Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với sự phát triển kinh tế thế giới - Pdf 34

MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lý luận về công ty xuyên quốc gia

2

1.1 Khái niệm công ty xuyên quốc gia

2

1.2 Sự hình thành và phát triển các công ty xuyên quốc gia

4

1.2.1. Sự hình thành các công ty xuyên quốc gia

4

1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử

4

1.2.1.2 Nguyên nhân hình thành

5

1.2.2 Sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia
1.3 Chiến lược của các công ty xuyên quốc gia

6
9

16

2.1.3 Thay đổi trong cơ cấu đối tác

17

2.2 Thúc đẩy đầu tư quốc tế

17

2.2.1 Thúc đẩy tự do hóa đầu tư giữa các nước

17

2.2.2 TNCs thúc đẩy lưu thong dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới

20


2.2.3 TNCs làm tăng tích lũy vốn của nước chủ nhà

21

2.3 Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm

22

2.3.1 Đối với tạo cơ hội việc làm

22


32

3.1.2 Tác động tiêu cực

32

3.2 Thuận lợi và khó khăn của Việt nam trong việc thu hút các TNCs

32

3.2.1 Những thuận lợi

32

3.2.2 Một số khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư FDI từ các TNCs

34

3.3 Một số gợi ý cho Việt Nam để nâng cao hiệu quả hoạt động của TNCs tại Việt Nam

36

3.3.1 Tạo lập đối tác đầu tư trong nước có năng lực và biết làm ăn với nước
ngoài là một nhân tố hấp dẫn đối với các TNCs

37

3.3.2 Hoàn thiện, dổi mới cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy nhà nước, nâng
cao năng lực quản lý vĩ mô nhà nước.


Nguyên nghĩa Tiếng Việt

Association of Southeast Asian Hiệp hội các quốc gia Đông
Nations

Nam Á

BIT

Bilateral Investment Treaty

Hiệp định đầu tư song phương

3

CNN

Cable News Network

Mạng lưới thông tin toàn cầu

4

CNTB

5

DCs


Tổng sản phẩm nội địa

11

LDCs

Les - Developed Countries

Các nước đang phát triển

12

M&A

Mergers and Acquisitions

Mua bán và sáp nhập

13

MNC

Multinational Corporation

Công ty đa quốc gia

14

NIEs


kinh tế

R&D

Research & Development

Nghiên cứu và phát triển

17

TNCs

Transnational Corporations

Các công ty xuyên quốc gia

18

UNCTAD

United Nations Conference on Diễn đàn Thương mại và Phát
Trade and Development
i

triển Liên Hiệp quốc


19

USD

2001
Tổng giá trị xuất khẩu và đóng góp của các TNCs
nước ngoài
Hiệu quả điều chỉnh chính sách đối với mức tiền
công của khu vực FDI
Tổng giá trị vốn FDI tại các khu vực giai đoạn 2011
– 2013
Tài sản và lợi nhuận của top 100 công ty lớn nhất

Bảng 2.6

thế giới từ 2010 – 2012
Số lượng lao động ở các chi nhánh nước ngoài
Các công ty Trung Quốc trong danh sách 1000

Bảng 3.1

TNCs hàng đầu hoạt động tại LDCs và các nền kinh

13
15
19
21
24
27
33

tế chuyển đổi trong lĩnh vực phi tài chính năm 2012
Các công ty Trung Quốc trong danh sách 1000
Bảng 3.2



