[HOT] Tuyển tập 30 đề thi thử THPT Quốc Gia 2016 môn Ngữ Văn cực hay (có đáp án chi tiết) - Pdf 34


Bạn thân mến,

Ai cũng muốn mình học tốt, đạt điểm cao. Phương pháp thì trên mạng cũng có đầy
rẫy. Quan trọng là thực hành thế nào chứ nói thì ai chẳng nói được. Tôi luôn chủ
trương những gì mình đã làm được hoặc mình chứng thực là hiệu quả thì mới đưa
chia sẻ với các bạn.

Có câu: “Muốn bắt được cọp thì phải vào hàng cọp”. Muốn thực sự thành thạo
trong thi THPT Quốc gia thì cách tốt nhất là làm các đề thi thử. Bạn chỉ cần làm
thường xuyên, đều đặn và sau khi làm so sánh với kết quả, bạn sẽ phát hiện được
lỗ hổng kiến thức của mình để có phương pháp ôn phù hợp. Tôi đã từng nói
chuyện với nhiều học sinh có điểm thi cao và nhận thấy đó là cách học của những
học sinh xuất sắc. Trong các môn khác cũng vậy, chỉ có TẬP, TẬP, VÀ TẬP thì
bạn mới thành thạo thôi, không có phương pháp nào hiệu quả hơn thường xuyên
luyện tập. Thêm nữa, luyện tập sẽ củng cố và giữ gìn phong độ của bạn luôn ổn
định để chuẩn bị cho kỳ thi chính thức.

Thế nên tôi tổng hợp bộ đề thi thử này để bạn tham khảo và luyện tập. Nếu muốn
cập nhật thêm tài liệu, đề thi, kiến thức từ tôi, bạn có thể theo dõi fb:

/>Thân mến,
Th.s Đức Hưng


Luyện thi thpt quốc gia môn Văn - Bí quyết kiếm điểm
Môn Ngữ văn thi theo hình thức tự luận, thời gian làm bài là 180 phút, đánh giá thí sinh
ở các mức độ tư duy: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao.
Đề thi năm nay theo TS. Minh Nguyệt về mặt dung lượng, có thể dài hơn đề thi của các
năm trước, gồm nhiều tờ giấy thi. Nhưng nếu đã nắm được cấu trúc của đề, chắc hẳn các em
sẽ không ngỡ ngàng để bình tĩnh hoàn thành bài làm của mình

cuộc sống…
Khi làm câu hỏi này, các em cần đọc kĩ câu hỏi, câu trả lời cần viết ngắn gọntheo đúng
yêu cầu. Các em không nên viết câu trả lời quá dài (không cần phải viết thành bài văn, đoạn
văn).
Phần làm văn:
Câu nghị luận xã hội: Về mặt hình thức, đề bài yêu cầu các em viết một bài văn ngắn
(thường là 600 từ), nên bài làm của các em phải có cấu trúc hoàn chỉnh của một bài văn:
gồm 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài).Phần thân bài, các em nên viết một số đoạn văn, mỗi
đoạn triển khai một luận điểm.
Về nội dung, các em cần đọc kĩ đề bài để trả lời câu hỏi: đề bài yêu cầu nghị luận về vấn
đề gì? Từ đó, xác lập các ý cho bài văn. Khi đánh giá vấn đề tư tưởng, đạo lí hoặc hiện
tượng xã hội, người viết cần đứng trên lập trường của tư tưởng nhân văn, tiến bộ, vì lợi ích
cung của cộng đồng để xem xét, đánh giá. Bài viết cần phải có luận điểm rõ ràng, luận cứ
cụ thể, lập luận chặt chẽ. Có thể nói, sức hấp dẫn của bài văn nghị luận xã hội là ở các dẫn
chứng (trong lịch sử, thực tiễn cuộc sống và trong văn học). Vì thế, các em nên chọn dẫn
chứng càng cụ thể, sinh động càng thuyết phục; tránh chỉ bình luận chung chung, dễ dãi,
tản mạn.
Câu nghị luận văn học: Về mặt hình thức, bài làm của các em cũng phải có cấu trúc
hoàn chỉnh của một bài văn (gồm 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài).

