có những sai lầm
đáng tiếc.
Ví dụ: Một khối kim loại có thể tích 3,2 cm3 cân nặng 22,4 g. Hỏi một khối kim
loại cùng chất có thể tích là 4,5 cm3 cân nặng bao nhiêu gam?
( Bài 3 trang 170 ).
Ở bài tập này, giáo viên phải yêu cầu học sinh chỉ ra được dạng toán có liên
quan đến “ quan hệ tỉ lệ” và sử dụng phương pháp giải “ rút về đơn vị”.
Đối với những dạng toán cơ bản, giáo viên cần cho học sinh nhận biết được
nó ngay sau khi phân tích đề bài để học sinh nhớ lại các bước giải dạng toán đó.
3.4. Tính hiệu quả:
Qua quá trình hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn theo hướng đi trên. Tôi
nhận thấy năm học 1013 - 2014 học sinh ở lớp 5B đã nắm chắc được trình tự giải
bài toán về Tìm số trung bình cộng; Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của
hai số đó; Bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó; Bài toán về tỉ số
phần trăm. Các em đã biết tóm tắt bài toán, biết tìm lời giải và phép tính đúng theo
yêu cầu của mỗi bài tập theo các dạng toán đã học. Kết quả học tập môn Toán được
nâng lên đáng kể.
Cụ thể như sau: ( Thông qua các bài khảo sát về giải toán có lời văn ở các thời
điểm trong năm học: 2013- 2014)
______________________________________________________________ 17
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
Thời
gian
kiểm
tra

SL

%

Giữa
kỳ I

28

0

0

2

7,1

11

39,3

8

28,6

7

25

Cuối


0

0

0

7

25

7

25

14

50

Cuối
kì II

28

0

0

0




Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
học sinh giải tốt các loại toán trên là một vấn đề đang đề cập tới. Vì ngoài việc
củng cố kĩ năng thực hiện các phép số học cần phải củng cố kĩ năng tiến hành các
bước giải thông qua việc tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. Ngoài ra, thông qua quá
trình tóm tắt và giải các loại toán này còn rèn luyện cho học sinh khả năng diễn đạt
bằng ngôn ngữ nói và viết. Bởi lẽ khi tham gia các loại toán này học sinh phải huy
động toàn bộ tri thức, kĩ năng, phương pháp về giải toán tiểu học gắn với cuộc
sống thực tiễn. Khi học sinh giải được các loại toán điển hình thì đó là một hoạt
động trí tuệ hết sức khó khăn và phức tạp. Giải toán là một phần quan trọng trong
chương trình giảng dạy môn Toán ở bậc Tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn
chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học, số tự nhiên, phân số, các số thập
phân, các đại lượng cơ bản, các yếu tố đại số và hình học có trong chương trình. Vì
vậy, việc giải toán có lời văn đem lại hiệu quả thiết thực, như sau:
+ Các khái niệm và các quy tắc trong sách giáo khoa nói chung đều được giảng
dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các
kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh
mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về
kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc phục.
+ Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện
thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách
thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết
trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc
sống.
+ Việc giải toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những
cơ sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật
biện chứng: việc giải toán với những nội dung thích hợp, có thể giới thiệu cho các

Điểm 3- 4

Điểm 1- 2

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

5

17,9

6



%

SL

%

SL

%

SL

%

8

28,6

10

35,7

10

35,7

0

0


SL

%

SL

%

SL

%

14

50

7

25

7

25

0

0

0

đang chủ nhiệm. Tôi thấy rằng: muốn học tốt môn Toán nhưng lại không có
phương pháp học đúng thì kết quả học toán sẽ không cao. Do vậy, muốn có
phương pháp học tốt phù hợp với môn Toán là rất cần thiết. Đặc biệt là ở lứa tuỏi
học sinh Tiểu học. Có kết quả môn Toán cao là nhờ biết kết hợp các phương pháp
học đúng, giúp học sinh hiểu bài nhanh và nhớ lâu. Do vậy, việc dạy toán có lời
văn một cách hiệu quả giúp các em trở thành những con người linh hoạt, sáng tạo,
làm chủ trong mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế hàng ngày. Những kết quả
mà tôi đã thu được trong quá trình nghiên cứu không phải là cái mới so với kiến
thức chung về môn Toán ở bậc Tiểu học, song lại là cái mới đối với bản thân tôi.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã phát hiện và cảm thấy cần nâng cao kỹ năng giải
toán có lời văn ở bậc Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng. Với sáng kiến
kinh nghiệm về: “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”, có thể đưa
vào áp dụng giảng dạy trong các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Phú Bình.
7. Mục đích và những điểm khác biệt được áp dụng của sáng kiến:
Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì
các em cần phân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa
các dữ kiện giữa cái đã cho và cái phải tìm; Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút
ra những kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra.
Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý chí vượt
khó, tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói
quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo v.v...
Để đạt được mục đích trên, giáo viên phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc
phép tính, các thuật ngữ,…( chuẩn bị cho học giải toán)
- Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải toán.

______________________________________________________________ 22
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.



______________________________________________________________ 23
Nguyễn Văn Trường- Đơn vị: Trường Tiểu học Dương Thành, Phú Bình, Thái Nguyên.


Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5”

__________________________________________________________________
Sau khi học sinh đã giải được bài toán thì học sinh phải có khả năng khái quát và
rèn luyện năng lực giải toán. Giáo viên có thể tiến hành hoạt động này như sau:
+ Yêu cầu học sinh tìm cách giải khác cho bài toán.
+ Đưa một vài đề toán thiếu hoặc thừa dữ kiện hoặc điều kiện của bài toán
+ Tổ chức cho học sinh lập đề toán tương tự với bài toán đã giải hoặc lập bài
toán ngược với bài toán đã giải.
+ Rèn luyện cho học sinh có kĩ năng lập bài toán dựa vào tóm tắt hoặc dựa vào
lời giải.
8. Thời gian thực hiện sáng kiến:
Sáng kiến: “ Rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5”, tôi mới áp
dụng và thực nghiệm giảng dạy trong năm học 2013- 2014 vừa qua.
9. Kiến nghị, đề xuất:
+ Đối với nhà trường: Nhà trường cần có đủ sách tham khảo cho giáo viên và
học sinh về môn Toán. Thường xuyên có những buổi sinh hoạt chuyên môn bàn về
cách dạy, cách học các dạng toán tiểu học, nhất là toán có lời văn để giáo viên và
học sinh có nhiều cơ hội tiếp xúc để được học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm nhằm nâng
cao chất lượng dạy học môn toán nói chung và các dạng toán hay, toán khó nói
riêng.
+ Đối với tổ chuyên môn: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề về giải toán
Toán. Giáo viên trong khối đưa ra các đề bài toán để các thành viên thảo luận, đưa
ra các cách giải và tìm ra một cách giải ngắn gọn, dễ hiểu đối với học sinh.
+ Đối với giáo viên: Trước khi lên lớp phải nghiên cứu kỹ bài giảng, tìm ra
phương pháp dạy phù hợp với từng bài học. Tạo không khí học tập sôi nổi, lôi

2014.
Ngi bỏo cỏo:

Nguyễn Văn Trờng.

______________________________________________________________ 25
Nguyn Vn Trng- n v: Trng Tiu hc Dng Thnh, Phỳ Bỡnh, Thỏi Nguyờn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status