ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN TRỌNG HỘI
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN BỘ KIT PCR 16 GEN GẮN
HUỲNH QUANG ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU DÂN
TỘC HỌC VÀ GIÁM ĐỊNH GEN
Chuyên ngành : Di truyền học
Mã số : 62420121
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
1
Hà Nội - 2015
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Trịnh Đình Đạt
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Hà
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
hệ gen người [44] và bộ CODIS 13 locus STR lõi do FBI (Mỹ) lựa chọn là bộ locus STR trên
NST thường được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay [67].
Mặt khác, công nghệ phân tích STR trên thế giới phát triển cũng rất đa dạng, bao gồm:
Điện di gel polyacrlamide biến tính-nhuộm bạc [27, 99]; đánh dấu huỳnh quang-điện di mao
quản [35, 85]; điện di mao quản vi mạch sử dụng microchip [74, 76, 101]; phân tích bằng khối
phổ (mass spectrometry) [38, 39] và công nghệ pyrosequencing (giải trình tự bằng tổng hợp)
[53, 56, 100]. Tuy nhiên, kỹ thuật đánh dấu huỳnh quang-điện di mao quản là công nghệ đã
được nghiên cứu hoàn thiện và được sử dụng rộng rãi trong các PTN phân tích ADN hình sự
trên thế giới với những ưu điểm: độ nhạy và chính xác cao; thời gian phân tích mẫu nhanh
(được tính bằng phút); việc phân tích mẫu được thực hiện một cách tự động và có thể phân tích
với quy mô số lượng mẫu lớn (xây dựng tàng thư ADN) [35].
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích STR trong nhận dạng cá thể
người cũng đã được phát triển mạnh mẽ từ những năm 2000 đến nay với những nghiên cứu về
tối ưu điều kiện PCR đa mồi cho các locus STR (từ 2- 4 locus), xây dựng thang alen cho các
locus STR (2-3 locus), chế tạo các bộ kit PCR (3-4 locus STR) và sử dụng kỹ thuật điện di gel
polyacrylamide biến tính-nhuộm bạc để phát hiện các alen STR [1-3, 7, 9-12]. Bên cạnh đó,
việc nghiên cứu khảo sát tần suất alen của các locus STR cũng được thực hiện trên dân tộc
người Mường (N=107, với ba locus D5S818-D13S317-D7S820) [5] và người Kinh [8, 13]. Tuy
nhiên, kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu thăm dò ban đầu, các dữ liệu
tần suất alen và các chỉ số thống kê nhận dạng cá thể người chưa phản ánh đầy đủ cho các quần
thể nghiên cứu. Mặt khác, công nghệ phân tách và phát hiện các alen STR được sử dụng trong
các nghiên cứu này chủ yếu là dùng kỹ thuật điện di gel polyacrylamide biến tính-nhuộm bạc
còn có nhiều mặt hạn chế như: Độ nhạy và chính xác chưa cao; thời gian phân tích mẫu lâu
3
(được tính bằng ngày); việc phân tích mẫu không thực hiện tự động được và kết quả phân tích
mẫu phụ thuộc rất nhiều vào thao tác cũng như kinh nghiệm của người làm thí nghiệm.
Xuất phát từ những lý do trên, việc thực hiện luận án “Nghiên cứu hoàn thiện bộ kit
PCR 16 gen gắn huỳnh quang ứng dụng trong nghiên cứu dân tộc học và giám định gen” là
nghiên cứu chính. Đó là:
1. Nghiên cứu di truyền quần thể ở người Kinh (N=300) sống ở khu vực Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh, thu được 173 alen/15 locus; người Mường (N=104) sống ở tỉnh Hòa
Bình, thu được 132 alen/15 locus và người Khmer (N=110) sống tỉnh Sóc Trăng, thu
được 145 alen/15 locus. Kết quả nghiên cứu này đã bổ sung vào CSDL 15 locus STR
nghiên cứu ở quần thể người Việt Nam là 32 alen mới so với kết quả nghiên cứu trước
4
đây của tác giả Shimada và các đồng nghiệp [103]. Kết quả nghiên cứu cũng đã xây
dựng được cây phả hệ di truyền theo phương pháp neighbor-joining bằng phần mềm
POPTREE 2 [109] dựa trên dữ liệu tần suất alen của 13 locus thuộc bộ CODIS 13 locus
STR lõi (do FBI-Mỹ lựa chọn) của 3 quần thể nghiên cứu và 14 quần thể tham khảo.
