Quá trình hình thành và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ , giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX. - Pdf 34

Mục Lục
Đề tài: Quá trình hình thành và cơ sở pháp lý chứng minh chủ
quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ , giai đoạn từ thế kỷ
XVII đến thế kỷ XX.

1


A.

MỞ ĐẦU.

Trước hết phải khẳng định rằng hiện nay vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối
với vùng đất Nam Bộ đã được luật pháp quốc gia và quốc tế thừa nhận, khẳng định
và trên thực tế, từ rất lâu, Nam Bộ đã là một bộ phận không thể tách rời của đất
nước Việt Nam. Chính phủ, luật pháp Campuchia hiện này cũng hoàn toàn thừa
nhận điều này. Nhưng do tính chất phức tạp của lịch sử nên cho đến nay về vấn đề
chủ quyền lãnh thổ vẫn còn có những nhận thức chưa thật đầy đủ. Trên cơ sở trình
bày một cách hệ thống diễn biến lịch sử và phân tích những yếu tố khẳng định tính
chất chính đáng, phù hợp với thông lệ quốc tế của quá trình thụ đắc lãnh thổ phía
nam của dân tộc ta, bài luận này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học
và nâng cao thêm hiểu biết về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.
Mặc dù những vướng mắc về biên giới giữa Việt Nam và Campuchia nhiều khi
là những vấn đề cụ thể liên quan tới đường biên giới hiện tại, nhưng cội nguồn của
những vướng mắc đó lại nảy sinh từ lịch sử, trong đó cơ bản nhất, sâu xa nhất là
vấn đề lãnh thổ vùng Nam Bộ. Có một quan niệm cho rằng vùng đất Nam Bộ từ
xưa vốn là lãnh thổ của Campuchia. Lập luận chủ yếu của quan niệm này là đồng
nhất nước Phù Nam ở trung tâm của vùng hạ lưu sông Mê Kông với nhà nước đầu
tiên của người Khmer. Và để giải quyết thoả đáng vấn đề này chúng em sẽ phân
tích về Quá trình hình thành vùng đất Nam Bộ trong tiến trình lịch sử Việt Nam
lịch sử từ thuở sơ khai mở đất cho tới khi Chúa Nguyễn tiến hành Quản lý, Thực


Phần 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA NAM BỘ NÓI RIÊNG VÀ VIỆT
NAM NÓI CHUNG.
I.

Vị trí địa lý

“Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam
Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550
km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía
Đông giáp biển Đông. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài
từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng
nhất trên đất liền khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km.”
Về đặc trưng khí hậu có thể chia ra làm hai vùng miền Bắc và miền Nam, lấy
ranh giới là đèo Hải Vân.
Về đặc trưng vị trí địa lý có thể chia ra thành 3 vùng: Bắc Bộ, Trung Bộ và
Nam Bộ. Riêng Trung Bộ thì được phân thành Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ.
Nam Bộ thì bao gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
II.

Biên giới khu vực và lãnh thổ

Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và biển
Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía bắc, Lào và Campuchia phía tây. Với tổng
chiều dài đường biên giới là 4.639 km trong đó biên giới với các nước: Trung Quốc
là 1.449,566 km, Campuchia là 1137 km, Lào 2067 km.
Khu vực Nam Bộ được tính từ ranh giới tỉnh Bình Phước xuống phía Nam bao
gồm 17 tỉnh và 2 thành phố. Biên giới phía Tây khu vực Nam Bộ giáp với
Campuchia, phía Đông và phía Nam giáp biển.


Năm Kỷ Mùi 1679 một tập đoàn di dân lớn của Trung Quốc hơn 3000 người
đứng đầu là Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch và Tổng binh Cao Lôi Liêm
Trần Thượng Xuyên xin tỵ nạn chính trị ở nước ta. Chúa Hiền cho phép họ xuống
vùng Đông Phố và Mỹ Tho để mở mang đất đai, cất phố lập chợ cho nhân dân sinh
sống và làm ăn.
II.

Quá trình khai phá Đồng Nai – Cửu Long

Vùng Đồng Nai – Đông Phố khi ấy thuộc lãnh thổ Khmer nhưng còn rất hoang
sơ, không được quan tâm chú ý đến.