Về nội dung, đề bài nghị luận văn học có các dạng bài rất phong phú như: phân tích,
cảm nhận về một tác phẩm, một đoạn trích, một hình tượng, một chi tiết trong tác phẩm; so
sánh văn học; nghị luận về hai ý kiến đối với một tác phẩm, một đoạn trích; nghị luận về


một vấn đề văn học… Vì thế, yêu cầu đầu tiên là các em cần đọc thật kĩ đề bài, xác định
“trúng” vấn đề cần nghị luận.Sau đó, các em nên gạch ra một vài ý là luận điểm của bài làm
để triển khai bài viết. Lưu ý là, khi phân tích thơ, phải trích dẫn thơ; phân tích văn xuôi phải
đưa ra được dẫn chứng.
Khi làm bài, các em cần chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác

Chia nhau tin vui
Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng
Chúng tôi coi thường gian nan
Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
Ngày mai đảo sẽ nhô lên
Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
Hoàng Sa, Trường Sa
Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
Đảo à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4 - 1982
(Trích Hát về một hòn đảo - Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr.51)

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ,
hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo long
lanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5
đến 7 dòng)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của
người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con - Người của mỗi sinh thể người.
Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi
nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của
mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào,

- Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? - Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
- Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính - bỗng mụ đỏ mặt - nhưng cái lỗi chính là
đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
- Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về,
cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
- Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi.
- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu... Giá
mà lão uống rượu... thì tôi còn đỡ khổ... Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão... đưa tôi lên bờ mà
đánh...
- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của
người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông...
- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải
có một người đàn ông... dù hắn man rợ, tàn bạo?
- Phải - Người đàn bà đáp - Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có
người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên
dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải
gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất
được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! - Lần đầu tiên trên khuôn mặt
xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười - vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái
chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.
- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi.
- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.75-76)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó,
bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu

3 - Hiệu quả: làm nổi bật vẻ đẹp của những quần đảo; thể hiện tình yêu, niềm tự
hào về biển đảo. (0,25 điểm)
4
5
6
7
8
II
1

Bày tỏ được tình cảm chân thành, sâu sắc dành cho những người lính đảo.
Phương thức biểu đạt chính là nghị luận.

0,50
0,25

Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là do bệnh vô
cảm, do sự xuống cấp nghiêm trọng về ý thức nhân văn.
Thái độ của tác giả khi bàn về hiểm họa vô cảm: lo ngại, trăn trở...

0,25

Thể hiện được suy nghĩ chân thành, sâu sắc trước hiện tượng: có những người
“chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô
héo dần”.
LÀM VĂN
Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Việc rèn luyện kĩ năng
sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận



Nội dung
- Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản thân.
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

2

Điểm
0,25
0,25
0,25

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích. Từ đó,
bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của Nguyễn
Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

4,0

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

0,25

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển
khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,50


e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm
--------- Hết ---------

2


SỞ GD & ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC
Đề thi có 02 trang

ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LẦN 1 LỚP 12
NĂM HỌC 2015-2016
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 3
MÙA XUÂN XANH
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi người yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.
(Nguyễn Bính, theo Thơ Nguyễn Bính, NXB Giáo dục, 2002)

Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý
kiến trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
(Trích Tây Tiến – Quang Dũng)
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
-------------------------HẾT------------------------

Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />

SỞ GD &ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC

Câu Ý
I

ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN CHẤM KÌ THI
KHẢO SÁT KHỐI 12 LẦN 1
MÔN: NGỮ VĂN

Nội dung


chung là Đại Trường Sa đảo.
- Thứ hai, đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng thì tên Vạn
Lí Trường Sa xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn thổ
của Phan Huy Chú.
- HS biết cách viết đoạn văn theo đúng qui định về số câu.
- Thể hiện suy nghĩ, thái độ và có ý thức hành động về việc bảo vệ
chủ quyền dân tộc nói chung và quyền biển đảo nói riêng.