Cây phả hệ này, đã phản ánh được mối quan hệ di truyền giữa 3 quần thể nghiên cứu với
14 quần thể khác nhau trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được người Kinh và
người Mường có quan hệ gần gũi với nhau hơn so với người Khmer dựa trên giá trị
khoảng cách di truyền chuẩn của Nei (DST).
2. Phân tích ADN nhận dạng cá thể người (giám định ADN) tại Việt Nam bằng việc truy
nguyên cá thể người từ các dấu vết sinh phẩm thu được tại hiện trường của một số vụ án
(dấu vết máu và tinh trùng) với độ tin cậy cao (≥ 99,999999999999999985%); truy tìm
tung tích nạn nhân từ mẫu răng cửa của tử thi nạn nhân qua mối quan hệ huyết thống
mẹ-con với xác suất quan hệ là 99,999%; đã xây dựng được 9/10 hồ sơ ADN cá nhân
của 10 đối tượng cần kiểm soát an ninh (KSAN) và đã làm được 1.000 thẻ ADN cá nhân
thử nghiệm phục vụ công tác an ninh và dân sinh.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các locus STR sử dụng trong nghiên cứu di truyền quần thể và phân tích ADN hình
sự
Ngày nay, người ta đã phát hiện ra trong hệ gen người có chứa rất nhiều trình tự ADN lặp
lại. Những trình tự lặp lại này thường nằm giữa các gen, chúng có thể khác nhau về kích thước
các thuốc nhuộm huỳnh quang để đánh dấu ở đầu 5' của một mồi PCR (mồi xuôi hoặc mồi
ngược). Quá trình đánh dấu này, được thực hiện ngay từ khi đặt tổng hợp mồi. Sau đó, sử dụng
các mồi này để PCR nhân bội các locus STR tương ứng sẽ tạo các sản phẩm PCR được đánh
dấu [85]. Các sản phẩm PCR này, được điện di phân tách trên hệ thống điện di mao quản. Hai
sợi ADN được phân tách ra trong quá trình điện di và chỉ sợi ADN được đánh dấu sẽ được phát
hiện bằng thiết bị phát hiện huỳnh quang chuyên dụng [35] (xem Hình 1.7).
Argon ion
LASER
(488 nm)
Phân tách theo
kích thước
3. Phân tách mẫu
ABI Prism
spectrograph
Huỳnh
quang
Phân tách các
màu
Mao
quản
(chứa CCD Panel (với các kính lọc)
dung dịch
4. Phát hiện mẫu
polymer)
vWA, D8S1179, TPOX và FGA) và locus Amelogenin xác định giới tính để nghiên cứu. Công
nghệ được sử dụng trong luận án để phân tách và phát hiện các alen STR này là đánh dấu huỳnh
quang-điện di mao quản trên hệ thống máy 3130 Genetic Analyzer (Applied Biosystems, Foster
City, CA) đang được sử dụng phổ biến ở các PTN phân tích ADN tại Việt Nam.
Trong luận án này, vấn đề nghiên cứu thứ nhất được đặt ra: Nghiên cứu chế tạo bộ kit
PCR 16 locus gắn huỳnh quang trên hệ thông điện di mao quản. Để giải quyết được vấn đề
nghiên cứu thứ nhất này, các nội dung công việc đã được thực hiện, bao gồm: Tối ưu điều kiện
PCR đa mồi cho 16 cặp mồi gắn huỳnh quang; Xây dựng thang alen cho 16 locus nghiên cứu
và Nghiên cứu chế tạo bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh trên hệ thống điện di mao quản.
