Một số giải pháp hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn trong chương trình toán 3 - Pdf 34

1. Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐÊ
Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với các môn
học khác trong nhà trường tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào
tạo nên những con người phát triển toàn diện, rèn luyện phương pháp suy luận, suy
nghĩ, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ
độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh. Mặc khác các kiến thức, kĩ năng môn toán
( trong đó bao gồm cả toán có lời văn) ở tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời
sống thực tế. Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình Toán ở
tiểu học. Các em còn được làm quen với các bài toán có lời văn ngay từ lớp Một
và xuyên suốt quá trình học của các em tới lớp 5.
Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán
được thông qua những câu văn nói có liên quan tới cuộc sống xảy ra hàng ngày.
Điều quan trọng nhất để giải được bài toán là phải hiểu và tìm được các mối
quan hệ của bài toán cho và yêu cầu cần phải tìm trong bài toán, để tìm được
những câu lời giải đúng và phép tính chính xác.
Qua quá trình dạy học nhiều năm ở tiểu học, được trực tiếp thâm nhập vào
quá trình học toán của học sinh nhất là học sinh lớp 3, tôi nhận thấy đa phần
những hạn chế trong kĩ năng giải toán của học sinh bắt nguồn từ những nguyên
sau:
+ Học sinh đọc đề vội vàng, không chịu phân tích kĩ đề toán khi đọc đề.
+ Học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán, chưa
xác định các kiểu tóm tắt đề toán khác nhau phụ thuộc vào từng dạng bài cụ thể.
+ Học sinh chưa có kĩ năng phân tích , tư duy khi gặp những bài toán phức
tạp.
Hầu hết, các em làm bài toán chỉ làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể
mà các em thường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy
luận một chút các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ.
+ Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm tra lại bài giải, dẫn
đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan của bản thân.




Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các
phương pháp giải toán, được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên tôi
nghĩ chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
* Bước 3: Phân tích bài toán.
* Bước 4: Viết bài giải.
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Trong những năm tôi trực tiếp giảng dạy lớp 3 và quan sát học sinh giải
toán, tôi thấy các em có một thói quen không tốt là: đọc không kĩ đề bài và giải
bài toán ngay. Nên mỗi bài toán tôi yêu cầu học sinh đọc ít nhất 3 lần, nhằm mục
đích giúp các em nắm được 3 yếu tố cơ bản:
+ Những “dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đề bài.
+ Những “điều kiện” là mối quan hệ giữa cái đã cho với cái cần tìm.
+ “Những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm.
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các
yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện
cần thiết liên quan đến cái cần tìm. Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề bài
toán là đã làm ngay.
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán
đang làm.
Bước 2: Tóm tắt đề toán:
Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài
toán gọn lại. Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào
tóm tắt ấy mà nhắc lại được đề toán.
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được

? lớt
i vi nhng bi toỏn dng Bi toỏn liờn quan n rỳt v n v thỡ tụi
hng dn hc sinh nờn túm tt bng li gii.
* Vớ d 3: Có 35 l mật ong chia đu vào 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật
ong?
Túm tt:

7 can: 35 lớt


1 can:… lít?
Bước 3: Phân tích bài toán:
Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài để tìm ra cách
giải bài toán. Cho nên ở bước này tôi đã sử dụng phương pháp phân tích bài toán
theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường:
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
- Cái này biết chưa?
- Còn cái này thì sao?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Hay làm thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em
nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán tốt hơn.
Khi phân tích cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “phép
chia” nếu bài toán yêu cầu “ tìm

1
...”. Chọn “ phép trừ” nếu bài toán cho có
4


+ Kim tra cỏc bc gii xem ó hp lớ vi yờu cu ca bi toỏn cha, cỏc
cõu vn din t trong li gii ỳng cha.
+ Th li cỏc kt qu va tớnh t bc u tiờn.
+ Th li kt qu, ỏp s, xem ó phự hp vi yờu cu ca bi cha.
i vi hc sinh gii, giỏo viờn cú th hng cỏc em nhỡn li ton b bi gii,
tp phõn tớch cỏh gii, ng viờn cỏc em tỡm cỏc cỏch gii khỏc, to iu kin
phỏt trin t duy linh hot, sỏng to, suy ngh c lp ca hc sinh.
*Hng dn hc sinh gii mt s bi toỏn c th :
Khi tin hnh hng dn hc sinh luyn tp qua tng bi, tụi thng xuyờn
thay i hỡnh thc luyn tp. õy l mt vi vớ d tôi đã tiến hành dạy ở trên lớp
theo phơng pháp và hình thức nh sau:
Vớ d 1: Cú hai can ng nc mm, can th nht ng 36 lớt. Can th hai
ng nhiu hn can th nht 3 lớt. Hi ca hai can ng bao nhiờu lớt nc mm
*Hng dn hc sinh c ky toỏn:


