BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
LỜI BÌNH PHIM TÀI LIỆU CHÍNH LUẬN
CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
(Khảo sát năm 2013 và 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
CẦN THƠ - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC
GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
LỜI BÌNH PHIM TÀI LIỆU CHÍNH LUẬN
CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
(Khảo sát năm 2013 và 2014)
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.2. Vị trí, vai trò và tiêu chí đánh giá lời bình phim tài liệu chính luận
1.3. Mối quan hệ lời bình với các yếu tố khác trong phim tài liệu
chính luận
1.4. Phương thức tiếp cận viết lời bình phim tài liệu chính luận trên
truyền hình
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LỜI BÌNH PHIM TÀI LIỆU
CHÍNH LUẬN CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN
13
13
26
38
40
45
HÌNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
2.1. Khái quát về Đài Phát thanh - Truyền hình thành phố Cần Thơ
2.2. Khảo sát lời bình phim tài liệu chính luận của Đài Phát thanh Truyền hình thành phố Cần Thơ
2.3. Đánh giá chung
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG LỜI BÌNH PHIM TÀI LIỆU CHÍNH LUẬN
CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
45
49
76
89
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
AHLĐ
:
Anh hùng lao động
Bộ TTTT
:
Bộ thông tin - truyền thông
DRT
:
Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng
ĐBSCL
:
Đồng bằng sông cửu long
HTV
:
Phát thanh - Truyền hình
PV, BTV
:
Phóng viên, Biên tập viên
PTV
:
Phát thanh viên
QPAN
:
Quốc phòng - An ninh
TW
:
Trung ương
TNS
:
Đài Phát thanh - Truyền hình TP. Cần Thơ
VTV
:
Truyền hình Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 1.1:
Đánh giá nhà báo, cộng tác viên về vị trí của lời bình
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
trong phim tài liệu
Lý do công chúng thích các phim
Lý do thích lời bình các phim
Giải pháp nâng cao chất lượng lời bình
Yêu cầu người viết lời bình
Biểu đồ 1.1:
Đánh giá của công chúng về vai trò của lời bình trong
27
Đánh giá của nhà báo, công chúng về tác động của lời
Biểu đồ 2.6:
Biểu đồ 3.1:
Biểu đồ 3.2:
bình đến chất lượng phim
Tỷ lệ nhà báo xem phim tài liệu
Lý do không thích phim
Tỷ lệ công chúng quan tâm đến lời bình
76
78
90
110
Sơ đồ 1.1:
Tiêu chí đánh giá chất lượng lời bình (lời bình hay)
30
26
54
57
95
97
1
váo lúc 6h30 hôm sau). Hiện tại công chúng đã quen xem phim tài liệu của
Đài, thể hiện qua chỉ số người xem tăng dần, từ 0.2, 0.3 lên 0.9, thậm chí có
lúc 1.5 theo số liệu điều tra của Công ty nghiên cứu thị trường (TNS).
Khi chọn phim tài liệu, đặc biệt là phim tài liệu chính luận để làm một
trong những thể loại mở mũi xây dựng thương hiệu cho Đài, những người làm
nghề ở THTPCT suy nghĩ rất cặn kẽ bởi thấy rằng phim tài liệu hội đủ điều
kiện cần thiết để trở thành một trong những khâu đột phá; bởi nó có khả năng
thể hiện được trình độ, tầm tư duy, sức sáng tạo và những giá trị nghệ thuật
cao cùng bản sắc tâm hồn mà người làm truyền thông cần biểu đạt. Phim tài
liệu cũng có thể trở thành một trong những hình thức tuyên ngôn hữu hiệu
và tuyệt vời nhất của cơ quan truyền thông, một biểu hiện của đẳng cấp,
bản lĩnh, tấm lòng và thiện chí trước cuộc sống, một công cụ sắc bén, đẹp
đẽ trong cuộc đấu tranh vì một xã hội tốt đẹp. Song để khán giả chấp nhận
xem phim tài liệu của Đài, một trong những yếu tố hàng đầu là phải tính
đến việc nâng cao chất lượng phim. Sức hấp dẫn của một bộ phim được tạo
dựng từ rất nhiều yếu tố như: đề tài, chủ đề tư tưởng, thể loại, kịch bản, bố
cục, hình ảnh, âm thanh, kỹ thuật dàn dựng, lời bình, giọng đọc, kết cấu,
màu sắc, phong cách của phim….Nhưng để nhìn một cách khái quát, người
làm nghề cũng như công chúng nói chung, quan tâm đầu tiên đến hai yếu
tố: hình ảnh và lời bình.