0,25

3

4

5

6

II
1

0,25
0,5

0,25

0,25
0,5

0,5

trọng; giá trị cao quí của nghề nghiệp là do con người làm nên chứ
không phải do bản thân nghề nghiệp đó.
Bàn luận ý kiến
- Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người.
+Bản thân nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người,
sự cao quí ấy phải do tự thân con người làm nên trong quá trình
thực hiện nghề nghiệp của mình
+ Trong xã hội, không có nghề tầm thường, bất cứ nghề nào mang
lại lợi ích cho con người và cộng đồng đều đáng được trân trọng,
tôn vinh.
- Chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp.
+ Thước đo giá trị nghề nghiệp là hiệu quả và phẩm chất đạo đức
của người lao động trong công việc.
+ Sự cao quí của nghề nghiệp là do con người biết đem hết tài
năng, sức lực và phẩm chất đạo đức của mình để làm nên các giá
trị vật chất hoặc tinh thần, giúp cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp
hơn.
-Phê phán một số quan niệm lệch lạc trong xã hội hiện nay khi cho
rằng có nghề cao quí, có nghề tầm thường và chạy theo những
ngành nghề chỉ đem lại lợi ích trước mắt cho cá nhân.
Bài học nhận thức và hành động.
- Cần phải biết chọn nghề phù hợp với năng lực và trình độ của
bản thân.
- Cần nuôi dưỡng niềm say mê, tình cảm yêu nghề để có thể tận
tâm và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về
vấn đề nghị luận
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu


0,25

0,5

Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />

-Giới thiệu khái quát về hai tác giả, hai tác phẩm
+ Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài
với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn. Còn Tố Hữu (19202002), quê ở Huế, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng
Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc.
+ Tây Tiến (1948), Việt Bắc (1954) đều là những thành tựu đặc
sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không
thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch
sử dân tộc.
-Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
+ Vị trí đoạn thơ: nằm ngay phần mở đầu của bài thơ.
+ Nội dung:
 Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhơ da diết, vời vợi về miền Tây và
người lính Tây Tiến.
 Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu mà
thơ mộng; con người miền Tây gian khổ mà hào hoa.
+ Nghệ thuật:
 Hình ảnh thơ có sự hài hòa giữa nét thực và ảo, vừa mông
lung vừa gợi cảm về cảnh và người (bút pháp lãng mạn).
 Nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc
(câu mở đầu như một tiếng gọi vang vọng vào không gian),
giữa mật độ dày những âm vần (rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi)
với điệp từ nhơ và lối đối uyển chuyển (câu 3 với câu 4) đã
tạo ra một âm hưởng tha thiết, ngậm ngùi.
- Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu

góp phần thể hiện sâu sắc nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung
của người về.
- So sánh hai đoạn thơ (0,5)
+ Điểm tương đồng:
 Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ của người trong cuộc: tha
thiết, bồi hồi, sâu lắng về thiên nhiên và con người một thời
gắn bó, yêu thương trong kháng chiến.
 Đều thể hiện phong cách thơ độc đáo, tấm lòng thủy chung
son sắt của những người trong cuộc đối với những mảnh đất
một thời gắn bó.
+ Điểm khác biệt:
 Nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng được bộc lộ trực tiếp, cụ
thể: nỗi nhó đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi bật lên
thành tiếng gọi Tây Tiến ơi. Hai chữ chơi vơi vẽ ra trạng
thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ và nỗi nhớ
da diết, thường trực, ám ảnh, mênh mông bao trùm cả
không gian, thời gian. Nỗi nhớ của Tố Hữu trong đoạn thơ
dùng nỗi nhớ tình yêu để khẳng định nỗi nhớ với quê hương
cách mạng.
 Hai đoạn thơ (cũng như toàn bài thơ) sử dụng hai hình thức
khác nhau để bộc lộ cảm xúc: Tây Tiến sử dụng thể thơ thất
ngôn trường thiên. Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát.
+ Lí giải:
* Hai bài thơ đều được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống
Pháp.
* Quang Dũng và Tố Hữu là hai nhà thơ, hai chiến sĩ, viết về nỗi
nhớ của người trong cuộc. Mỗi nhà thơ có phong cách sáng tạo
nghệ thuật riêng.
- Đánh giá chung về giá trị hai đoạn thơ:
Với hồn thơ đậm đà tính dân tộc, lãng mạn, hào hoa, phóng

Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ mong ngày được hái
Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.
(Mẹ và Quả - Nguyễn Khoa Điềm)
Câu 1 (0.5 điểm): Bài thơ trên chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung chính của bài thơ?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai câu thơ sau và
nêu tác dụng nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:
“Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống”
Câu 4 (1.0 điểm): Viết khoảng 5 đến 7 dòng bộc lộ cảm xúc của em khi đọc hai câu thơ cuối
bài?
Phần II: Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm):
Em sẽ chọn nghề gì trong tương lai? Trình bày quan điểm của em về việc lựa chọn
nghề nghiệp cho bản thân?
Câu 2 (4,0 điểm):
Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />

Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người qua đoạn thơ sau:
Ta về, mình có nhớ ta

0,5

b. Nội dung chính của bài thơ: Thể hiện cảm động tình mẫu tử thiêng liêng: tình mẹ
dành cho con và tình cảm yêu thương, kính trọng, biết ơn chân thành của người con

0.5

đối với mẹ.
c. Những biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong câu hai câu thơ: Nhân hóa (bí
và bầu cũng “lớn”), đối lập (Lớn lên, lớn xuống); hoán dụ (tay mẹ).