*Hướng dẫn học sinh Tóm tắt:
- Bài toán cho biết gì? (Có hai can đựng nước mắm, can thứ nhất đựng 36 lít.
Can thứ hai đựng nhiều hơn can thứ nhất 3 lít. )
- Bài toán hỏi gì? (Hỏi cả hai can đựng bao nhiêu lít nước mắm ?)
- Dựa vào đề bài tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt theo sơ đồ đoạn thẳng như
sau:
- Can thứ nhất đựng 36 lít nước mắm thì ta vẽ 1 đoạn thẳng tương ứng với 36
lít nước mắm.
- Can thứ hai đựng nhiều hơn can thứ nhất thì ta vẽ 1 đoạn thẳng dài hơn đoạn
thẳng trên 1 đoạn ứng với 3 lít nước mắm.
*Tóm tắt bằng sơ đồ được thể hiện như sau:
Tóm tắt
36 lít
Can thứ nhất

36 + 39 = 75 (lít)
Đáp số : 75 lít nước mắm
Trong bài tốn này, tơi chú ý cho học sinh các từ ngữ quan trọng “ đựng
nhiều hơn”, “cả hai” để khi gặp những bài tập tương tự như vậy các em sẽ
biết cách làm ngay.
Ví dụ 2 : Có hai can đựng nước mắm, can thứ nhất đựng 36 lít. Can thứ hai
đựng gấp 3 lần sớ lít nước mắm của can thứ nhất. Hỏi can thứ hai đựng bao
nhiêu lít nước mắm ?
* Hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề tốn:
Trước tiên tơi u cầu các em phải đọc kó đề toán và nêu được:
+ Bài toán cho biết gì ? (Có hai can đựng nước mắm, can thứ nhất đựng 36
lít. Can thứ hai đựng gấp 3 lần số lít nước mắm của can thứ nhất. )
+ Bài tốn hỏi gì? (Hỏi can thứ hai đựng bao nhiêu lít nước mắm ?)
* Hướng dẫn học sinh tóm tắt:
Dựa vào đề bài tơi hướng dẫn học sinh tóm tắt theo sơ đờ đoạn thẳng như
sau:
- Can thứ nhất đựng 36 lít nước mắm thì ta vẽ 1 đoạn thẳng tương ứng với 36
lít nước mắm .
- Can thứ hai đựng gấp 3 lần số lít nước mắm của can thứ nhất thì ta vẽ 1
đoạn thẳng dài gấp 3 lần đoạn thẳng ứng với can thứ nhất.
Tóm tắt bằng sơ đờ được thể hiện như sau:


Túm tt:
36 L
Can th nht
Can th hai
? lớt
* Hng dn phõn tớch :
gii c bi toỏn, tụi yờu cu HS phõn tớch bt u t bi toỏn hi gỡ?

có trong 1 đĩa nhân với 6). GV yêu cầu 1 học sinh tóm tắt và giải bài toán
( bảng phụ) , cả lớp làm vào vở.
+ Học sinh trình bày lại bài giải. Cả lớp và giáo viên kiểm tra, nhận xét,
sửa chữa, bổ sung .
Bài giải:
Số quả táo có trong mỗi đĩa là:
24 : 4 = 6 ( quả)
Số quả táo có trong 6 đĩa là :
6 x 6 = 36 ( quả)
Đáp số: 36 quả táo.
Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị: ( Bước tìm số quả
táo trong 1 đĩa gọi là bước rút về đơn vị).
* Hướng dẫn HS củng cố dạng toán liên quan đến rút về đơn vị: (kiểu bài 1)
Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:
+ Bước 1: Tìm giá trị 1 đơn vị (giá trị 1 phần trong các phần bằng nhau, ta
thực hiện phép chia), (đây là bước rút về đơn vị).
+ Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại (giá trị của nhiều phần
bằng nhau, ta thực hiện phép nhân).
+ Học sinh áp dụng các bài toán tương tự:
+ GV nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng:
3 túi : 45 kg
12 túi : ...? kg.