Hiệu quả điều chỉnh chính sách thông qua vốn
Hình 2.3

đăng kí, giải ngân FDI và số dự án giai đoạn
1988- 2008

iv

18


MỞ ĐẦU
Thế giới thẳng đã trở thành thuật ngữ quen thuộc để chỉ sự phát triển toàn cầu hóa từ
những năm đầu của thế kỉ 21. Và một trong những động lực quan trọng thúc đẩy toàn cầu
hóa và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới là các công ty xuyên quốc gia (TNCs). Hiện nay
hoạt động của khoảng 75.000 TNCs thông qua các chi nhánh trên toàn thế giới đã và đang
thực hiện phần lớn (khoảng 4/5) đầu tư trực tiếp nước ngoài và khoảng 3/5 trao đổi thương
mại toàn cầu. Mặt khác, TNCs cũng thực hiện chủ yếu các hoạt động nghiên cứu và phát
triển (R&D), chuyển giao công nghệ giữa các nước. Các hoạt động đầu tư, thương mại và
chuyển giao công nghệ đã tạo ra nhiều việc làm góp phần quan trọng vào paths triển nguồn
nhân lực và tăng cường hội nhập giữa các nền văn hóa trên thế giới. Bởi vậy, các TNCs luôn
là mục tiêu tìm tòi, nghiên cứu của các học giả, các nhà chính sách trên toàn thế giới.
Việt Nam sau 30 năm Đổi mới ( chính sách Đổi mới được thực hiện chính thức Đại hội đại
biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI năm 1986) với mục tiêu “phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
thị trường toàn cầu và đến nay nhiều TNCs lớn đã có mặt tại Việt Nam. Nhận thức được tầm
quan trọng của TNCs đối với nền kinh tế nước nhà. Chúng em thực hiện chuyên đề “Vai trò
của các công ty xuyên quốc gia” để tìm hiểu vai trò, đặc điểm của các TNCs, chiến lược hoạt

Trong các tài liệu về các công ty toàn cầu hay đa quốc gia, có rất nhiều thuật ngữ khác
nhau được sử dụng như “công ty quốc tế” (International Enterprise/Firm), “công ty đa quốc
gia” (Multinational Corporation – MNC), “công ty xuyên quốc gia” (Transnational
Corporation – TNC) và “công ty toàn cầu” (Global Corporation/Enterprise/Firm), “công ty
siêu quốc gia”. Tuy nhiên, độ phổ biến của các thuật ngữ này là khác nhau và nội dung của
chúng cũng có phần khác nhau.
Thứ nhất, Công ty đa quốc gia (Multinational Corporations-MNCs): Theo các chuyên gia
UNCTAD (Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển) thì MNCs được định
nghĩa như sau:”MNCs là các công ty có chủ sở hữu vốn thuộc công ty mẹ của nhiều quốc
gia”.
2


Như vậy MNCs cũng xuất phát từ các công ty tư bản độc quyền với hoạt động sản xuất
kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Nhưng điểm nổi bật là tư bản thuộc sở hữu
của công ty mẹ là của hai hoặc nhiều nước.
Thứ hai, Công ty xuyên quốc gia (International Corporations -TNCs). Định nghĩa về
TNCs có một số quan điểm sau:
-

Theo kinh tế chính trị: TNCs là những công ty tư bản độc quyền, chủ sở hữu tư bản là
của một nước nhất định. Theo quan điểm này,người ta chú ý đến tính chất sở hữu quốc
tế của tư bản: vốn đầu tư kinh doanh là của ai,ở đâu…
Trong Báo cáo Đầu tư thế giới 1998, Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và

-

phát triển đã nêu một định nghĩa về TNC cụ thể hơn: “TNCs là những công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài
sản của chúng ở nước sở hữu và các công ty con của chúng ở nhiều nước trên thế giới”

mại, đầu tư quốc tế của công ty.
Còn đối với các tên gọi còn lại, thì các quan niệm này hàm ý rằng sở hữu vốn và các
quá trình công nghệ thuộc nhiều quốc gia trên thế giới.
Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia

1.2.1. Sự hình thành của các công ty xuyên quốc gia
1.2.1.1. Bối cảnh lịch sử
Dấu vết của các công ty toàn cầu được các nhà lịch sử lần theo từ thế kỉ XVII – kỉ nguyên
của các cuộc khám phá vùng đất mới và xâm chiếm thuộc địa.
Công ty toàn cầu bắt đầu ra đời trong thời kì phát triển chủ nghĩa tư bản (CNTB). Trong
thời kì đầu cạnh tranh tự do của CNTB, mục đích lợi nhuận và sự phát triển của sản xuất đã
làm tăng nhu cầu về thị trường nguyên liệu, thị trường lao động, thị trường hàng hóa và thị
trường tài chính. Các yêu cầu đó đã thúc đẩy việc tăng cường khai thác và mở rộng hoạt
động kinh doanh sang nước khác. Ngoài ra, sự cạnh tranh quyết liệt cũng hướng nhiều công
ty trong nước đi tìm lợi nhuận sang thị trường bên ngoài. Quá trình này được tạo nên bởi sự
phát triển của thương mại quốc tế đã được hình thành qua nhiều thế kỉ trước dưới sự ủng hộ
của các nhà nước tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa thực dân. Đồng thời, quá trình đi từ hợp tác
giản đơn đến liên kết sâu sắc hơn trong giới công thương tư bản đã làm tăng khả năng thực
hiện sự mở rộng này. Trên cơ sở đó, các tổ chức kinh doanh quốc tế bắt đầu được hình thành
và phát triển. Hai công ty toàn cầu được coi như ra đời sớm nhất vào đầu thế kỉ XVII là
Công ty Đông Ấn của Anh (Bristish East India Company) được thành lập dưới hiến chương
của Hoàng gia Anh để thực hiện việc buôn bán thương mại với Ấn Độ và Công ty Đông Ấn
của Hà Lan (Dutch East India Company). Vào thời bấy giờ, các công ty đó đã có ảnh hưởng
nhất định đến quan hệ quốc tế như: khuyến khích hoặc thi hành chủ nghĩa thực dân, mở các
cuộc thám hiểm thực dân rồi sau đó là xâm lược mà nguồn lực chính là do các công ty này
hỗ trợ. Khi ách thực dân đã được thiết lập, những công ty này đi đầu trong việc bóc lột và
khai thác thuộc địa.
1.2.1.2. Nguyên nhân hình thành
Thứ nhất, do tích tụ và tập trung sản xuất.
4

Sau chiến tranh Thế giới thứ hai (1939 - 1945) đã ra đời hàng loạt các quốc gia độc lập
làm phá sản chủ nghĩa tư bản kiểu cũ, song về kinh tế họ lại gặp nhiều khó khăn lớn. Nhờ đó
5


các nhà tư bản đã lợi dụng điểm yếu này để nhanh chóng thâm nhập vào nền kinh tế của các
nước này thông qua công ty xuyên quốc gia. Song mục đích của họ không chỉ nhằm vào
kinh tế mà còn nhằm vào chính trị.
Thứ tư, tận dụng các điều kiện thuận lợi từ nước ngoài.
Thông qua chi nhánh của mình ở nước ngoài để tận dụng những điều kiện thuận lợi của
nước chủ nhà như: nguồn lao động dồi dào, nhân công rẻ, nguyên nhiên vật liệu nhiều, được
hưởng nhiều chính sánh ưu đãi của chính phủ (tránh được thuế nhập khẩu, chi phí thuê
rẻ…). Do vậy hàng hóa họ sản xuất ra có được những ưu thế cạnh tranh hơn hẳn so với hàng
hóa của công ty khác, đảm bảo các công ty này có thể đầu tư lâu dài, có hiệu quả kinh tế cao
và lớn mạnh một cách nhanh chóng.
1.2.2. Sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia
Nhìn chung, trong suốt chiều dài của lịch sử, các công ty toàn cầu đã có sự phát triển
mạnh mẽ và trở thành một chủ thể phi quốc gia quan trọng nhất. Sự tồn tại và phát triển của
TNCs đem đến những thay đổi to lớn trong nền kinh tế toàn cầu và cho tương lai của thế
giới.
Như đã phân tích ở chương 1, các công ty toàn cầu về bản chất là các công ty xuyên quốc
gia ra đời trong thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay và đã trở thành một xu
thế tất yếu thì việc mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệt là TNCs góp phần thúc đẩy
quá trình phát triển của các quốc gia. Vì vậy mà hoạt động của TNCs mở rộng hơn, không
chỉ giới hạn ở những lĩnh vực chuyên doanh mà chuyển sang đa doanh và có phạm vi ảnh
hưởng toàn cầu. Bởi vậy, khái niệm công ty toàn cầu xuất hiện và phản ánh đặc điểm của
TNCs trong bối cảnh hiện nay (John Stopford, 1999). Trên cơ sở đó, phần này của chương
sẽ tập trung phân tích rõ các giai đoạn phát triển của công ty toàn cầu mà bản chất là TNCs.
Việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển sẽ giúp ta hiểu rõ đặc điểm và bản chất