Sau khi vấn đề nghiên cứu thứ nhất được giải quyết, vấn đề nghiên cứu thứ hai của
luận án được đặt ra là: Ứng dụng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang trong nghiên cứu di
truyền quần thể ở ba dân tộc người Việt Nam. Ba dân tộc được lựa chọn trong nghiên cứu này
là người Kinh sống ở khu vực Hà Nội (6.370.244 người) [126] và thành phố Hồ Chí Minh
(6.699.124 người) [126]; người Mường sống ở tỉnh Hòa Bình (501.956 người) [126] và người
Khmer sống ở tỉnh Sóc Trăng (397.014 người) [126]. Lý do để lựa chọn ba dân tộc nghiên
cứu là: (1) Xuất phát từ nhiệm vụ của đơn vị; (2) Ba dân tộc nghiên cứu đều là các dân tộc
chính và có dân số lớn ở Việt Nam (người Kinh có dân số 73.594.427 người, người Mường có
dân số 1.268.963 người và người Khmer có dân số 1.260.640 người [126]); (3) Hiện nay, dựa
trên ngôn ngữ sử dụng, 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được chia
thành 8 nhóm dân tộc chính, trong đó người Kinh và người Mường đều thuộc nhóm ViệtMường (Vietic) còn người Khmer thuộc nhóm Môn-Khmer (Austroasiatic) [127, 128]. Điều
này cũng cần phải được kiểm chứng dựa trên các bằng chứng khoa học khác.
Các nội dung nghiên cứu đã được thực hiện để giải quyết vấn đề nghiên cứu thứ hai này,
bao gồm: Khảo sát tần suất alen cho 15 locus STR nghiên cứu trong ba quần thể người Kinh,
người Mường và người Khmer bằng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang và So sánh mối
quan hệ di truyền giữa ba quần thể nghiên cứu với một số quần thể tham khảo khác nhau trên
thế giới bằng cây phả hệ di truyền.
Sau khi vấn đề thứ hai được giải quyết, vấn đề nghiên cứu thứ ba còn lại của luận án
đƣợc đặt ra là: Ứng dụng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang trong phân tích ADN nhận cá
thể người (giám định ADN) tại Việt Nam. Để giải quyết được vấn đề thứ ba còn lại này, các nội
dung nghiên cứu đã được thực hiện như sau: Ứng dụng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang
2.1.2. Bộ 16 locus nghiên cứu
Bộ 16 locus nghiên cứu bao gồm 15 locus STR nằm trên NST thường (D3S1358, TH01,
D21S11, D18S51, Penta E, D5S818, D13S317, D7S820, D16S539, CSF1PO, Penta D, vWA,
D8S1179, TPOX và FGA) và locus Amelogenin để xác định giới tính.
2.1.3. Bộ 16 cặp mồi PCR gắn huỳnh quang
Được nêu ở Bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1. Kết quả đặt tổng hợp 16 cặp mồi PCR gắn huỳnh quang [83] (Nguồn: IDT, 2012).
Mồi
D3_F
D3_R
TH_F
TH_R
D21_F
D21_R
D18_F
D18_R
PeE_F
PeE_R
D5_F
D5_R
D13_F
D13_R
Mồi
D7_F
D7_R
D16_F
D16_R
CSF_F
CSF_R
PeD_F
AGCCACAGTTTACAACATTTGTATCT
34,6
ATTACAGAAGTCTGGGATGTGGAGGA Bảng42,6
2.1.