5


Khi tướng Dương Ngạn Địch kéo xuống chiếm đóng vùng Mỹ Tho còn Trần
Thượng Xuyên ở vùng Đông Phố - Đồng Nai có chạm trán với người Khmer. Do
phong tục cũng như lối sống khác xa nhau nên hai dân tộc không hòa hợp và sinh
ra chán ghét tuy nhiên không một cuộc chiến tranh nào xảy ra mà dần dần người
Cam Bốt rút về miền Thượng Lục Chân Lạp, mặc cho người Hoa và người Việt
khai phá vùng đất này.
Năm 1698 chúa sai thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Đông Phố,
lấy xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa) còn xứ Sài
Gòn thì đặt huyện Tan Bình, dinh Phiên Trấn. Ngoài ra đặt phủ Gia Định để quản
lý hai dinh này.
Từ năm 1711, Mạc Cửu, một thương nhân người Hoa do không phục nhà Minh
đã tìm đường vào vùng đất Chân Lạp để làm ăn buôn bán, lập nên xứ Hà Tiên, sau
thấy Chân Lạp có biến, giặc ngoại xâm dòm ngó vừa thấy triều đình Nhà Nguyễn
địa vị vững chãi, người Việt thế lực phát triển đã dâng đất Hà Tiên và Phú Quốc
cho chúa Nguyễn, dâng biểu xưng thần mong được làm Hà Tiên trưởng và đã được

vững chắc ở vùng biên giới”. Có thể nói, vào cuối thế kỷ XVIII, về cơ bản, chính
quyền phong kiến triều Nguyễn và chính quyền phong kiến Campuchia đã xác lập
và thống nhất với chủ quyền đã được phân chia trong phạm vi chủ quyền của mình.
Tuy chưa có một sự đảm bảo bằng văn bản mang tính luật pháp nào nhưng trước
khi thực dân Pháp xuất hiện ở đây thì biên giới giữa Việt Nam và Campuchia đã
được hình thành và tương đối ổn định. Cố nhiên, đây chưa phải là một “đường biên
giới” theo đúng ý nghĩa đầy đủ của nó, nó chỉ có ý nghĩa tương đối, chưa được
phân vạch và cắm mốc. Nó đơn giản chỉ là ranh giới đất đai, rừng núi, sông suối do
cư dân hai bên giáp biên làm chủ. Dân cư thuộc quốc gia nào thì toàn bộ ruộng
nương, rừng núi mà họ sinh sống thuộc chủ quyền của quốc gia đó.

Hệ thống các văn bản ngoại giao chứng minh chủ quyền
của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.
III.

Trước hết phải khẳng định rằng hiện nay vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối
với vùng đất Nam Bộ đã được luật pháp quốc gia và quốc tế thừa nhận, khẳng định
và trên thực tế, từ rất lâu, Nam Bộ đã là một bộ phận không thể tách rời của đất
nước Việt Nam. Chính phủ, luật pháp Campuchia hiện này cũng hoàn toàn thừa
nhận điều này. Song, lúc này hay lúc khác, người này hay người khác, không phải
không có những ý kiến ngược lại, cho dù họ là thiểu số hoặc ở trong môt thời điểm
nhất định. Mục đích của họ không chỉ là vấn đề đòi lãnh thổ mà qua đó phủ nhận
cơ sở pháp lý của đường biên giới được hình thành trong thời thuộc địa, đi xa hơn,
có người còn muốn trở thành “biên giới lịch sử”. Năm 1959, phái đoàn của
Campuchia ở Liên hiệp quốc đã cho lưu hành một tài liệu với tiêu đề “Nam Kỳ:
lãnh thổ của người Khmer”. Một trong những vấn đề được phía Campuchia nêu ra
là không có một văn bản mang tính pháp lý (cả quốc gia và quốc tế) công nhận chủ
7



quân đội Việt. Vua Thiệu Trị bèn sai Võ Văn Giải sang kinh lý việc Chân Lạp.
Tháng 6 năm Ất Tỵ (1845), Võ Văn Giải vào đến Gia Định, cùng với Nguyễn Tri
8