Lời bình có vị trí, vai trò rất là quan trọng, cùng với hình ảnh làm nên
chất lượng bộ phim. Lời bình không chỉ giải thích hình ảnh mà nó còn có tác
dụng làm cho hình ảnh, ngôn ngữ đặc trưng nhất của tác phẩm truyền hình
bọc lộ hết giá trị của nó, thể hiện chủ đề, tư tưởng của phim, làm cho người
xem hiểu, tin và làm theo. Lời bình đôi lúc chỉ là nét chấm phá nhưng có thể
nâng cấp rõ rệt cho phim. Tuy nhiên, lời bình cũng có thể hủy hoại sự hấp dẫn
của phim nếu bình không đầy đủ, thiếu chính xác và bình cho thấy sự định
kiến của tác giả. Lời bình là một trong những vấn đề cốt lõi của phim tài liệu,
4
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình khảo sát, tìm tài liệu để thực hiện luận văn, tác giả thấy
có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Năm 2002, Viện nghệ thuật và lưu trữ Điện ảnh Việt Nam ấn hành tài
liệu nghiệp vụ “Kỹ thuật làm phim tài liệu” do Nguyễn Văn Tuấn, dịch từ văn
bản tiếng Nga của nhà đạo diễn điện ảnh Khiu Bedli. Sách gồm 335 trang,
giới thiệu quy trình sản xuất phim tài liệu, từ chuẩn bị kịch bản, kịch bản phân
cảnh, ý đồ bộ phim tương lai cho đến công đoạn quay phim, dàn dựng thành
bộ phim hoàn chỉnh. Có thể nói, đây là tài liệu rất cần thiết cho đề tài nghiên
cứu; bởi phim tài liệu điện ảnh hay truyền hình cũng là hai loại hình có mối
quan hệ gần nhau. Phim tài liệu truyền hình ra đời trên nền tài liệu điện ảnh.
Nhưng sách mới dừng lại ở quy trình sản xuất phim nói chung, chưa đề cập
sâu đến lời bình, nên tài liệu chỉ có tác dụng bổ sung kiến thức chung về phim
tài liệu.
Còn trong tài liệu dành cho các lớp tập huấn ngắn hạn ở một số Đài PTTH địa phương, năm 2003, nhà biên kịch Trần Đức Tuấn, Hãng phim TFS,
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV), người viết chỉ riêng
Mekong ký sự đã là 85/92 tập, biên soạn tài liệu “Đôi nét về phim ký sự”.
Trong đó, có “Một cái nhìn về phim tài liệu”, nêu vai trò, vị trí của phim tài
liệu trong cơ cấu phát sóng của các Đài truyền hình, cũng như sự cần thiết
phải phát triển loại hình này trong tương lai. Tập tài liệu cũng đã giúp cho tác
giả có một cái nhìn tổng quan về phim tài liệu, từ lịch sử ra đời, phát triển
phim; cùng các yếu tố tác động đến chất lượng phim tài liệu, đặc biệt là vai
trò của lời bình trong phim. Nhưng do là tài liệu soạn thảo dành cho các lớp
tập huấn ngắn hạn và phần nói về phim tài liệu dưới dạng phụ lục, chưa đề
cập sâu đến vấn đề tác giả nghiên cứu.
Ba tài liệu khác, hai của nhà biên kịch Nguyễn Hậu, nguyên giảng viên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đăng trên Website daotao.vtv.vn, có nhan
6
luận văn giúp tác giả có cái nhìn cận cảnh hơn của phong cách chính luận.
Song, do đây là đề tài nghiên cứu phong cách viết báo của một nhà báo cụ thể
và chủ yếu phân tích phong cách nhà báo Quang Lợi qua các bài viết xã luận,
phóng sự trên báo in, nên cũng cần, nhưng lại còn xa với đề tài mà tác giả
nghiên cứu.