0.5

Tác dụng nghệ thuật: (“Bí và bầu” là thành quả lao động “vun trồng” của mẹ;
“Con” là kết quả của sự sinh thành, dưỡng dục, là niềm tin, sự kỳ vọng của mẹ) =>
Nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng và công lao trời bể của mẹ, đồng thời thể hiện nỗi
thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với mẹ.

0.5

d. Câu thơ “Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi / Mình vẫn còn một thứ quả non
xanh”, bằng nghệ thuật nói giảm nói tránh “mỏi” và biện pháp ẩn dụ “quả non
xanh”, tác giả thể hiện nỗi niềm lo lắng đến hốt hoảng khi nghĩ đến một ngày mẹ

0.5

tuổi đã già mà mình vẫn chưa đủ khôn lớn, trưởng thành, vẫn là “một thứ quả non
xanh”, chưa thể thành “trái chín” mẹ mong.
Qua lời tâm sự của tác giả khi nghĩ về mẹ, tự trong lòng mỗi chúng ta dấy lên
lòng kính yêu vô hạn đối với cha mẹ và mỗi người đều tự nhủ phải sống sao cho


0.5

hay tinh thần nào đó đáp ứng được những nhu cầu xã hội và đem lại lợi ích thiết
thực, lâu dài cho bản thân.
* Bàn luận về việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai:
- Nghề nghiệp là vấn đề gắn bó lâu dài với cuộc sống mỗi người:

1.5

+ Nếu lựa chọn đúng nghề, ta sẽ có niềm say mê, hứng thú với công việc, có cơ
hội phát huy năng lực …
+ Nếu lựa chọn sai nghề ta sẽ mất cơ hội, công việc trở thành gánh nặng …
- Thuận lợi, khó khăn trong việc lựa chọn nghề hiện nay:
+ Thuận lợi: xã hội ngày càng phát triển, ngành nghề ngày càng đa dạng, mở ra
nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp cho thanh niên.
+ Khó khăn: Nhu cầu xã hội ngày càng cao đòi hỏi chất lượng tay nghề của người
lao động phải giỏi; Một số ngành được xã hội đề cao hứa hẹn mức thu nhập tốt thì
lại có quá nhiều người theo học dẫn tới tình trạng thiếu việc làm …
- Quan điểm chọn nghề: (HS trình bày quan điểm kết hợp với phân tích, đưa dẫn
chứng)
+ Phải phù hợp với năng lực và niềm say mê, sở thích của bản thân
+ Có đủ các điều kiện để có thể theo học nghề mà mình chọn: (Chiều cao, sức
khỏe, tài chính, lý lịch ….)
+ Không nên chạy theo những công việc thời thượng bởi nhu cầu xã hội biến đổi
không ngừng, không chọn nghề theo sở thích của người khác.
+ Khi đã chọn được nghề thì phải có ý thức trau dồi nghề nghiệp của mình
–> Giỏi nghề sẽ không bao giờ lo thất nghiệp mà ngược lại sẽ có cuộc sống sung
túc, ổn định “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
- Em sẽ chọn nghề gì? Lý do vì sao lại chọn nghề đó? (HS tự do trình bày tuy nhiên


0.5

b/ TB:
NỘI DUNG: Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ tha thiết của tác giả về vẻ đẹp của thiên
nhiên và con người Việt Bắc
* 2 câu đầu:
- Câu hỏi tu từ với cách xưng hô mình - ta ngọt ngào là lời ướm hỏi, cách tạo cớ để

