CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niêm về hiệu quả
1.1.1 Khái niệm
Đối với tất cả các doanh nghiệp, việc tối đa hóa lợi nhuận là vô cùng quan trọng,
vậy hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh là gì? có rất nhiều tác
giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
Theo P.Samuellson và W.Nordhaus thì "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội
không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt
hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của
nó".
Thực chất của quan niệm này là đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho
nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao
nhất, là lý tưởng và không có mức hiệu quả cao hơn nữa. Hai tác giả Wohe và
Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng
đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái
niệm này hoàn toàn khác nhau: "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị
hiện vật (chiếc, kg…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,
nguyên vật liệu…). Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị của hai ông chính
là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả
tính bằng giá trị là hiệu quả hoạt động quản trị chi phí…
Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì ta có thể đưa ra khái niệm chung
như sau: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi
dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác)
nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
1.1.2Bản chất
Phản ảnh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phản ảnh trình độ lợi dụng các nguồn lực đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên để hiểu và ứng dụng được phạm trù hiệu quả kinh doanh vào việc xác lập
các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tới hiệu quả các hoạt động sản xuất
Xét về tính hiệu quả trước mắt (hiện tại) thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu
hiện tại mà doanh nghiệp đang theo đuổi.
Trong thực tế để thực hiện mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi
nhuận, có rất nhiều doanh nghiệp không đạt được mục tiêu về lợi nhuận mà lại
thực hiện các mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao
uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu… Do đó mà các chỉ tiêu hiệu quả ở đây về lợi nhuận là không cao
nhưng chỉ tiêu liên quan đến các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp là cao. Vì vậy,
chúng ta không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động không có hiệu quả,
mà phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả.
Như vậy các chỉ tiêu hiệu quả mà tính hiệu quả trước mắt có thể là trái với
các chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ
tiêu hiệu quả lâu dài.
1.1.3 Phân loại
1.1.3.1 Hiệu quả kinh doanh
Theo cách hiểu thông thường hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả tài chính là
hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Hiệu quả
kinh doanh được tính bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, được xác định
trong mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra với thu nhập mang lại.
Theo cách hiểu suy luận: Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ quản lý và năng
lực kinh doanh của tổ chức đó nhằm đảm bảo thu được kết quả cao nhất theo
những mục tiêu đã đặt ra với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh tế cần được xem
xét 1 cách toàn diện về cả mặt định tính và định lượng:
Về định tính: Hiệu quả kinh tế được phản ánh ở trình độ và năng lực quản lý
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Về định lượng: hiệu quả kinh tế của một tổ chức kinh doanh được đo lường
bằng hiệu số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Chênh lệch giữa kết quả và
chi phí càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại.
Thông qua việc tính toán hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt được ở mức
Xét trên góc độ tính toán, có các chỉ tiêu chi phí tổng hợp (mọi chi phí bỏ ra
để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh) và chi phí bộ phận (những chi phí
cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó). Việc tính toán hiệu quả chi phí tổng hợp
cho thấy hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp hay nền kinh tế quốc dân.
Còn việc tính và phân tích hiệu quả của các chi phí bộ phận cho thấy sự tác động
của những yếu tố nội bộ sản xuất kinh doanh đến hiệu quả kinh tế nói chung. Về
nguyên tắc, hiệu quả chi phí tổng hợp thuộc vào hiệu quả chi phí thành phần.
Nhưng trong thực tế, không phải các yếu tố chi phí thành phần đều được sử dụng
có hiệu quả, tức là có trường hợp sử dụng yếu tố này nhưng lại lãng phí yếu tố
khác. Nói chung muốn thu được hiệu quả kinh tế, hiệu quả do sử dụng các yếu tố
thành phần nhất thiết phải lớn hơn so với tổn thất do lãng phí các yếu tố khác
gây ra.
1.1.3.4 Hiệu quả của từng yếu tố
Hiệu quả sử dụng vốn:
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua hiệu suất sử dụng
vốn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp.
Vốn lưu động:
Cần có những biện pháp tích cực hơn để đẩy nhanh tốc độ quay của vốn lưu
động, rút ngắn thời gian thu hồi vốn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp.
Vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp được thể hiện qua mức sản
xuất và mức sinh lợi của tài sản cố định. Hai chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả
sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng cao.
Hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp
Đánh giá ở mức sinh lợi bình quân của lao động trong năm. Năng suất lao
động bình quân đầu người của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần chú trọng đến
việc sử dụng lao động, biểu hiện bằng số lao động giảm và sản lượng tăng dẫn
đến chi phí thấp về tiền lương.
1.1.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả