bài tiểu luận về dân tộc Tày ở Việt Nam - Pdf 34

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Dân tộc Tày ở Việt Nam
SV THỰC HIỆN: Nguyễn Thị Kim Duyên
MSSV: K39.607.009
LỚP: VIỆT NAM HỌC 2A

TP.HCM 4/2015

MỤC LỤC


Mục lục
A.

Mở đầu

1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
B.

Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ẩm thực
Trang phục
Hoạt động sản xuất
Văn hóa tinh thần
Lễ hội
Tín ngưỡng
Hôn nhân gia đình
Lễ mừng thọ
KẾT LUẬN
• Tổng kết lại vấn đề
• Tài liệu tham khảo
• Phụ lục

A.

MỞ ĐẦU

1.

Lí do chọn đề tài


Đất nước Việt Nam, đất nước của năm mươi tư dân tộc anh em. Năm mươi
tư dân tộc anh em đều là con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ, đều bước ra
từ trăm trứng và cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam thái bình yên vui ngày
nay. Mỗi dân tộc với bản sắc riêng của mình như một loài hoa quý, ghóp thêm
hương sắc cho rừng hoa lớn- dân tộc Việt Nam.
Và bài tiểu luận này tôi muốn nói tới một trong năm mươi tư dân tộc anh em
ở Việt Nam, sinh sống chủ yếu ở vùng rừng núi phía bắc, đó là dân tộc Tày.
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về người Tày, tôi mong muốn được

về dân tộc Tày.
Nguồn tài liệu công bố: trên sách, báo,mạng…


Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp đối chiếu.
Phương pháp lịch sử.
Phương pháp địa lí.
7. Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài.
a. Ý nghĩa khoa học lí luận.
Về mặt lí luận, đề tài đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ được một số khái niệm
cơ bản về dân tộc Việt Nam,dân tộc Tày ở Việt Nam, vai trò của dân tộc Tày ở
Việt Nam đối với phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa du lịch…của nước Việt
Nam.
b. Ý nghĩa thực tiễn.
6.

Về mặt nghiên cứu thực tiễn, thông qua đề tài sẽ hiểu thêm về dân tộc Tày,
hiểu thêm về dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, đề tài này còn có ý nghĩa cung cấp tài
liệu cho chính bản thân tôi và cung cấp nguồn tài liệu cho những công trình
nghiên cứu sau.
8.

Bố cục nghiên cứu.
Phần A: Mở đầu vấn đề.
Phần B: Nội dung nghiên cứu.
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn.
Chương 2: Những nét cơ bản văn hóa đặc trưng của dân tộc Tày.
Phần C: Kết luận.

gọi là người Thổ (tuy nhiên tên gọi này hiện nay được dùng để chỉ một dân tộc
khác, xem bài người Thổ). Người Tày có dân số đông thứ 2 ở Việt Nam sau dân
tộc Kinh, và có quan hệ gần gũi với người Nùng và với người Choang (Trung
Quốc).
Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc (hơn
1,4 triệu người). Trong thời gian gần đây, người Tày bắt đầu di cư tới một số
tỉnh như Tây Nguyên, Đắk Lắk và Lâm Đồng.
Dân số: 1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có
mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố (Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009).
Lịch sử:Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên
niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Văn hóa: Dân tộc Tày là một nhóm tộc người có nền văn hoá khá khép
kín, người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ,
ca, múa nhạc... Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể. Các điệu dân ca


phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con. Người Tày mến khách, cởi mở,
dễ làm quen và thích nói chuyện. Họ rất trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa
bạn bè thì coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình. Văn hoá
chợ của người Tày chiếm một vai trò quan trọng trong giao lưu trao đổi hàng
hoá, thông tin và giao lưu văn hoá giữa các vùng dân tộc.
Kinh tế: Người Tày sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Họ
trồng lúa, ngô, khoai lang, v.v.
Tổ chức cộng đồng: Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối. Tên
bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến
20 nóc nhà. Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ.