Hoặc: 4 thùng : 20 gói
5 thùng : …? gói.


+ HS nêu kết quả và giải thích cách làm. GV nhận xét, sửa chữa.
b) Kiểu bài 2:
Ví dụ 2: Có 30 kg đường đựng đều trong 6 túi. Hỏi có 35 kg đường thì

phương pháp hơn. Đặc biệt khi xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với cách
giải ở kiểu bài 1. Cho nên, chúng ta phải hướng dẫn học sinh cách kiểm tra,
đánh giá kết quả bài giải (thử lại theo yêu cầu của bài).
Tóm lại: Trên đây là phương pháp hướng dẫn các em học sinh lớp 3 giải một
số dạng bài toán có lời văn. Tôi tin rằng nếu chúng ta làm được như vậy thì các
em nắm được phương pháp giải dạng toán này tốt hơn, chắc chắn hơn, tránh
được những sai sót có thể xảy ra. Các em sẽ có được tinh thần phấn khởi, tự tin
khi giải toán.
* Kết quả nghiên cứu:
Trong suốt quá trình quan sát học sinh giải toán, tôi nhận thấy các em rất
thích giải toán khi các em có đủ vốn kiến thức và phương pháp giải toán. Các
em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em được thầy cô nhiệt tình hướng dẫn
với phương pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhất. Với phương pháp này tôi đã trang
bị cho các em vốn kiến thức, phương pháp cơ bản để các em giải các bài toán
có lời văn không nhần lẫn, sai sót dẫn đến chất lượng học của các em được
nâng lên rõ rệt. Qua khảo sát cuối năm học tôi thu được kết quả như sau :
Tổng số
học sinh
26

1 -> 4 điểm
SL
%
0
0

5 -> 6 điểm
SL
%
5

Cho nên dạy học là cả một nghệ thuật, bên cạnh việc truyền đạt kiến thức,
kĩ năng cho học sinh. Người giáo viên phải tạo được hứng thú học tập cho các
em, để các em thêm yêu trường, yêu lớp, yêu thích các môn học và nhất là môn
toán. Học sinh không còn cảm thấy ngại học , chán nản mà say mê , háo hức mỗi
khi đến giờ học Toán trên lớp
3. Phần thứ ba:
KẾT LUẬN CHUNG
Ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành phương pháp trên để hướng dẫn giải các
bài toán có lời văn. Chính vì vậy, các em đã nhanh chóng nắm được cách giải,
các em biết phân tích để thấy được sự giống nhau, khác nhau khi thực hiện bài
giải, đặc biệt là các em biết nhận dạng từng dạng toán một cách thành thục, có kĩ
năng, kĩ xảo tốt hơn. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế. Tuy
nhiên vận dụng có hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào khả năng truyền đạt
của giáo viên. Theo tôi kĩ năng thực hành của giáo viên là yếu tố quan trọng
nhằm rèn luyện năng lực thực hành cho học sinh, để học sinh đạt được kết quả
cao trong học tập. Ngoài kinh nghiệm giảng dạy, người giáo viên luôn luôn theo
dõi những tiến bộ trong học tập của học sinh, từ đó có thể cải tiến, điều chỉnh
hoạt động dạy học cho phù hợp và có hiệu quả .
Trên đây là một số giải pháp giúp học sinh giải tốt dạng toán có lời
văn mà bản thân tôi đã nghiên cứu , vận dụng đối với học sinh lớp tôi phụ trách
và phần nào cũng đã có hiệu quả. Tôi thiết nghĩ với phạm vi thực hiện còn hạn
hẹp nên những giải pháp tôi trình bày ở trên không tránh khỏi những khiếm


khuyết .Kính mong được đón nhận những ý kiến góp ý chân thành của các đồng
nghiệp giúp giải pháp trên của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm
ơn!
Thị trấn Mai Châu, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Người viết



* Bước 2: Tóm tắt đề toán

Trang 3 - 4

* Bước 3: Phân tích bài toán

Trang 5

* Bước 4: Viết bài giải

Trang 6

* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh gía cách giải

Trang 6

* Hướng dẫn học sinh giải một số bài toán cụ thể.

Trang 6 - 12

* Kết quả nghiên cứu.

Trang 12 - 13

3. Phần thứ ba : Kết luận chung.

Trang 13



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status