1.Tín dụng thương mại
1.1 Khái niệm
Trong thực tế, do có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất – kinh doanh giữa các
doanh nghiệp, việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp
khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu. Trong điều kiện thành phẩm của
doanh nghiệp thừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn,
nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì cả hai
đều có lợi. Đó chính là quan hệ tín dụng thương mại.
1.2 Đặc điểm của tín dụng thương mại
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa dịch vụ,
thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn.
- Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và góp
phần làm phát triển sxkd do nó rút ngắn chu kỳ sxkd, giảm chi phí sxkd. => quy mô bị hạn
chế và thông thường là tín dụng ngắn hạn.
- Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụng vốn (cost of capital)
do hoạt động cấp tín dụng không có lãi trong một khoảng thời gian nhất định, một số
trường hợp bên nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm.
Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợp đồng trả chậm, thương
phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu). Trong đó, hối phiếu là giấy đòi tiền vô điều kiện do người
bán phát hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do người mua phát hành.
1.3 Công cụ tín dụng thương mại
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán
chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận quan hệ
mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do
con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu thương mại” hay “thương phi
Vì vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong
nền kinh tế. Trong quá trình phát triển, thương phiếu dần dần biến đổi tính chất, từ một
giấy chứng nhận nợ thông thường đã trở thành một công cụ lưu thông tín dụng có thể thực
hiện được chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán thay thế cho tiền
mặt trong nền kinh tế.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết
° Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang người
khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng xin
chiết khấu hoặc cầm cố. tính chất này khiến thương phiếu trở thành một loại phương tiện
thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực và mệnh giá thương phiếu.
1.3.3 Ích lợi của thương phiếu
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một công cụ lưu
thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ.
Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợi
của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng nợ nần dây dưa giữa
các doanh nghiệp.
Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng nhận chiết
khấu hay nhận cho vay cầm cố. Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại có tính thanh khoản
cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại NHNN để khôi phục
nguồn vốn của mình.
Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện cho ngân
hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưu thông.
Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu,
khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển
nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là một giải pháp chứng khoán hoá các
khoản cho vay của ngân hàng.
Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân
hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
1.3.4 Nhược điểm của thương phiếu
Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai
doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phát sinh
từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. Chính
điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn
tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo.
Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụng thương mại, khó có
thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường hợp
nó cần phải quay vòng nhanh để doanh nghiệp trang trải chi phí và hoạt động bình
thường. Khi doanh nghiệp cần vốn mà tờ thương phiếu lại chưa đến hạn thanh toán thì
doanh nghiệp có thể nhờ ngân hàng chiết khấu tờ thương phiếu đó để có tiền sử dụng vào
sản xuất.
+ Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp:
Vì giờ đây với nghiệp vụ CKTP của ngân hàng doanh nghiệp sẵn lòng bán chịu hơn do
có thể chiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn tờ thương phiếu khi cần tiền, chứ
không cần giữ mãi tờ thương phiếu đó.
+ Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cho các doanh
nghiệp nhỏ:
Có điều này là do khi ngân hàng chiết khấu thương phiếu thì người thanh toán thương
phiếu mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi cấp tín dụng, mặc dù
chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mang thương phiếu đi chiết khấu. Cho
nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạt động hiệu quả thì sẽ dễ dàng được ngân
hàng chấp nhận chiết khấu. Ví dụ như: Nếu một công ty ABC (rất nhỏ, chưa danh tiếng)
bán chịu một lô hàng cho công ty lớn như công ty sữa Vinamilk và lập một hối phiếu, sau
đó Vinamilk ký bảo đảm lên hối phiếu đó. Thì khi công ty ABC mang hối phiếu đó đến
ngân hàng để chiết khấu, có thể dựa vào danh tiếng, năng lực hoạt động tốt của Vinamilk
thì ngân hàng dễ chấp nhận tờ hối phiếu đó hơn. Và nhờ đó ABC dễ dàng tiếp cận được
nguồn vốn lý tưởng bậc nhất trong nền kinh tế là từ ngân hàng mà không tốn quá nhiều
chi phí và thời gian ( còn tại sao nói nguồn vốn ngân hàng là nguồn vốn lý tưởng trong
nền kinh tế thì chắc là các bạn biết rồi).