Chương 2: Những nét cơ bản về giá tri vật chất và tinh thần của người dân tộc
Tày ở Việt Nam.
1.

trưng cho ngũ hành: Trắng là màu của kim, xanh là màu của mộc, đen là màu
của thuỷ, đỏ là màu của hỏa, màu vàng là màu của thổ. Người ta quan niệm
rằng sự tồn tại của 5 chất này làm nên sự tươi tốt của Thiên - Địa - Nhân. Với
người Tày, những ai ăn xôi ngũ sắc trong các ngày lễ, tết thì họ sẽ gặp
nhiều điều may mắn, tốt lành.
Rêu nướng: Rêu nướng không chỉ là món ăn được nhiều đồng bào dân tộc
Tày ưa thích mà còn có khả năng chữa nhiều bệnh, giúp lưu thông khí huyết,
giải độc, giải nhiệt, ổn định huyết áp và tăng cường sức đề kháng…Rêu sông,
suối là một món ăn từ xa xưa được nhiều dân tộc: Nùng, Thái, Mông, Mường…
ưa thích. Nhưng đối với người dân tộc Tày ở xã Xuân Giang (Hà Giang) thì rêu
được coi là đặc sản trong ẩm thực của họ……. Rêu còn có thể được chế biến
thành nhiều món khác như rêu rán, rêu khô nhưng độc đáo nhất vẫn là món trộn
với các loại gia vị rồi đem nướng. Các món ăn được chế biến từ rêu đá còn
được gọi là quẹ. Đây là một món ăn vừa ngon, vừa bổ, lại có hương vị rất riêng.
Rêu nướng là món ăn hấp dẫn và hợp khẩu vị với hầu hết mọi người.
Nem măng đắng: Về Lào Cai, bạn sẽ được thưởng thức một món đặc sản
của đồng bào dân tộc Tày địa phương. Đó là nem măng đắng. Người miền xuôi
coi nem là món rất thông dụng, dễ làm mà lại ngon, bổ dưỡng. Nhưng nem
măng đắng của người Tày lại kì công và độc đáo hơn ở chỗ họ không dùng
bánh đa nem để gói mà dùng những lá măng, nhân không phải thịt lợn, tôm…
mà dùng thịt gà tơ. Nem măng đắng có thể dùng để nhắm rượu, ăn với cơm đều
được. Khi ăn, thực khách sẽ cảm nhận vị đăng đắng của măng, vị ngọt của thịt
gà tơ. Độ dẻo của vỏ nem cộng với cảm giác sậm sựt của nhân nem trong
miệng thật thú vị.
c.

Trang phục.

Nhìn chung nười Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm nên trang
phục của họ màu chủ đạo là màu chàm, phụ nữ thường chít khăn mỏ quạ, mặc


Hoạt động sản xuất.

Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây
trồng như lúa, ngô, khoai... và rau quả mùa nào thức đó. Người Tày có truyền
thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các
biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới
ruộng. Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả...
Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông
cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý.
Người Tày có nghề thủ công khá phong phú, họ đan các đồ dùng bằng cót,
bồ, sọt, rổ… nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và


độc đáo. Nhiều vùng tự nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa nên họ tự túc được các loại vải
để may váy áo, khăn… Một số nghề phụ như làm gạch, nghề rèn hay nghề
chưng cất dầu hồi để ăn và thắp đã có truyền thống từ lâu đời.
2. Văn hóa tinh thần.
a. Lễ hội.
Có rất nhiều lễ hội đặc sắc của người Tày như là: lễ hội Cầu Trăng,lễ hôi
Lồng Tồng,lễ hội Nàng Hai, lễ hội rước Đất, rước Nước… Nhưng đặc sắc nhất
có thể nói đến đó là lễ hội Cầu Trăng, lễ hội Nàng Hai.
a.1. Lễ hội Cầu Trăng.
Lễ hội Cầu Trăng là ngày vui nhất của bà con dân tộc Tày (Hà Giang). Bà
con dân bản từ già, trẻ, gái, trai đều đến tham gia đông đủ, họ dâng các sản vật,
khấn mời mẹ Trăng xuống hạ giới nghe những tâm tư, tình cảm của người dân
sau một năm siêng năng làm lụng...Lễ hội cầu trăng được tổ chức đúng ngày
rằm tháng tám. Lễ hội gồm hai phần là phần lễ và phần hội.
Mở đầu phần hội là các màn múa vòng quanh bàn lễ đặt ngoài trời. Tiếp đến
dân bản thi nhau nấu các món ăn truyền thống (xôi ngũ sắc,nem mang đắng…),

có mang sắp tới ngày sinh đẻ mới về ở hẳn bên nhà chồng. về việc sinh đẻ,
người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn mẹ tròn, con
vuông, đứa trẻ khỏe mạnh, chóng lớn…. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và
đặt tên cho trẻ..
d. Lễ mừng thọ.
Người Tày có khá nhiều phong tục tập quán khác biệt với người Kinh, tuy
nhiên đôi lúc chính những sự khác biệt đó lại tạo được nét đặc sắc riêng hấp


dẫn khách du lịch tới tham quan và tìm hiểu, trong đó có lễ mừng thọ của người
Tày.
Cũng thể hiện ý nghĩa giống nhau, người Tày cũng làm lễ mừng thọ nhằm
thể hiện lòng hiếu thảo, sự kính trọng của mình và cầu cho bố mẹ, ông bà luôn
khỏe mạnh. Với nền văn hóa mang bản sắc đặc trưng của mình thì nền văn hóa
người tày vẫn được bảo tồn đến ngày nay.
Theo phong tục của người Tày thì khi bố mẹ, ông bà tới 70 tuổi trở lễn sẽ
được con cái tổ chức lễ mừng thọ để thể hiện lòng hiếu thảo, mong bố mẹ khỏe
mạnh.
Theo như văn hóa của người Tày thì lễ mừng thọ được tổ chức rất lớn,
thường là diễn ra từ đêm hôm trước tới sáng hôm sau với nhiều nghi lễ khác
nhau, người trong gia đình khi chuẩn bị nghi lễ phải có 3 mâm cúng ở chân bàn
thờ,trong đó có một mâm mặn cúng tổ tiên , một mâm chay dành cho bà mụ
sinh, và một mâm dành cho hành kiến ,hành binh. Cùng với đó, một bàn thờ
thánh sẽ được đặt ngay cạnh nơi bà then làm lễ cúng.
Ngoài việc cúng lễ thì người Tày cũng phải làm nhiều loại bánh để cúng,
đặc biệt là bánh truyền thống của người Tày được làm bằng gạo nếp có phẩm
màu hoặc những loại cây lọc lấy nước có màu đỏ hoặc hồng.
Trong nghi lễ mừng thọ còn có một điều quan trọng nữa chính là người con rể
của người được mừng thọ cần phải tự tay quay một con lợn mang xuống làm lễ
mừng thọ cho bố mẹ vợ của mình, phải cúng lễ và mang chuối đi trồng sau buổi

Dân tộc tày có rất nhiều đóng ghóp cho nền văn hóa Việt Nam như là chữ
Nôm Tày một di sản văn hóa quý giá của nước ta, cùng với các loại văn tự khác
đã lưu trữ nguồn tư liệu to lớn có giá trị về mọi mặt trong lịch sử dựng nước và
giữ nước. Cùng với các dân tộc khác, người Tày, Nùng đã sáng tạo và hoàn
thiện dần chữ Nôm Tày hàng nghìn năm nay để làm văn tự dùng trong giao lưu
và lưu trữ tư liệu. Đó là một thành tựu lớn của giới trí thức Tày, Nùng và cộng
đồng trí sĩ Việt Nam góp phần làm giàu cho kho tàng văn hóa nước nhà. Hay là
Hát Then là một di sản văn hóa – nghệ thuật truyền thống độc đáo của các dân
tộc Tày, Nùng, Thái ở các tỉnh miền núi phía bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên
Bái, Lạng Sơn…hát then được lưu giữ, phát triển thành một không gian văn
hóa hát then – đàn tính hết sức đồ sộ về khối lượng, phong phú về thể loại, đa
dạng về hình thức biểu diễn.

Phụ lục
Hình ảnh về người Tày


Nhà sàn của người Tày

Món xôi ngũ sắc của người Tày


Hát then


Chữ nôm tày- Bắc Cạn


TÀI LIỆU THAM KHẢO
/> />sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=6&cad=rja&uact=8&ved=0CCwQFjAF&


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status