GGCAGCCCAAAAAGACAGA
52,6
Trình
tự nucleotide
GC
ATGTTGGTCAGGCTGACTATG
47,6
(5’>>>>>>>3’)
(%)
GATTCCACATTTATCCTCATTGAC
GGGGGTCTAAGAGCTTGTAAAAAG
GTTTGTGTGTGCATCTGTAAGCATGTATC
CCGGAGGTAAAGGTGTCTTAAAGT
ATTTCCTGTGTCAGACCCTGTT
GAAGGTCGAAGCTGAAGTG
ATTAGAATTCTTTAATCTGGACACAAG
37,5
45,8
41,3
8
45,8
45,5
52,6
Tm
OH
55,8 Đầu
JOE
Tm
5’
o
JOE
(54,6
C)
51,9
OH
55,5
OH
58,2
JOE
56,4
JOE
56,3
OH
53,3
JOE
Tinh
sạch
HPLC
HPLC
HPLC
HPLC
HPLC
HPLC
(nmol)
40,3
23,5
28,1
31,7
39,2
17,2
19,6
45,3
37,1
17,0
MW
(g/mol)
5.803
7.000
6.916
6.750
6.718
8.497
6.669
8.182
7.980
10.678
7,2
3,4
12,0
3,0
OD
7.237
7.505
9.611
8.123
6.667
6.608
OD260
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng 2 nhóm phương pháp nghiên cứu chính như sau:
2.2.1. Các phương pháp sinh học phân tử
2.2.1.1. Tách chiết ADN hệ gen người bằng Chelex [118]
2.2.1.2. Tách chiết ADN hệ gen người bằng phương pháp “salting out”
2.2.1.3. Tách chiết ADN hệ gen người từ mẫu xương bằng kit DNA IQ Systems
2.2.1.4. Định lượng ADN bằng máy quang phổ Nanodrop
2.2.1.5. Phương pháp tối ưu phản ứng PCR đa mồi [81, 83, 89]
2.2.1.6. Phương pháp xây dựng thang alen bằng PCR đa mồi
2.2.1.7. Phương pháp chế tạo kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang trên hệ thống điện di mao
quản
2.2.1.8. Phương pháp PCR sử dụng kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang
2.2.1.9. Kỹ thuật điện di mao quản trên hệ thống máy 3130 Gentic Analyzer
2.2.2. Các phương pháp tin sinh học và xử lý số liệu bằng phần mềm
2.2.2.1. Kiểm tra mồi bằng phần mềm FastPCR, OligoAnalyzer và BLAST
2.2.2.2. Phân tích kiểu gen bằng phần mềm GenMapper® ID
2.2.2.3. Xử lý dữ liệu thống kê bằng phần mềm EasyDNA_PopuData
2.2.2.4. Xây dựng cây phả hệ di truyền bằng phần mềm POPTREE 2
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả nghiên cứu chế tạo bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh trên hệ thống điện di mao
(5unit/l)
ADN 9947A (0,2 - 2,0 ng)
Nước deion-không có nuclease
Tổng thể tích (l)
1,4
2,0
0,6
1,75mM
1,0X
1,0
9,7
20,0
0,2 - 2,0 ng
-
3,0 unit
3.1.1.2. Kết quả tối ưu chu trình nhiệt PCR đa mồi
Từ các kết quả tối chu trình nhiệt cho phản ứng PCR đa mồi cho 16 cặp mồi gắn huỳnh
quang, luận án đã lựa chọn được chu trình nhiệt tối ưu là: 96 oC - 2 phút; (94 oC - 1 phút; 60
o
C - 1 phút; 72 oC - 1 phút) x 30 chu kỳ; 60 oC - 30 phút và giữ ở 15 oC.