cường quan hệ kinh tế quốc tế và sự hợp tác chính trị giữa các tư bản chủ nghĩa đã góp phần
thúc đẩy sự phát triển của TNCs với sự ra đời và mở rộng mạnh mẽ của nhiều công ty lớn.
Sự phát triển của TNCs không chỉ ở sự nắm giữ các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, năng lực tài
chính và khoa học kỹ thuật,… mà còn ở sự mở rộng hoạt động kinh doanh ra khắp thế giới
tư bản. Ngoài ra, vai trò của TNCs trong phát triển kinh tế cũng không ngừng được củng cố
biểu hiện qua sự đóng góp lớn vào vào việc tăng trưởng các dòng đầu tư nước ngoài, thúc
đẩy thương mại xuyên quốc gia và mở rộng phân công lao động quốc tế. Bên cạnh đó, sự ra
7


đời của hàng loạt quốc gia mới thuộc Thế giới thứ Ba cùng với sự yếu kém của các nền kinh
tế đó cũng vẫn duy trì cơ hội cho TNCs mở rộng kinh doanh tại thị trường này. Tuy nhiên,
quá khứ gắn liền với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc đã tạo nên sự phản ứng và
nghi ngờ đối với TNCs. Trong những năm 1960 và 1970, nhiều nước mới giành được độc
lập đã coi TNCs là “kẻ bóc lột”, “thực dân kinh tế” hay “động vật ăn thịt” các nước nghèo.
TNCs còn bị lên án bởi xuất khẩu công nghệ lạc hậu, khai thác quá nhiều tài nguyên không
tái tạo được, tranh giành thu hút lao động chuyên môn, chèn ép sản xuất nội địa và tạo nên
một tầng lợp giàu xổi ở nước sở tại... Vì thế, tài sản nước ngoài của TNCs được quốc hữu
hoá ở nhiều nơi. TNCs phải rút lui khỏi thị trường của một số nước Thế giới thứ Ba. Mặc dù
vậy, điều này cũng không ngăn cản được sự lớn mạnh của TNCs, đặc biệt ở các nước TBCN
phát triển.
Thứ tư, từ những năm 1980, thế giới đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của của TNCs,
đặc biệt là thời kỳ sau chiến tranh Lạnh. Trong giai đoạn này, sau chiến tranh xu thế hòa dịu,
xu thế hợp tác cùng phát triển, sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với xu thế tự do
hóa thương mại và hội nhập kinh tế là những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động của
TNCs mở rộng ra khắp thế giới. Đặc biệt, trong thời kỳ này, quan điểm cách nhìn nhận về
các công ty toàn cầu cũng đã có sự thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực hơn. Theo
đó, TNCs được xem như là một công cụ của sự phát triển, góp phần tạo ra công ăn việc làm,
tạo nguồn thu thuế, là sự khắc phục về vốn, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm làm ăn quốc
tế. Điều kiện chính trị thay đổi ở nhiều nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi,