Một học viên khác là Bùi Thị Thủy, năm 2006, cũng đã bảo vệ thành
công luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ, chuyên ngành Báo chí học, với đề tài
“Phim tài liệu chân dung truyền hình”. Luận văn đã cung cấp những vấn đề
lý luận, thực tiễn, những kinh nghiệm được đúc kết qua kết quả khảo sát các
phim tài liệu chân dung do Hãng phim TFS (HTV) thực hiện, từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả thể loại này trên
sóng truyền hình của HTV. Luận văn nghiên cứu một cách khái quát thể loại
phim tài liệu chân dung, một thể loại đi sâu hơn nữa của phim tài liệu, nên
cũng chỉ có tác dụng tham khảo, bồi bổ kiến thức cho luận văn.
Công trình nghiên cứu gần sát với đề tài của tác giả có “Dòng chính
luận trong phim truyện truyền hình”, luận văn bảo vệ thành công trình độ
Thạc Sĩ, Chuyên ngành Báo chí học vào năm 2010 của học viên Nguyễn Mai
Lan. Dù luận văn rất có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn; bởi xét về góc độ
nào đó, hai loại hình phim có tính tương đồng; nhưng khác ở chổ, một bên
xây dựng cốt truyện bằng hình tượng nghệ thuật hư cấu; còn một bên là con
người, sự kiện có thật; dù ít nhiều cũng kế thừa từ đây về mặt lý thuyết, còn
thì để tham khảo.
Năm 2009, Nxb Thông tấn, Hà nội xuất bản giáo trình “Ngôn ngữ báo
chí” của PGS.TS Vũ Quang Hào, cung cấp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về những
vấn đề cần thiết, cơ bản nhất của nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau. Tuy
nhiên, tác giả chỉ mới đề cập đến ngôn ngữ của báo in, báo phát thanh, chớ
chưa đề cập đến báo hình, là loại hình mà tác giả muốn nghiên cứu sâu, làm
cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu.
8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu, làm rõ cơ sở lý luận của lời bình và đánh giá đúng
thực trạng chất lượng lời bình trong phim tài liệu truyền hình chính luận, luận
văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lời bình của phim tài liệu
chính luậnTHTPCT đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng
trong thời kỳ hội nhập và hội tụ truyền thông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể như sau:
+ Luận văn tìm hiểu, phân tích cơ sở lý luận lời bình trong phim tài liệu
truyền hình chính luận.
+ Khảo sát thực trạng chất lượng lời bình trong phim tài liệu chính luận
phát trên sóng truyền hình của THTPCT (từ 2013-2014).
+ Đánh giá thành công, hạn chế nội dung, hình thức thể hiện lời bình
trong phim tài liệu chính luận của THTPCT.
+ Đề xuất giải pháp; khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng lời bình
trong phim tài liệu chính luận của THTPCT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn này là lời bình trong phim tài
liệu chính luận truyền hình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát các phim tài liệu chính luận
của Đài PT-TH TP. Cần thơ được sản xuất và phát sóng năm 2013 và 2014.
Trong đó, 4 phim trình chiếu trực tiếp, gồm: “Những dòng sông hấp hối”; “Y
đức không ranh giới”; “Tiếng vọng ngàn xưa”; “ Thành phố Cần thơ -10
10
thu nhập thấp; Phong Điền nằm sát gần Quận trung tâm Ninh Kiều, là huyện
chuyên canh cây ăn trái, du lịch sinh thái phát triển, đời sống cao. Thứ hai, đề tài
trong các phim trình chiếu gần gũi với cuộc sống người dân 3 cụm Quận, Huyện
và là đề tài, đại diện cho nhóm đề tài mà phần lớn các phim tài liệu chính luận
của THTPCT chọn thực hiện. Phương pháp khảo sát được tiến hành cụ thể:
- Trình chiếu các phim để công chúng xem, đánh giá thông điệp lời
bình các phim tài liệu chính luận muốn chuyển tải đến công chúng, với thời
lượng mỗi phim từ 22 đến 27 phút.
- Sử dụng phương pháp bảng hỏi ankét. Tác giả đã phát 299 bảng câu
hỏi trưng cầu ý kiến công chúng, gồm nhiều đối tượng khác nhau, có độ tuổi
trung bình 34 tuổi, nhằm mục đích đánh giá sự phản hồi của đối tượng tiếp
nhận thông điệp về chất lượng phim tài liệu, về tác động của lời bình, về
phương thức thể hiện lời bình trong các phim tài liệu chính luận của
THTPCT. Sau đó, tác giả kiểm tra toàn bộ phiếu hỏi thu được xem có hoàn
chỉnh và đảm bảo chất lượng hay không nhằm tăng độ thận trọng và độ chính
xác.