3.1.2. Kết quả xây dựng thang alen cho 16 locus nghiên cứu
Sau khi xây dựng được thang alen cho 16 locus nghiên cứu (thực hiện theo phương pháp
PTN phân tích ADN của Viện Khoa Học Hình Sự - Bộ Công an và Viện Pháp Y Quân Đội - Bộ
Quốc phòng. Kết Hình
quả thử
đánh giá
cho
Bộ kit
PCR 16
gắnquang
huỳnh quang (có
3.2.nghiệm
Mô tả thành
phần
bộthấy:
kit PCR
16 locus
gắnlocus
huỳnh
ký hiệu KIT PCR HQ 16 plex) có chất lượng tốt với độ nhạy, độ đặc hiệu cao, có thể sử dụng
tốt cho việc giám định ADN theo công nghệ đánh dấu huỳnh quang-điện di mao quản, cụ thể
như sau:
- KIT PCR HQ 16 plex có nhạy và độ đặc hiệu tương đương với các bộ kit thương mại
cùng loại đang được sử dụng ở Việt Nam hiện nay (PowerPlex 16 HS System và
AmpFlSTR Identifiler PCR amplification) trên cùng mẫu ADN thử nghiệm là 9947A
với dải nồng độ: 0,2 - 0,5 - 1,0 - 2,0 (ng/20l phản ứng).
- Khả năng sử dụng của KIT PCR HQ 16 plex trong phân tích kiểu gen nhận dạng cá thể
người được thử nghiệm đối với 5 mẫu ADN có nồng độ từ 0,5 đến 1,0 (ng/l) và 2 mẫu
đối chứng (chứng dương sử dụng 9947A và chứng âm sử dụng nước deion diH2O) đều
cho kết quả phân tích kiểu gen chính xác.
- Bộ KIT PCR HQ 16 plex hoàn toàn tương thích với hệ thống máy 3130 Genetic
Analyzer và phân tích kiểu gen bằng phần mềm phân tích kết quả GeneMapper ID
D13S317
D7S820
D16S539
CSF1P0
Penta_D
vWA
D8S1179
TPOX
FGA
5
6
7
8
9
9.1
9.3
10
11
12
13
13.2
33.2
34.2
--0,002
----0,057
----------0,002
----------0,135
----------------0,002
----------0,31
----0,002 0,037 0,003
0,01
--0,01
0,03
----0,003
----0,073
----0,002 0,002 0,315 0,138 0,002 0,002 0,087
--0,002
0,55
----0,397
--0,002 0,015 0,048 0,127
0,05
0,225
0,04
0,307
--0,003
0,115
----------------0,005
----------------0,04
----------------------------0,04
--0,002 0,037 0,241 0,147 0,165 0,132 0,202 0,155
--0,002
0,210
----0,077 0,067
----------0,002 0,257 0,015
--0,003
0,060
----0,037 0,048
------------0,173 0,002
--0,017
0,012
----0,037
0,04
------------0,095
----0,092
------0,025
0,02
------------0,02
----0,053
------0,017 0,015
------------0,003
----0,122
----------------------------0,012
------0,005 0,012
------------------0,17
----------------------------0,012
------0,007 0,008
------------------0,131
----------------------------0,022
------0,002 0,007
------------------0,151
OH
0,709
0,72
0,82 0,857 0,885
0,78
0,793 0,753 0,789 0,734 0,821 0,791 0,856
0,605
0,889
EH
0,026 0,026 0,022 0,02
0,018 0,024 0,023 0,025 0,024 0,026 0,022 0,023
0,02
0,028
0,018
EH_SE
0,862 0,877 0,945 0,964 0,978 0,917 0,927 0,905 0,923 0,885 0,947 0,925 0,962
0,786
0,978
PD
0,450 0,474 0,65 0,719 0,774 0,574 0,599 0,532 0,591 0,494 0,653 0,594 0,716
0,308
0,78
PE
5,18
3,36
3,48
6,43
11,35
2,42
5,84
D18S51
Penta_E
D5S818
D13S317
D7S820
D16S539
CSF1P0
Penta_D
vWA
D8S1179
TPOX
FGA
5
6
7
8
9
0,289
-----------
-----------
----0,005
0,602
0,072
-----------