* Đối với nền kinh tế:
+ Cấp tín dụng bằng CKTP là một hình thức cấp tín dụng an toàn cho nền kinh tế vì khi
cấp tín dụng bằng chiết khấu thương phiếu sẽ đảm bảo nguyên tắc hàng - tiền do khi tiền
tung ra từ ngân hàng thì trong nền kinh tế cũng đã có sẵn một lượng hàng hoá tương ứng
đang luân chuyển, do đó giảm thiểu áp lực lạm phát. Cũng cần chú ý rằng hàng hoá mua
chịu của doanh nghiệp chủ yếu là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho nên, cấp tín dụng
bằng hình thức CKTP tạo điều kiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng hàng hoá cho nền
kinh tế.
- Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn cụ thể về việc thực
hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu, chưa ban hành mẫu biểu cụ thể cho
thương phiếu để nó có thể trở thành một công cụ lưu thông tín dụng pháp định có thể
thay thế cho tiền mặt trong lưu thông
- Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn còn
kém.
Chính vì những khó khăn trên mà trong thời gian qua, thương phiếu và các nghiệp vụ
liên quan đến thương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế ở Việt Nam.
2.1.2 Thuận lợi
- Do đặc điểm tình hình kinh tế,số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam tăng mở rộng
qui mô
- Gia nhập ASIAN,AFTA,APEC,WTO…mở rộng quan hệ gia lưu thương mại
- Đòi hỏi doanh nghiệp tìm hiểu,sử dụng các phương thức,phương tiện thanh toan
phổ biến trong quan hệ thương mại quốc tế,tín dụng thương mại quốc tế như séc,hối phiếu
đòi nơ…
- Đảng Nhà nước quan tâm và có nhiều giải pháp để phát triển hoạt động TDTM
- Việc ban hành luật mới vế công cụ chuyển nhượng ở Việt Nam tạo cơ sở pháp lí
cho hoạt động TDTM. Thúc đẩy giao lưu thương mại thông qua công cụ thanh toán,tín
dụng mới cho nền kinh tế tăng khả năng lưu thông của các công cụ chuyển nhượng
2.2 Các giải pháp khắc phục khó khăn
- Nhanh chóng tạo dựng một hành lang pháp lý cho sự tồn tại và cho việc thực hiện
các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu được an toàn và thuận lợi. Mặc dù Quốc hội đã
thông qua Pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2000 và Chính Phủ đã
ban hành nghị định 32/2001/NĐ -CP ngày 5.7.2001 hướng dẫn thi hành pháp lệnh trên
nhưng vẫn còn nhiều bất cập như chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ
quốc tế…
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, thảo luận về thương phiếu và ích lợi của thương
phiếu đến các doanh nghiệp, là những chủ thể chủ yếu trong quan hệ thương phiếu.
- Nâng cao hiệu lực hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) dể có thể
cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả, uy tín của các doanh nghiệp có nghĩa vụ
khai thực hiện, còn có nguyên nhân từ chính những bất cập trong Pháp lệnh. Những quy
định trong Pháp lệnh về cơ bản chứa đựng hầu hết các quy tắc chính của Luật thống nhất về
hối phiếu theo Công ước Giơnevơ năm 1930, song vẫn còn những quy định làm hạn chế
các hoạt động của thương phiếu và tạo rủi ro cho ngân hàng (như hoạt động thương phiếu
phải gắn với tín dụng ngân hàng).
- Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh tín dụng ngân hàng, còn xuất hiện và phát
triển hình thức tín dụng thương mại. Để giúp tín dụng thương mại thực hiện được, đã xuất
hiện những công cụ giúp doanh nghiệp đòi nợ hoặc nhận nợ, phục vụ cho các doanh
nghiệp thanh toán, đòi tiền lẫn nhau. Những công cụ này gồm có hối phiếu đòi nợ (bill of
exchange), hối phiếu nhận nợ (promisory note), séc (cheque),… Vì những công cụ này có
thể chuyển nhượng được nên người ta gọi chung là công cụ chuyển nhượng. Trên thực tế,
quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp, tiểu thương đã tồn tại như một thực
tế khách quan trong nền kinh tế Việt Nam. Ở Việt Nam, hiện nay, các doanh nghiệp và
các ngân hàng đã sử dụng hối phiếu trong thanh toán quốc tế theo thông lệ quốc tế. Trong
thanh toán nội địa, đặc biệt là ở các chợ đầu mối, việc mua bán chịu đã xuất hiện những
“giấy nhận nợ” hay “giấy đòi nợ” do người bán hàng hoặc người thanh toán phát hành để
mua-bán chịu lẫn nhau nhưng chưa được Pháp lệnh điều chỉnh. Bộ luật Dân sự và Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế cũng chỉ có một số nội dung điều chỉnh đối với thương phiếu; Luật
Thương mại (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 đã bỏ chương về
thương phiếu. Vì vậy, nhu cầu hình thành một hệ thống các quy định của pháp luật để bảo
vệ có hiệu quả quyền của chủ nợ đã trở nên bức xúc. Mặt khác, trong điều kiện hầu hết
các doanh nghiệp nước ta có quy mô sản xuất nhỏ bé, thiếu vốn kinh doanh, việc đưa
thương phiếu vào sử dụng là cần thiết nhằm tạo thêm kênh huy động vốn, tiệp cận tín
dụng thương mại cho các doanh nghiệp. Điều này cho thấy việc thể chế hoá các quan hệ
tín dụng thương mại bằng các quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng nói chung
và pháp luật về thương phiếu nói riêng là một đòi hỏi tất yếu khách quan của nền kinh tế.
Ba là, yêu cầu tạo thêm kênh cấp tín dụng cho ngân hàng và tạo thêm công cụ cho
thị trường tiền tệ đã trở nên cấp thiết.
Luật các tổ chức tín dụng đã cho phép các tổ chức tín dụng được cấp tín dụng dưới
hình thức chiết khấu thương phiếu. Nhưng hoạt động chiết khấu thương phiếu vẫn chưa trở
thể chế hoá đường lối của Đảng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đáp ứng nhu cầu hội
nhập, hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến công cụ chuyển
nhượng.
Luật Các công cụ chuyển nhượng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Ngày 09
tháng 12 năm 2005, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 22/2005/L/CTN công bố ban hành. Luật
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006.
3.2 Nội dung cơ bản của luật các công cụ chuyển nhượng
3.2.1 Bố cục
Luật các công cụ chuyển nhượng gồm 6 chương, 83 điều, với các nội dung cơ bản như
sau:
Chương I quy định những vấn đề chung (từ Điều 1 đến Điều 15);
Chương II quy định về hối phiếu đòi nợ (từ Điều 16 đến Điều 52). Chương này có 7
mục:
- Mục 1: Phát hành hối phiếu đòi nợ;
- Mục 2: Chấp nhận hối phiếu đòi nợ;
- Mục 3: Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ;
- Mục 4: Chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ;
- Mục 5: Chuyển giao để cầm cố và chuyển gíao để nhờ thu hối phiếu đòi nợ;
- Mục 6: Thanh toán hối phiếu đòi nợ;
- Mục 7: Truy đòi do hối phiếu đòi nợ không được chấp nhận hoặc không được
thanh toán.
Chương III quy định về hối phiếu nhận nợ (từ Điều 53 đến Điều 57);
Chương IV quy định về séc (từ Điều 58 đến Điều 75), gồm 5 mục:
- Mục 1: Các nội dung của séc và ký phát séc;
- Mục 2: Cung ứng séc;
- Mục 3: Chuyển nhượng, nhờ thu séc ;
- Mục 4: Bảo đảm thanh toán séc ;
- Mục 5: Xuất trình và thanh toán séc;
Chương V quy định về khởi kiện, thanh tra và xử lý vi phạm (từ Điều 76 đến Điều 81);
hưởng đầu tiên).