- Tiếp đến, nhập toàn bộ thông tin thu thập được từ bảng hỏi vào khung
dữ liệu đã tạo sẵn. Cuối cùng, chỉnh lý thống kê đối với các cứ liệu cho báo
cáo; kiểm tra giả thuyết nghiên cứu, trình bày báo cáo. Tất cả những dữ liệu
thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0; là phần mềm chuyên xử lý
thống kê xã hội.
+ Ngoài ra, tác giả còn khảo sát chỉ số người xem (raiting) truyền hình
nói chung, phim tài liệu nói riêng, thông qua số liệu của công ty nghiên cứu
thị trường (TNS).
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn dề nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận văn hệ thống lại một số cơ sở lý luận, thực tiễn có liên quan đến
được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết, cụ thể như sau:
12
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng lời bình phim tài liệu truyền
hình chính luận.
Chương 2: Thực trạng chất lượng lời bình phim tài liệu chính luận của
Đài PT-TH TP. Cần Thơ.
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nâng cao chất lượng lời bình
phim tài liệu chính luận của Đài PT-TH TP. Cần Thơ.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG
LỜI BÌNH PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH CHÍNH LUẬN
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1. Phim tài liệu
Nếu vào cuối những năm 20, thuật ngữ phim tài liệu được nhà làm
phim người Nga J… Grixon áp dụng cho một thể loại điện ảnh; hoặc trước
đó, thuật ngữ này xuất hiện ở Pháp cho những phim làm từ tư liệu quay trong
thời gian đi tham quan thì sau đó, Grixon chính thức dùng thuật ngữ phim tài
liệu để “ký hiệu cho các tác phẩm điện ảnh có tính sự thật” [11, tr.11]. Đó là
khi lần đầu tiên ông sử dụng thuật ngữ phim tài liệu để nói về phim của Đạo
diễn Robetta Flaheti Moand kể về các sự kiện xảy ra trong cuộc sống của một
chú bé từ Polinedi. Ở Việt Nam, thuật ngữ Phim tài liệu xuất hiện trước Cách
mạng tháng Tám, khi những thước phim đầu tiên ra đời như hình ảnh về ngày
độc lập 2/9/1945, cuộc mittinh khổng lồ tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập…nhưng cũng do những người làm phim
nước ngoài quay. Ngày nay, thuật ngữ phim tài liệu không còn xa lạ mà đã trở
trước hết nhằm mục đích giáo dục hoặc lưu giữ tài liệu lịch sử” (phụ lục 2.9).
Cũng đến từ Mỹ, Đạo diễn - nhà sản xuất phim Larry Hott (Hãng phim tài
liệu Florentine Films) gần như đồng quan điểm với Đạo diễn Don North,
nhưng nói rõ hơn: “Phim tài liệu không phải là một chương trình truyền hình
thực tế, không phải là phim thương mại dài, hay một phim được tài trợ để
quảng bá sản phẩm, ca ngợi một nhân vật, hay một công ty nào đó, cũng không
phải một câu chuyện mang tính thời sự. Nó là phim dựa vào sự thật, mô tả con
người và câu chuyện có thật” (phụ lục 2.10).
Còn trong giáo trình “Báo chí truyền hình” do PGS.TS Dương Xuân
Sơn biên soạn thì định nghĩa:
Phim tài liệu truyền hình là một thể loại báo chí truyền hình nằm
trong nhóm thể loại chính luận nghệ thuật. Nó nói lên tư tưởng chủ
15
đề, tức là tính chính luận của báo chí, thông qua việc xây dựng hình
tượng từ những sự kiện, hiện tượng, con người cụ thể có thật trong
đời sống xã hội. Nói cách khác, phim tài liệu truyền hình dùng sự
thật để xây dựng hình tượng nghệ thuật, qua đó làm nhiệm vụ giáo
dục thẩm mỹ và định hướng cách nhận thức sự thật đó cho công
chúng [38, tr.243].