Bảng 3.6. Tần suất alen và các chỉ số thống kê của 15 locus STR trên NST thường ở quần thể người Khmer (N=110)
Alen
D3S1358
TH01
D21S11
D18S51
Penta_E
D5S818
D13S317
0,359
--0,109
0,086
-----------------
-----------------
0,027
--0,018
--0,009
----0,032
----0,023
0,005
0,036
----0,286
------0,382
0,077
----0,118
----0,005
0,141
130,05
0,005
--0,217
------0,014
0,186
14
locus STR nghiên cứu ở quần thể người Việt Nam là 32 alen mới so với nghiên cứu trước đây
của tác giả Shimada và các đồng nghiệp [103]. Các giá trị tần suất alen và các chỉ số thống kê
cho thấy 15 locus STR sử dụng trong nghiên cứu này đều là các locus STR có tính đa hình cao,
có thể sử dụng tốt trong phân tích ADN nhận dạng cá thể, xác định huyết thống và trong nghiên
cứu di truyền quần thể. Sự phân bố tần suất alen của 15 locus STR nghiên cứu thu được từ thực
nghiệm hoàn toàn phù hợp với định luật Hardy-Weinberg ở trạng thái cân bằng theo tiêu chuẩn
2 với độ tin cậy 95%. Điều này được thể hiện ở các giá trị CHI tính toán từ thực nghiệm của 15
locus STR này ở mỗi quần thể nghiên cứu đều nhỏ hơn các giá trị CHI(c) tương ứng. Ngoài ra,
giá trị xác suất trong kiểm định theo định luật Hardy-Weinberg của mỗi locus (p1) cũng được
xác định (xem Bảng 3.4; 3.5 và 3.6).
3.2.2. Mối quan hệ di truyền giữa ba quần thể nghiên cứu với một số quần thể khác trên thế
giới
Từ dữ liệu tần suất alen 13 locus STR thuộc bộ CODIS (do FBI-Mỹ lựa chọn) của ba
quần thể nghiên cứu (người Kinh; người Mường và người Khmer) và 14 quần thể tham khảo
[26, 52, 71, 72, 84, 98, 103, 119, 121, 122], đã xây dựng được cây phả hệ di truyền theo
phương pháp neighbor-joining bằng phần mềm POPTREE2 [109]. Cây phả hệ di truyền này, đã
phản ánh được mối quan hệ di truyền giữa 3 quần thể nghiên cứu với 14 quần thể tham khảo
dựa trên các giá trị khoảng cách di truyền chuẩn của Nei (DST) giữa các quần thể với nhau (xem
Hình 3.19). Kết quả nghiên cứu này đã đáp ứng được mục đích mong đợi và cho thấy rằng từ
dữ liệu tần suất alen của các locus STR nằm trên NST thường có thể sử dụng tốt cho các nghiên
cứu về mối quan hệ di truyền giữa các quần thể người khác nhau trên trên thế giới (mặc dù các
quần thể này hoàn toàn cách ly về địa lý) hoặc các quần thể phân nhỏ (các quần thể người dân
tộc) cùng sống trên lãnh thổ của một quốc gia.
Iraqi-Iraq
African-USA
Caucasian-USA
Hispanic-USA
Bảng 3.8. Kết quả phân tích ADN từ mẫu DV_MÁU_DAO và mẫu MÁU_NN trong một vụ
án mạng xảy ra tại quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng bằng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh
quang.
TẦN SUẤT KIỂU GEN
LOCUS
MÁU_NN
(2pq hoặc p2 hoặc q2)
DV_MÁU_DAO
(Tính theo dữ liệu tần suất alen
của người Kinh, N=300)
16
17
16
17
D3S1358
0,1449
7
9
7
9
TH01
0,2461
30
32.2
30
32.2
D21S11
0,0892
13
21
11
13
D16S539
0,0564
10
12
10
12
CSF1PO
0,1422
9
10
9
10
Penta D
0,0952
X
Y
X
Y
1,0000
Amelogenin
16
16
16
16
vWA
0,0164
12
15
máu của nạn nhân (MÁU_NN).