+ Nhóm các nội dung tuỳ nghi : Nếu các nội dung này không có trên công cụ
chuyển nhượng thì có thể vẫn có giá trị thanh toán. Các nội dung này bao gồm: Thời hạn
thanh toán, địa điểm trả tiền, địa điểm ký phát (Việc quy định nội dung nào sẽ do từng
loại công cụ quyết định). Nguyên tắc này được nêu ra trong luật của các nước, gọi là
nguyên tắc “suy đoán”. Bằng việc sử dụng nguyên tắc này có thể suy đoán các yếu tố
nói trên, các quy định này có tính khoa học nhằm tránh được những vấn đề như địa điểm
ký phát ở trên máy bay, tàu biển, hội chợ triển lãm ở nước ngoài v.v…Nguyên tắc suy
đoán được thể hiện tại khoản 2 Điều 16 như sau:
Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ
được thanh toán ngay khi xuất trình;
Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ
được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát;
Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ
được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát.”
Đối với hối phiếu nhận nợ cũng có quy định tại khoản 2 Điều 52; đối với séc có
quy định tại khoản 2 Điều 58 (Tùy đối với mỗi loại công cụ, mà có quy định cụ thể cho
phù hợp).
- Về chấp nhận hối phiếu đòi nợ (Mục II): Để bảo vệ quyền lợi của người nắm giữ,
người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ, Luật đã có quy định cụ thể về những trường hợp phải
xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận, thời hạn chấp nhận, vi phạm nghĩa vụ
xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận, hình thức và nội dung chấp nhận,
nghĩa vụ của người chấp nhận, từ chối chấp nhận.
- Về bảo lãnh hối phiếu đòi nợ (Mục III): Giống như luật của các nước, Luật các công
cụ chuyển nhượng của Việt Nam cũng chỉ quy định chung về bảo lãnh, các quy định về
người bảo lãnh và các vấn đề liên quan đến bảo lãnh được điều chỉnh theo Bộ luật Dân
sự, do vậy, không quy định cụ thể trong Luật này.
- Về chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ (Mục IV): Một trong những đặc tính ưu việt của
công cụ này là tính chuyển nhượng của nó. Luật các công cụ chuyển nhượng đã bao quát
được các nội dung cần thiết nhằm điều chỉnh hoạt động chuyển nhượng và bảo vệ quyền
Bao gồm các quy định về nội dung của hối phiếu nhận nợ; nghĩa vụ của người
phát hành; nghĩa vụ của người chuyển nhượng lần đầu hối phiếu nhận nợ; hoàn thành
thanh toán hối phiếu nhận nợ; bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán,
truy đòi hối phiếu nhận nợ.
Trong các quy định trên, các quy định về bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ
thu, thanh toán, truy đòi hối phiếu nhận nợ cũng được áp dụng tương tự các nội dung quy
định về hối phiếu đòi nợ từ Điều 24 đến Điều 52 của Luật này.
4. Hướng phát triển tín dụng thương mại ở Việt Nam
Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại vì vậy
cũng phát triền rất mạnh mẽ. Như vậy, cần có một sự định hướng cho sự phát triển của tín
dụng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
1) Cải cách triệt để và phát triển hệ thống các TCTD theo hướng đa năng, hiện đại,
đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, có quy mô lớn và hoạt động theo nguyên tắc thị
trường với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận, áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế vào
hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cơ cấu lại hệ thống NHTM, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương mại, bảo
đảm quyền kinh doanh của các tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam kết song
phương và đa phương đã ký kết với các nước và các tổ chức quốc tế, gắn cải cách ngân
hàng với cải cách doanh nghiệp.
2) Tăng cường năng lực tài chính, đảm bảo các doanh nghiệp có đủ nguồn vốn, tài
sản đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng sinh lời, xử lý dứt điểm nợ tồn đọng.
3) Tuân thủ các quy định của các Hiệp định song phương với các nước và quy định
của WTO về mở cửa thị trường dịch vụ tín dụng thương mại.
Phát triển hệ thống dịch vụ tín dụng thương mại đa dạng, đa tiện ích, được định hướng
theo nhu cầu của nền kinh tế trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của các
dịch vụ truyền thống, đồng thời nhanh chóng tiếp cận và phát triển các loại hình dịch vụ
mới với hàm lượng công nghệ cao.
Trong những năm gần đây, cùng với việc gia nhập WTO, các doanh nghiệp nước ta
ngày càng mở rộng quan hệ giap lưu thương mại đầu tư với các nước khu vực và thế giới.
trong quá trình hội nhập và giao lưu thương mại này, đòi hỏi các doanh nghiệp việt nam