Một số chiến lược kinh doanh thường được các TNCs sử dụng như: toàn cầu hóa, đa dạng
hóa, địa phương hóa, chuyển giao và phát triển công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, sáp
nhập và mua lại (M&A),…Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một số chiến lược thường được sử
dụng.
1.3.1. Chiến lược toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh (global integration) chỉ việc tiến hành quản lý hoạt
động rải rác ở các địa phương trong phạm vi quốc tế, trên cơ sở hoạt động duy trì kinh
doanh. Chẳng hạn việc hình thành mạng lưới vận chuyển và lắp đặt linh kiện giữa các ngành
chế tạo tại nhiều quốc gia trên thế giới, thì nhu cầu toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh là do
áp lực giảm giá thành và tăng lợi nhuận đầu tư, áp lực giảm giá thành bắt buộc TNCs phải
xây dựng nhà máy tại các khu vực hay quốc gia có giá nhân công rẻ (chủ yếu là các nước
đang phát triển) như Việt Nam, Đài Loan hay Trung Quốc. Sau đó sản phẩm sẽ được chuyển
từ những nơi này đến thị trường Bắc Mỹ và EU. Áp lực này cũng có thể dẫn đến việc xây
dựng những nhà máy lớn, trình độ chuyên môn hóa cao nhằm tận dụng triệt để lợi thế kinh tế
nhờ quy mô. Các nhà máy của công ty Canon tại Châu Âu hay các xưởng chế tạo của IBM,
Toyota có mặt trên khắp thế giới là các minh chứng điển hình.
9


Trong mọi trường hợp, mục tiêu của toàn cầu hóa vẫn là tận dụng ưu thế giá thành sản
xuất thấp, nguồn nhân công rẻ, nguyên liệu nhiều và đa dạng v.v.
1.3.2. Chiến lược đa dạng hóa
Đây là một trong những chiến lược căn bản nhất của họat động kinh doanh quốc tế, nó
được hầu hết TNCs trên thế giới áp dụng nhằm phân tán rủi ro. Trong tiến trình đa dạng hóa
các hoạt động kinh doanh thì thường mỗi TNC căn cứ vào ưu thế của mình để xây dựng một
mặt hàng chủ lực làm trụ cột rồi sau đó mở rộng dần ra các lĩnh vực khác.
Mục tiêu là thu được lợi nhuận cao, giảm thiểu rủi ro không đáng có. Nguyên nhân chủ
yếu do từng loại sản phẩm thường bị cạnh tranh quyết liệt nếu có nhiều sản phẩm khác cùng
hỗ trợ thì doanh nghiệp sẽ có thể tránh được sức ép cạnh tranh.
1.3.3. Chiến lược địa phương hóa

phổ biến trên thế giới nhất là từ sau các vụ khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính ở
một số quốc gia những năm của thế kỉ XX.
Cho đến thời điểm này, có thể khẳng định mối quan hệ kinh tế của các quốc gia
không chỉ còn dừng lại ở mối quan hệ giao hữu thông thường, nó đã được nâng lên một tầm
cao mới, gần như trở thành một chỉnh thể liên kết kinh tế toàn cầu nhờ có các thương vụ
M&A trị giá hàng nghìn tỷ USD được diễn ra mỗi năm. Điều này làm tăng ảnh hưởng các
quốc gia với nhau khi xuất hiện một biến động dù là rất nhỏ từ nền kinh tế.
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ THẾ GIỚI

TNCs đã có những tác động to lớn đối với sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung
cũng như nền kinh tế của các quốc gia nói riêng. Những tác động đó được thể hiện qua hoạt
động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và chuyển giao
công nghệ.
2.1. Thúc đẩy thương mại quốc tế
Một trong những vai trò nổi bật của TNCs là thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới.
Trong quá trình hoạt động của mình, TNCs đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các
quốc gia và gia công quốc tế. Hay nói cách khác là TNCs thúc đẩy thương mại phát triển
với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng
11


hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty trong cùng
một tập đoàn. TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh
lưu thông xuyên quốc gia của mình.
Thật vậy, nếu tổng giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 1982 là 647 tỷ
USD thì đến năm 1990 là 1.366 tỷ USD, năm 2004 là 3.733 tỷ USD. Và đến năm 2005,
con số này đã tăng gấp 6,5 lần năm 1982 và đạt 4,214 tỷ USD.
Hơn nữa, trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia thì giá trị xuất khẩu của các

TNCs (triệu USD)
của TNCs (%)
24.855
27
133.235
44
59.267
16
61.049
66
43.902
18
6.812
20
34.138
32
157.459
15
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006.