Kết quả phân tích được thể hiện ở Bảng 3.9 như sau:
Bảng 3.9. Kết quả phân tích ADN từ mẫu DV_Q. LÓT_NN và mẫu MÁU_ĐT_01 trong một
vụ án hiếp dâm xảy ra tại quận Dương Kinh, Tp. Hải Phòng bằng bộ kit PCR 16 locus gắn
huỳnh quang.
TẦN SUẤT KIỂU GEN
LOCUS
MÁU_ĐT_01
(2pq hoặc p2 hoặc q2)
DV_Q. LÓT_NN
(Tính theo dữ liệu tần suất alen
của người Kinh, N=300)
16
16
16
16
D3S1358
0,1190
7
9
7
9
TH01
0,2461
30
30
30
30
D21S11
0,0534
12
13
12
13
D16S539
0,0435
10
12
10
12
CSF1PO
0,1422
11.2
12
11.2
12
Penta D
0,0449
X
Y
X
Y
1,0000
Amelogenin
14
16
14
16
vWA
0,0755
Mẫu phân tích do Phòng PC54 - CATP Hải Phòng cung cấp bao gồm: (1) 02 răng cửa
của một xác chết chưa rõ tung tích (RĂNG_NN) và (2) mẫu máu của bà Đặng Thị L
(MÁU_ĐTL).
Kết quả phân tích được thể hiện ở Bảng 3.10 như sau:
Bảng 3.10. Kết quả phân tích ADN từ mẫu RĂNG_NN và mẫu MÁU_ĐTL trong một vụ án
truy tìm tung tích nạn nhân xảy ra tại phường Anh Dũng, quận Dương Kinh, Tp. Hải Phòng
bằng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang.
MI
MÁU_ĐTL
RĂNG_NN
LOCUS
(Tính theo dữ liệu tần suất alen của
người Kinh, N=300)
14
15
15
17
0,7175
D3S1358
7
9
7
9
1,4410
TH01
31.2
32.2
31
31.2
3,8226
D7S820
9
11
9
11
1,9334
D16S539
10
11
10
14
1,2065
CSF1PO
9
12
9
12
3,5818
Penta D
X
X
X
X
1,0000
Amelogenin
19
19
14
19
4,7223
đối với từng loại mẫu dấu vết: Mẫu đầu mẩu thuốc lá và ống hút cho tỷ lệ thành công cao nhất
tương ứng là 8/9 và 4/5 mẫu phân tích; mẫu tăm bông thu từ miệng cốc-chén cho tỷ lệ thành
18
công là 5/9; mẫu dao cạo râu cho tỷ lệ thành công là 2/4 mẫu phân tích và mẫu bàn chải đánh
răng cho tỷ lệ thành công thấp nhất là 1/3. Hồ sơ ADN cá nhân gồm 16 locus nghiên cứu của
9/10 đối tượng cần KSAN đã được xác lập và được nêu ở Bảng 3.12 như sau:
15
17
15
3.3.3. Kết quả
ĐT_10_OH
17
6
7
7
ứng
7
29
29
32.2
dụng bộ
32.2
13
17
11
12
11
14
11
1611locus8 gắn11huỳnh
12
9
12
12
10
10
8
10
10
10
11
13
9
9
quang để
11
11
FGA
12
9
12
12
12
12
11
12
7
9
11
12
11
11
12
12
12
12
13
12
10
9
11
9
12
10
12
11
13
11
14
8
11
12
12
11
12
9
Nhiễm mẫu trong quá trình thu mẫu
Amel
16
17
ĐT_02_TB
Penta D
11
14
10
11
11
18
10
10
12
19
10
12
30
31.2
30
30
D7S820
D21S11
9
10
7
8
6
6
6
7
7
9
7
9
ĐT_01_DCR
D13S317
TH01
18
18
X
Y
14
16
14
17
14
14
17
18
14
17
14
16
10
13
10
10
11
14
12
15
10
15
11
13
8
làm
X
10
12
15
14
14
18
16
16
10
thẻ ADN
17
10
14
17
8
8
22
22
8
22
9
22
8
cá nhân19
2. Đã xây dựng được bảng tần suất alen và các chỉ số thống kê nhận dạng cá thể người cho 15
locus (D3S1358, TH01, D21S11, D18S51, Penta E, D5S818, D13S317, D7S820, D16S539,
CSF1PO, Penta D, vWA, D8S1179, TPOX và FGA) ở người Kinh (N=300) sống ở khu vực
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; người Mường (N=104) sống ở tỉnh Hòa Bình và người
Khmer (N=110) sống ở tỉnh Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu này đã bổ sung vào CSDL 15
locus STR nghiên cứu ở quần thể người Việt Nam là 32 alen mới so với kết quả nghiên cứu
trước đây của tác giả Shimada và các đồng nghiệp [103].