Dù tiếp cận theo góc độ nào thì đối tượng của phim tài liệu là con
người, vấn đề, sự kiện có thật, xảy ra trong cuộc sống; được nhà làm phim
phát hiện, khai thác, đưa vào phim để phân tích, diễn giải bằng lập luận logic,
chặt chẽ, làm rõ vấn đề; từ đó truyền thông điệp, nhằm định hướng cho người
xem về một vấn đề nào đó. Điều đó cũng có nghĩa, tính chất đặc thù của phim
tài liệu là “một loại hình phim có thể dự liệu hiệu quả thông tin khi nó được
hòa vào chương trình truyền hình” [47, tr.112].
Tóm lại, phim tài liệu là một loại tác phẩm phim không hư cấu, phản
ánh, khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một
nghệ thuật. Chia sâu hơn nữa có phim tài liệu chân dung; phim tài liệu sự
kiện; phim tài liệu vấn đề. Và theo Đạo diễn, “Phim tài liệu chính luận là
những phim đề cập đến vấn đề lý luận, chính trị - xã hội” (phụ lục 2.3).
Hay “Phim tài liệu chính luận là tác phẩm phản ánh những vấn đề thời
sự - chính trị; vấn đề nóng, bức xúc của xã hội. Trong đó, người làm phim bộc
lộ quan điểm, chính kiến của mình một cách trực tiếp nhất” (phụ lục 3).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau,
nhưng quan điểm của các nhà làm phim thống nhất nhau trên nhiều phương
diện:
+ Thứ nhất, đối tượng phim tài liệu chính luận không chỉ có những vấn
đề chính trị - xã hội; mà còn là các vấn đề thời sự, cấp thiết trong mọi mặt đời
sống xã hội. Như vậy, đặc điểm quan trọng nhất của chính luận là hướng tới
nội dung cấp bách của cuộc sống xã hội.
17
+ Thứ hai, trong tác phẩm chính luận, lập trường rõ ràng của tác giả
được thể hiện một cách trực tiếp nhất, thông qua đánh giá, phân tích bằng
những luận cứ, luận chứng xác thực nhất: “Tính phân tích, luận giải, đánh giá
là các đặc điểm mà thiếu chúng chưa thể có tác phẩm chính luận. Thông tin
có chức năng giải đáp các câu hỏi: “điều gì đang xảy ra” và “điều đó đang xảy
ra như thế nào?” thì chính luận phân tích lại đề cập đến những câu hỏi tại
sao?” và “điều gì có thể xảy ra vào ngày mai?” [4, tr.218]. Nghĩa là trong
trường hợp thứ nhất thì sự vật, sự kiện không chỉ là đối tượng, mà còn là mục
đích; còn trong trường hợp thứ hai thì những sự việc còn trở thành phương
tiện luận chứng cho lập trường nhà báo, là những luận cứ trong một chuỗi
những bằng chứng mà nhà báo ấy đưa ra. “Người làm phim tài liệu không thể
có thái độ như nhau đối với những kẻ vi phạm pháp luật, và những người bảo
vệ pháp luật […]. Khi có sự đụng độ giữa sự thương cảm và sự tàn bạo, giữa
chính nghĩa và ý đồ xấu xa, giữa thái độ dung chấp và không dung chấp thì
vào nhận thức người nghe, người đọc, còn chính luận là tác động vào tư tưởng,
tình cảm, là thuyết phục, động viên người đọc, người nghe tin theo những quan
điểm, lập trường tư tưởng, chính kiến của mình” [32, tr.77].
Từ sự phân tích trên, tác giả xin được đưa ra khái niệm: Phim tài liệu
chính luận là một loại tác phẩm phim không hư cấu, mà ở đó người làm phim
bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm chính trị, tư tưởng, sự đánh giá
của mình một cách trực tiếp nhất đối với những vấn đề thời sự nóng hổi của
đời sống xã hội về tất cả các mặt như: Văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế, quốc
phòng - an ninh, kinh tế, trật tự xã hội, môi trường và hòa bình trên thế giới.
1.1.3. Phim tài liệu chính luận trên truyền hình.
Phim tài liệu chính luận trên truyền hình hiểu đơn giản là câu chuyện
kể bằng hình, phát trên sóng truyền hình, ở đó, người làm phim bộc lộ công
khai quan điểm, chính kiến của mình một cách trực tiếp nhất.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, phim tài liệu là thể loại đầu tiên của điện
ảnh. Nó chính là một thứ phim tài liệu điện ảnh nên từ khi mới ra đời nó được