Phương, Doãn Uẩn, Tôn Thất Nghị, tiến binh sang đánh Chân Lạp. Tiếp theo,
Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem binh truy đuổi liên quân Xiêm La - Chân
Lạp, vây vua Nặc Ông Đôn và tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya
Bodin) ở Ô Đông (Oudon).
Tháng 9 âm lịch năm 1845, Chất Tri sai người sang xin hòa. Qua tháng 11 âm
lịch năm Ất Mùi (tức cuối tháng 11 đầu tháng 12 dương lịch năm 1845) thì Nguyễn
Tri Phương, Doãn Uẩn cùng Chất Tri (Bodindecha) và Ang Duong ký tờ hòa ước ở
nhà hội quán, hai nước đều giải binh. Nguyễn Tri Phương rút quân về đóng ở Trấn
Tây (Nam Vang), đợi quân Xiêm thi hành những điều ước đã định.
Hiệp định này trong đó thừa nhận về mặt pháp lý, Nam Kỳ thuộc về Việt Nam
Sau đó một năm, hiệp ước năm 1846 giữa An Nam và Xiêm đã tái xác nhận về vấn
đề này. Lưu ý là Campuchia cũng tham gia hiệp ước. Với sự kiện này, Raoul Marc
Jennar trong công trình “Các đường biên giới của nước Campuchia cận đại” đã
khẳng định “Về pháp lý, một quá trình bắt đầu từ hơn 200 năm trước đã được thừa
nhận dứt khoát trong một văn kiện pháp lý quốc tế năm 1864, diễn ra 12 năm trước
thời điểm khi các đơn vị quân đội Pháp đầu tiên đến”. Tác giả còn viết tiếp: “Chắc
chắn, với việc tuyên bố chiến tranh với An Nam năm 1859, Campuchia muốn từ bỏ
hiệp ước năm 1846 trong những điều quy định liên quan đến An Nam, nhưng tình
trạng pháp lý được tạo ra như thế không khôi phục được chủ quyền của Campuchia
trên lãnh thổ Nam Kỳ mà Campuchia đã phải từ bỏ qua hiệp ước năm 1846”.
Tháng chạp năm Bính Ngọ (1846), Nặc Ông Đôn dâng biểu tạ tội và sai sứ đem
đồ phẩm vật sang triều cống, nhìn nhận sự bảo hộ song phương của Xiêm và Việt
Nam. Tháng 2 âm lịch năm Đinh Mùi (1847), vua Thiệu Trị phong cho Ang Duong
làm Cao Miên quốc vương (ý trao cho làm chủ toàn cõi Cao Miên gồm cả Nam
Vang lẫn Oudong) và phong cho Ang Mey làm Cao Miên quận chúa (ý trao cho

Pháp sang xâm chiếm và đô hộ. Nội dung Hiệp ước, theo các sử gia thì Hiệp ước
đã công nhận Ang Dương là vua Cao Miên, nhưng Cao Miên nhận là chư hầu của
hai nước Việt và Xiêm; triều đình Huế phong vua Ang Dương làm Cao Miên Quốc
vương, trả lại Cao Miên các quận chúa và hoàng tộc hay đại thần đã bị đem sang
giữ ở Việt Nam và ngược lại, Cao Miên xác nhận các đất Nam Kỳ thuộc về Việt
Nam. Vấn đề quan trọng ở đây là Cao Miên đã chấp nhận là chư hầu của Việt
(cùng với Xiêm). Chính vì Cao Miên chấp nhận làm chư hầu của Việt mà nhiều
học giả cho rằng Việt Nam có “quyền bá chủ” đối với Campuchia . Nhờ quyền bá
chủ này mà về sau, khi đặt nền bảo hộ ở Campuchia (1863), Pháp đã sử dụng
quyền bá chủ đó với Campuchia và đổi quyền bá chủ thành quyền bảo hộ (Hiệp
ước bảo hộ Pháp – Campuchia ngày 11-8-1863 có ghi “… Hoàng đế của người
Pháp đã chỉ định đại diện của mình là Chuẩn Đô đốc De la Grandière, Thống đốc
và Tổng chỉ huy ở Nam Kỳ làm nhiệm vụ giải quyết với đức vua Campuchia các
điều kiện, theo đó Hoàng đế của người Pháp đồng ý chuyển các quyền bá chủ của
mình đối với vương quốc Campuchia thành một nước bảo hộ”). Cố nhiên, việc
Pháp sử dụng “quyền bá chủ” của Việt Nam chỉ là một cách tự hành xử, tự nhận
10


của người Pháp mà thôi chứ trong các văn bản chính thức (như Hiệp ước 1862)
không thấy có điều khoản nào thể hiện Việt Nam đã trao quyền đó cho người Pháp.
3. Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862