Qua Bảng 1.1 ta thấy TNCs chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của các
quốc gia, đối với Ai-len là 66%, với Trung Quốc là 44%... Một đặc điểm khác cần chú ý là
thương mại nội bộ giữa các công ty trong tập đoàn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng giá trị thương mại thế giới. Nhìn chung trao đổi nội bộ giữa các chi nhánh TNCs
chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới. Giá trị trao đổi nội bộ này ngày càng
12


tăng nhanh và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của các nước. Ví
dụ, trao đổi trong nội bộ TNCs trong ngành sản xuất thiết bị điện, điện tử của Mỹ chiếm


nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ, khủng
hoảng chứng khoán, nợ nần của thế giới thứ 3…
Cần đặt ra những luật lệ khống chế các tác động tiêu cực của TNCs trong lưu thông
hàng hóa và tài chính- tiền tệ.

Bảng 2.2: Tổng giá trị xuất khẩu và đóng góp của các TNCs nước ngoài
Đơn vị: triệu USD
Nước

Trung Quốc

Nhật Bản

Mỹ

Năm

Tổng giá trị xuất
khẩu

Giá trị xuất khẩu của các
TNCs nước ngoài

2000

279,561

119,441


2000

1,096,280

165,321

2001

1,032,830

157,459

2002

1,005,920

150,147

2003

1,045,650

159,590

Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006.
Giá trị của các công ty chi nhánh TNCs đã tăng nhanh ở các khu vực trên thế giới
(giai đoạn 2010- 2012). Theo số liệu của WIR năm 2014 cho thấy, FDI của TNCs từ các
14



nhánh của TNCs thường đi liền với chuyển giao (transfer pricing) - là giá thỏa thuận giữa
các công ty chi nhánh trong cùng một TNC.
 gây thiệt hại cho nước chủ nhà  Đây là vấn đề cần lưu ý đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam hiện nay.
2.1.3. Thay đổi trong cơ cấu đối tác
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương mại thế
giới hiện nay cũng đang dần thay đổi. Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu của các nước đang
phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước công nghiệp mới. Sự thay đổi chiến lược
của TNCs và hệ thống sản xuất quốc tế của chúng mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang
phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt động hướng về xuất khẩu.
Theo báo cáo của UNCTAD năm 2005, trong cơ cấu thương mại thế giới, tỷ trọng thương
mại của các nước đang phát triển chiếm 33,6% trong khi năm 1985 là 30.3%. Mặc dù các
nước phát triển vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong thương mại thế giới (63.5%) song tỉ trọng
thương mại của các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Xét một cách riêng rẽ thì bên
cạnh các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Đức) thì chính những nền kinh tế đang phát
triển (Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan…) lại chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong
thương mại thế giới.
2.2.

Thúc đẩy đầu tư quốc tế

2.2.1. Thúc đẩy tự do hóa đầu tư giữa các nước
• Giảm bớt các rào cản đầu tư quốc tế:
Thông qua việc trực tiếp tham gia các hoạt động đầu tư quốc tế, TNCs đã góp
phần vào quá trình phát triển bền vững của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát
16


triển. Nguồn vốn FDI đến từ TNCs có vai trò quyết định đối với sự phát triển của nhiều
quốc gia. Trong đó, khi quyết định chiến lược đầu tư TNCs không chỉ căn cứ vào đặc


17


so với cả nền kinh tế

Hình 2.3: Hiệu quả điều chỉnh chính sách thông qua vốn đăng kí, giải ngân
FDI và số dự án giai đoạn 1988- 2008

Bảng 2.3: Hiệu quả điều chỉnh chính sách đối với mức tiền công của khu vực FDI

Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006
Theo báo cáo năm 2009 của UNCTAD (diễn đàn thương mại phát triển Liên Hợp
Quốc) thì năm 2008 và nửa đầu năm 2009, mặc dù quan ngại về việc tăng cường bảo hộ
thương mại đầu tư có chiều hướng tăng lên nhưng xu hướng chung trong những chính sách
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status