0.5

giãi bày nỗi nhớ -> khéo léo
- Người về nhớ “hoa cùng người”, nhớ về những gì đẹp nhất của núi rừng VB. Tác
giả đã lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng Hoa - Người, “hoa” là hình ảnh ẩn dụ: vẻ
đẹp của thiên nhiên. Tương xứng với hoa là vẻ đẹp con người VB - hoa của đất ->
Cách nói tế nhị và duyên dáng.
* 8 câu sau:
- Vẻ đẹp của thiên nhiên: Bức tranh tứ bình- bốn mùa của núi rừng Việt Bắc. Bằng
bút pháp hội họa tài hoa, tác giả làm bật lên vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng VB bốn
mùa Xuân – Hạ - thu –Đông. Cảnh vật sinh động, tươi tắn sắc màu:
+ Mùa đông: Trên cái nền xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừng già giữa mùa đông
lạnh giá, bỗng nở bừng những bông hoa chuối đỏ tươi như những đốm lửa nhỏ xua
tan cái lạnh lẽo của mùa đông + Ánh nắng hiếm hoi -> Đem lại cảm giác mùa đông
nơi đây không lạnh - một cảm nhận tinh tế và độc đáo của nhà thơ
+ Xuân sang: Núi rừng VB tràn ngập màu trắng tinh khiết của hoa mơ. “Mơ
nở” -> Gợi hình ảnh rừng hoa đang bung nở - bức tranh động. “Trắng rừng”- trắng
cả không gian, trắng cả thời gian mùa xuân.
=> Vẻ đẹp đặc trưng của mùa xuân VB.
Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />
1.0

=> Góp phần thể hiện tấm lòng, tình cảm gắn bó, mến yêu của người cán bộ kháng
chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc.
c/ KL: Đánh giá khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật đoạn thơ và tài năng tác giả

Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />
0.5


SỞ GD&ĐT BẮC GIANG
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN

ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA LẦN 1
Năm học: 2015 - 2016

ĐỀ CHÍNH THỨC

Môn: NGỮ VĂN LỚP 12
Thời gian làm bài: 120 phút
(Không kể thời gian phát đề)

PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới, từ câu 1 đến câu 4:
(1) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vừa đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ
mất hơn 40 năm nữa để vượt qua mốc thu nhập trung bình. 40 năm nữa nghĩa là chúng ta,
những người đang đọc bài viết này đều đã già, rất già. Thậm chí, có những người có thể đã
ở thế giới bên kia. Nhưng điều nguy hiểm là không chỉ từng cá nhân, mà ngay cả đất nước
này khi ấy cũng đã già nua.
…(2) Cũng giống như một đời người, thời điểm dân số già là lúc quốc gia sẽ phải
tiêu tốn tiền bạc đã tích lũy được trong suốt “thời trẻ khỏe” để phục vụ cho giai đoạn không
còn hoặc suy giảm khả năng sản xuất. Chẳng hạn, năm 2009 cứ hơn bảy người đi làm mới

thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học "thời thượng", nhất là khả năng thực
hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chạy theo học vẹt nặng nề.
(Theo Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới)
Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao
tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Hãy phân tích để làm
sáng tỏ điều đó.
Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được: trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra,
câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng
nói:
"Người ta sinh ra bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được bình đẳng về
quyền lợi".
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)
----------- Hết ---------Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh:.................................................... Số báo danh: .....................
Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />

ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA LẦN 1
Năm học: 2015 - 2016
Môn: NGỮ VĂN LỚP 12
CÂU


triển của đất nước ta nếu không biết chớp thời cơ, bứt phá để vượt lên trong thời
điểm dân số vàng. Do vậy, chúng ta cần hành động vì tương lai ngay từ lúc này,
cụ thể:
+ Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng
tiền ngân sách, biết tiết kiệm tài nguyên.
+ Với tất cả mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ cần tranh thủ từng phút,
từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc.
Có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ.
- Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên.
- Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 4: Viết được đoạn văn nhận xét về quan điểm, thái độ của tác giả trong câu
kết của bài. Cần thấy được thái độ lo lắng cũng như niềm hi vọng của người viết
trước tình hình thực tế của đất nước. Từ đó, nêu suy nghĩ chân thành, nghiêm
Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />
1.5


túc về trách nhiệm của mỗi người trước tương lai của dân tộc.
Đoạn văn viết phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
- Điểm 1,5: hiểu yêu cầu đề, thấy được thái độ, quan niệm của người viết
và bày tỏ suy nghĩ hợp lí, thuyết phục. (căn cứ vào mức độ bài viết của học sinh
GV chấm và cho điểm cho phù hợp).
- Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục.
+ Không có câu trả lời.
PHẦN
II.
Câu 1


- Vế 2: Bên cạnh cái mạnh vẫn tồn tại cái yếu. Ấy là những lỗ hổng kiến
Theo dõi và cập nhật thường xuyên tại: />
0,5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status