Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của
các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
1.1. Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong sự
nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nớc
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp (DNHĐTLDN)
Luật Doanh nghiệp Việt Nam đợc ban hành ngày 12/6/1999 xác định Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh .
Các doanh nghịêp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp đợc quy định bao gồm: công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp t nhân.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành
viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy
tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ cuả công ty; thành viên
góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp
danh không đợc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Doanh nghiệp t nhân (DNTN) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Khác với doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần là loại hình doanh
nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tơng ứng với phần vốn góp,
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào
doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) là doanh nghiệp trong đó phần vốn góp của tất cả các thành
viên phải đợc đóng góp đủ ngay khi thành lập và đợc ghi rõ trong điều lệ của công ty, số lợng thành viên không
vợt quá 50. Công ty không đợc quyền phát hành cổ phiếu.
Công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi
là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua 1 hoặc nhiều cổ phiếu, số lợng
cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lợng tối đa. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, lấy số liệu minh họa và cũng không ảnh hởng đến kết quả nghiên
cứu vì số lợng các công ty hợp danh không nhiều nên trong đề tài tôi không đề cập đến các công ty hợp danh.
1.1.2. Đặc điểm, u điểm và hạn chế của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
nhỏ, cơ chế quản lý không cồng kềnh, phức tạp, nên chủ doanh nghiệp dễ dàng ra quyết định, khi gặp khó khăn
doanh nghiệp dễ xoay chuyển tình hình, dễ thống nhất nội bộ.
- Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thờng rõ ràng và đơn
giản là thu lợi nhuận tối đa, ít bị các mục tiêu kinh tế xã hội khác chi phối nh đối với các doanh nghiệp Nhà nớc.
- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp là khu vực thu hút khá nhiều vốn trong dân,
không ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nớc.
- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có tỷ suất vốn đầu t trên lao động thấp hơn so
với các doanh nghiệp lớn nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
1.1.2.3. Hạn chế của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
- Quy mô của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thờng nhỏ, trang thiết bị lạc hậu và
lao động phổ thông chiếm một tỷ trọng cao. Do đó khả năng cạnh tranh nhất là trên thị tr ờng thế giới rất kém.
Hiện nay khoảng 95% số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong nớc đợc xếp vào hạng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm 2001 quy mô vốn trung bình của các doanh nghiệp t nhân khoảng 525 triệu
đồng, công ty cổ phần là 4,9 tỷ đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn khoảng 1,1 tỷ đồng.
- Thiếu hẳn khả năng nghiên cứu và phát triển để đáp ứng những thay đổi diễn ra trong nền kinh tế thị
trờng.
- Yếu kém trong quan hệ kinh doanh và mạng lới tiêu thụ sản phẩm. Tiêu thụ sản phẩm trên cả thị trờng
trong nớc và thị trờng nớc ngoài còn là một trong những hạn chế lớn của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp. Cụ thể là thiếu các thông tin về giá, về thị trờng.
- Một số lớn chủ doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp do cha qua đào tạo cơ bản nên khả
năng lãnh đạo điều hành kém, cộng với sự ít hiểu biết về pháp luật trong kinh doanh và thái độ chấp hành luật
pháp kém, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Hiện tợng sử dụng lao động không ký hợp
đồng lao động, không đóng bảo hiểm cho ngời lao động, không bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động... còn
phổ biến. Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2000 mới có 24,2% số lao động trong các doanh
nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội.
- Việc thực hiện pháp lệnh về tài chính và thống kê của Nhà nớc trong các doanh nghiệp này cha đợc
thực hiện nghiêm túc, làm cho Nhà nớc khó kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, gây ra tình trạng thất thoát
thuế trầm trọng. Các thủ đoạn trốn thuế phổ biến là không kê khai nộp thuế hoặc xin nghỉ kinh doanh nhng vẫn
hoạt động, khai tăng chi phí và giảm giá bán, giảm doanh số để giảm mức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp,
thông đồng với cán bộ thuế để giảm mức nộp thuế... Theo thống kê của 48 địa phơng tính đến 30/5/2001 có 16%
Doanh nghiệp Nhà nớc 40,17 38,74 38,52 38,59
DNHĐTLDN 7,07 7,26 7,30 7,97
Hợp tác xã 8,94 8,84 8,88 8,21
Hộ gia đình và nông dân 33,99 32,93 32,31 32,13
Khu vực đầu t nớc ngoài 9,82 12,23 12,99 13,10
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Mấy năm gần đây, tỷ trọng của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong GDP có xu
hớng ngày càng tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do Đảng và Nhà nớc đã đa ra đợc những chủ trơng, đờng lối và
chính sách khuyến khích các doanh nghiệp này phát triển.
- Trình độ lực lợng sản xuất của nớc ta còn thấp, trong khi tiềm năng phát
triển của nền kinh tế vẫn còn lớn nhng khả năng khai thác thì hạn chế. Sự độc
chiếm của hình thức sở hữu Nhà nớc và sở hữu tập thể không cho phép khai thác
hết những tiềm năng to lớn của đất nớc ( đặc biệt nh tiềm năng về lao động, vốn,
đất đai,...). Chỉ có con đờng phát triển các thành phần kinh tế hoạt động theo Luật
doanh nghiệp mới có khả năng khai thác hết các tiềm năng của đất nớc. Nói cách
khác không thể phát triển đợc lực lợng sản xuất khi không cho phép các thành
phần kinh tế hoạt động theo Luật doanh nghiệp phát triển.
Bảng 1.2. Số lợng các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đăng
ký kinh doanh hàng năm
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Tính đến 31/10/2001 số lợng doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trên địa
bàn cả nớc là 66780 doanh nghiệp. Trong số các doanh nghiệp này thì 38% là đợc đăng ký
kinh doanh từ năm 1991-1995, 25,5% là từ năm 1996-1999, còn 36,5% là đợc đăng ký từ năm
2000 đến 31/10/2001. Tính từ đầu năm 2000 đến hết tháng 10 năm 2001 số doanh nghiệp
hoạt động theo Luật doanh nghiệp đăng ký kinh doanh là 24387 doanh nghiệp, nhiều hơn cả
số đăng ký 5 năm trớc cộng lại.
Trong số 66780 doanh nghiệp này thì loại hình doanh nghiệp t nhân chiếm 58,75%,
công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 38,68%, công ty cổ phần chỉ chiếm 2,55%. Nh vậy, trong
số các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp t nhân
chiếm tỷ trọng lớn nhất.