11


12


13

4. Hiệp ước Giáp Tuất 1874
Hoà ước Giáp Tuất 1874 là bản hiệp định thứ hai giữa triều Nguyễn và Pháp,
được ký vào ngày 15 tháng 3 năm 1874 với đại diện của triều Nguyễn là Lê Tuấn Chánh sứ toàn quyền đại thần, Nguyễn Văn Tường - Phó sứ toàn quyền đại thần và
đại diện của Pháp là Dupré - Toàn quyền đại thần, Thống đốc Nam Kỳ. Hoà ước
gồm có 22 điều khoản với nội dung chính là thay thế bản Hòa ước Nhâm Tuất
14


1862, công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ, lệ thuộc về chủ quyền
ngoại giao, mở cửa cho Pháp tự do buôn bán tại các cảng biển và trên sông Hồng
cùng tự do truyền đạo.
Sau khi ký Hoà ước Nhâm Tuất 1862, Pháp chiếm đóng và cai trị 3 tỉnh miền
Đông Nam Kỳ. Pháp quyết định xâm chiếm và lấy nốt 3 tỉnh miền Tây còn lại của
Nam Kỳ, và đến năm 1867 họ đã lấy nốt thành công 3 tỉnh này sau khi Kinh lược
sứ Phan Thanh Giản quyết định giao các thành cho Pháp do biết không chống đỡ
nổi.Sau khi củng cố Nam Kỳ, nhân sự rối ren ở Bắc Kỳ, Pháp đã quyết định từng
bước tiến ra với mục đích chiếm lấy Bắc Kỳ. Để mục đích được thuận lợi, Pháp ra
những yêu sách rất ngang ngược với triều đình Huế về các quyền lợi ở Bắc Kỳ rồi
đưa quân ra và chiếm lần lượt các thành Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải
Dương.
Tình hình diễn ra ở Bắc Kỳ cũng như sự chiếm đóng các tỉnh Tây Nam Kỳ dẫn
tới vi phạm vào bản Hòa ước Nhâm Tuất 1862 mà hai bên đã ký, và dẫn tới việc
Pháp thay thế hiệp ước mới bằng bản Hoà ước Giáp Tuất 1874 có lợi hơn cho
Pháp.

15


16


Phạm, họ Hồ, nước Đại Pháp đều
miễn trừ đi lính, đi phu và các thuế
đinh thuế điền.

Văn bản của bộ ngoại giao Paris
Điều 5: Đức Hoàng thượng Vua
nước An Nam công nhận chủ quyền
toàn vẹn của nước Pháp trên các
vùng lãnh thổ do nớc Pháp hiện đang
chiếm giữ và bao gồm trong trong
các giới hạn như sau:
Về phía Đông: vùng biển Trung
Quốc và Vương Quốc An Nam (tỉnh
Bình Thuận);
Về phía Tây: vịnh Xiêm La (Thái
Lan);
Về phía Nam: vùng biển Trung
Hoa;
Về phía Bắc: Vương quốc
Campuchia và Vương quốc An Nam
(tỉnh Bình Thuận);
Mười một ngôi mộ của họ Phạm ở
trên đất các làng Tân Niên Đông và
Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và ba
ngôi mộ của họ Hồ ở trên các làng
Linh Chung Tây và Tân Mai (tỉnh
Biên Hòa), không thể bị mở ra, đào
xới, xâm phạm hay hủy hoại được.
Sẽ cấp một lô đất rộng 100 mẫu cho
các ngôi mô nhà họ Phạm và một lô

hợp”. Lời văn trên chứng tỏ cả Campuchia và Xiêm đều công nhận Nam Kỳ là một
vùng đất không phải là của Campuchia (“Campuchia nằm giữa các lãnh thổ Xiêm,
Nam Kỳ”); điều đó cũng có nghĩa là vùng đất Nam Kỳ thuộc về Việt Nam.
Dưới đây là bản trích của hiệp ước bí mật này:
Với mong muốn thịnh vượng và hạnh phúc gia tăng và bao trùm lên đất nước
Campuchia
Giữa một bên là ông Phya Rajawaranukul, người được trao toàn quyền của Đức
vua Xiêm Somdetch Phra Paramendr Maha Mongkut và của các Bộ trưởng trong
Nội các Hoàng gia để giải quyết các vấn đề của Căm-phu-chi-a, và bên kia là ông
Phra Norodom Phrom Briraksa Maha Uparat, Khâm sai của Quốc vương
Campuchia, ông Phra Harirat Danai Krai Keofa, cùng với các nhà quý tộc
Campuchia sau đây:
Phya Sri Thamarat, Phya Kalahom, Phya Wang Waravenchai, Phya Phi Phit
Sorakrai, Phya Chakri Thebodi, Somdetch Chaitha Montri, Somdetch Chow Phya
Waratom Pahu, Phya Attibodi Senath đã ký một hiệp ước nhằm bảo đảm hoà bình,
phồn vinh cho các quan cai trị và cư dân Campuchia.
Mong muốn các nhà chức trách các tỉnh, các thương nhân đến Campuchia nắm
được Hiệp ước này và chấp hành đúng vì các vua nước Xiêm đã giúp Campuchia
rất nhiều trong việc giúp đỡ, bảo vệ Campuchia từ khi bắt đầu thời kỳ hiện tại.
Campuchia nằm giữa các lãnh thổ Xiêm, Nam Kỳ và các vùng đất thuộc Pháp,
do đó đây là lúc thích hợp để ký kết một Hiệp ước giải quyết những vấn đề cũ và
mới dùng làm kim chỉ nam cho các nhà cai trị và các nhà quý tộc của Campuchia,
hiện nay và trong tương lai, cũng như các nhà cai trị các bang khác nhau của Xiêm.
Tất cả mọi người phải làm theo đúng các điều khoản của Hiệp ước này.

20


6. Quyết định về việc phân định đường biên giới Campuchia



21


Đường biên giới vẫn giữ nguyên như đã xác định từ cột mốc số 1 (ở cửa sông
Prach-Prien) cho đến cột mốc số 16 (ở Ta-Sang trên sông Cái Cậy).
Vùng đất nằm giữa Cái Bạch và Cái Cậy thuộc lãnh thổ của Pháp (với thu nhập
hàng năm vào khoảng 1.000 fr) sẽ được chuyển nhượng cho Campuchia để đổi lấy
486 ngôi nhà tạo thành các làng ở khu vực Sóc Trăng và Bang-Chrum.
Cột mốc số 17 và 18 và các số tiếp theo cho đến Hung-nguyên sẽ được huỷ bỏ;
Campuchia giữ lại toàn bộ khu vực lãnh thổ hiện có người Campuchia của các tỉnh
Preyveng Boni Fuol, Sóc-Thiet sinh sống.
Đường ranh giới sẽ được xác định sau và phía Pháp sẽ tiếp tục sở hữu dải đất
chạy dọc theo sông Vàm Cỏ, do người An Nam cư trú hoặc khai thác.
Sài Gòn, ngày 09 tháng 7 năm 1870
VIAL-RHEINART
Chuẩn y:
Quốc vương Campuchia NORODOM
Thống đốc, Phó Đô đốc Hải quân:
DE CORNULIER-LUCINIÈRE

Thỏa ước về việc xác định đường biên giới giữa Vương
quốc Canpuchia và Xứ Nam Kỳ thuộc Pháp ( 15/7/1873)
7.

Ngài Préa Bat Som Dâch Prea Norodom Baroui Réam Té Véa Tanâ Préa Chau
Crung Campuchia Thip Phdey, vua Campuchia,
Và ông Phó Đô đốc Hải quân Dupré (Marie-Jules), Thống đốc và Tổng tư lệnh
xứ Nam Kỳ, thay mặt Chính phủ Pháp;
Mong muốn xác định dứt điểm, qua thoả thuận, đường biên giới giữa Vương