3. Đã xây dựng được cây phả hệ di truyền theo phương pháp neighbor-joining bằng phần mềm
POPTREE 2 [109] dựa trên dữ liệu tần suất alen của 13 locus thuộc bộ CODIS (do FBI-Mỹ
lựa chọn) của ba quần thể nghiên cứu và 14 quần thể tham khảo. Cây phả hệ này đã phản
ánh được mối quan hệ di truyền giữa ba quần thể nghiên cứu với 14 quần thể khác nhau trên
thế giới. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được người Kinh và người Mường có quan hệ gần
gũi với nhau hơn so với người Khmer dựa trên giá trị khoảng cách di truyền chuẩn của Nei
(DST).
4. Đã ứng dụng thành công bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang để phân tích ADN nhận
dạng cá thể người (giám định ADN) tại Việt Nam bằng việc truy nguyên cá thể người từ các
dấu vết sinh phẩm thu được tại hiện trường của một số vụ án (dấu vết máu và tinh trùng) với
độ tin cậy cao (≥ 99,999999999999999985%); truy tìm tung tích nạn nhân từ mẫu răng cửa
của tử thi nạn nhân qua mối quan hệ huyết thống mẹ-con với xác suất quan hệ là 99,999%;
đã thiết lập được 9/10 hồ sơ ADN cá nhân của 10 đối tượng cần KSAN và đã làm được
1.000 thẻ ADN cá nhân thử nghiệm phục vụ công tác an ninh và dân sinh.
KIẾN NGHỊ:
Tiếp tục ứng dụng bộ kit PCR 16 locus gắn huỳnh quang này trong nghiên cứu di truyền
quần thể ở các quần thể người dân tộc khác nhau; phân tích các loại mẫu dấu vết sinh phẩm
khác nhau thường gặp ở hiện trường của các vụ án và xây dựng CSDL nhận dạng ADN (tàng
thư) cho các đối tượng khác nhau như: tội phạm, các đối tượng làm việc trong các ngành nghề
20
4.
Trần Trọng Hội, Lê Thị Bích Trâm, Phạm Đăng Khoa, Hồ Quang Huy, Trịnh Đình Đạt,
Nguyễn Văn Hà (2015), “Khảo sát tần suất alen của 15 locus STR trên nhiễm sắc thể
thường trong quần thể người Mường sống ở tỉnh Hòa Bình, Việt Nam”, Tạp chí Phân tích
Hóa-Lý và Sinh học, T-20 - Số 3/2015, tr. 208-214 (ISSN: 0868-3224).
5.
Trần Trọng Hội, Trần Thị Hạnh, Phạm Đăng Khoa, Hồ Quang Huy, Trịnh Đình Đạt,
Nguyễn Văn Hà (2015), “Sự đa dạng di truyền của 15 locus STR trên nhiễm sắc thể thường
trong quần thể người Khmer sống ở tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam”, Tạp chí Phân tích Hóa-Lý
và Sinh học, T-20 - Số 4/2015, tr. 152-160 (ISSN: 0868-3224).
22