Đã ký
Phó Đô đốc Hải quân DUPRÉ

Ngày 15-7-1873, Quốc vương Campuchia Nôrôđôm và Thống đốc Nam Kỳ,
Chuẩn đô đốc Dupré nhân danh Chính phủ Pháp đã ký Thỏa ước về biên giới giữa
Vương quốc Campuchia và Nam Kỳ thuộc Pháp. Đường biên giới được hai bên
nhất trí thỏa thuận lần này có đặc điểm nổi bật so với đường biên giới trong thỏa
ước 1870. Đó là một đường biên giới được xác định dứt khoát và dựa vào các con
sông hay các biến đổi địa hình khá ổn định và rõ ràng để tránh mọi tranh chấp về
sau. Thỏa ước cũng đã quy định các điểm chính mà đường biên giới sẽ đi qua.
Điểm xuất phát là tại cột No 1 đặt trên bờ con sông nhỏ Tonle Tru đến làng Giang
Thành và từ đó đi thẳng đến Hà Tiên.
23


Với hai Thỏa ước nói trên đường biên giới giữa Campuchia và Nam Kỳ đã
được xác lập. Tuy nhiên do có những phát sinh trong quá trình quản lý thực tế, nên
sau đó, đường biên giới này – dù được xác định là “dứt khoát” như trong Thỏa ước
1873 – đã được sửa đổi, điều chỉnh ở một số điểm bởi các Nghị định khác nhau của
Toàn quyền Đông Dương. Cụ thể:
1. Nghị định ngày 10-12-1898: sửa đổi một đoạn trên biên giới giữa Tây Ninh
và tỉnh Svey-riêng.
2. Nghị định ngày 20-3-1899: điều chỉnh đoạn biên giới từ mốc No 41 đến mốc
No 50 thuộc tỉnh Long An và Svey – riêng.
3. Nghị định ngày 31-7-1914: Nghị định này có 4 điều, trong đó có 3 điều sửa
đổi biên giới liên quan đến các đoạn biên giới:
* Đoạn biên giới giữa tỉnh Hà Tiên và Campot.
* Đoạn biên giới giữa tỉnh Tây Ninh và Prey-veng.
* Đoạn biên giới giữa tỉnh Thủ Dầu Một và Kôngpông Chàm.

Campuchia cho Nam Kỳ. Như vậy trái với Hiệp ước Pháp – Xiêm ngày 15-71867).
Về vấn đề này, các nhà luật học cho rằng, tuy sự cam kết có lợi cho Campuchia
nhưng Campuchia không phải là một trong các bên tham gia ký Hiệp ước (chỉ là
bên thứ 3 có liên quan), do vậy, về phương diện pháp lý, Campuchia không đủ tư
cách để bắt buộc Pháp hay Xiêm phải thi hành các điều đã cam kết. Các nhà luật
học còn cho biết rằng đã từng có các án lệ quốc tế diễn ra theo chiều hướng này.
Mặt khác, bản thân lời văn của Hiệp ước đã phân biệt hai đối tượng rõ ràng:
một bên là Campuchia (thuộc xứ bảo hộ) và một bên là Nam Kỳ (thuộc xứ thuộc
địa). Nên khi Pháp cam kết không sát nhập (thôn tính) Campuchia vào Nam Kỳ thì
chỉ có thể hiểu rằng Pháp cam đoan duy trì chế độ bảo hộ của họ ở Campuchia và
không biến Campuchia thành xứ thuộc địa như Nam Kỳ.
Cũng không nên quên rằng, vào thời điểm ký hai Thỏa ước này, Nôrôđôm vẫn
còn là Vua của một quốc gia. Dù đó là Vua của một quốc gia được đặt dưới sự bảo
hộ của Pháp, thì về mặt pháp lý, vẫn còn có địa vị tương đối. Do vậy, không thể nói
rằng các Thỏa ước này là vô hiệu.

Bối cảnh dẫn tới hiệp ước Elysée ngày 8 tháng 3 năm
1949 - Pháp trao trả Nam kỳ cho Việt Nam
8.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, lực lượng Việt Minh, do lãnh tụ Đảng Cộng
Sản Đông Dương Hồ Chí Minh lãnh đạo giành được chính quyền, tuyên bố thành
lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Vua Bảo Đại buộc phải thoái vị.
Năm 1946, đàm phán giữa Pháp và chính Phủ Hồ Chí Minh thất bại, chiến sự
đông dương bùng nổ. Người Pháp đã gặp phải sự chống cự quyết liệt và có hiệu
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status