MỤC LỤC
PHẦN MỘT:
PHẦN BA: MỘT SỐ CÁC VĂN BẢN CỦA ĐOÀN TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI..............................2
LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN 47............................2
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG..........................................................................................................1
I. ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
QUA 64 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH.....................................................................1
III. QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC NHÀ GIÁO.................................................................................10
IV. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG BÁC HỒ *)...................................12
1. HỌC TẬP TRONG TƯ TƯỞNG VÀ CUỘC ĐỜI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH......12
2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO DỤC THANH NIÊN......17
PHẦN HAI: MỘT SỐ VĂN KIỆN ĐẢNG VÀ VĂN BẢN CỦA ĐOÀN THANH NIÊN................24
ĐIỀU LỆ ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH.....................................................34
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐOÀN THANH NIÊN.....................................................35
CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH.................................................................................................35
Chương I...............................................................................................................................36
ĐOÀN VIÊN.........................................................................................................................36
Chương II..............................................................................................................................37
NGUYÊN TẮC, CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ............................................................................37
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN..................................................................................................37
Chương IV............................................................................................................................42
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐOÀN....................................................................................................42
Chương V..............................................................................................................................43
ĐOÀN KHỐI, ĐOÀN NGÀNH,...........................................................................................43
ĐOÀN Ở NGOÀI NƯỚC.....................................................................................................43
Chương VI............................................................................................................................44
TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ....................................44
VÀ CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM............................................................................44
Chương VII...........................................................................................................................44
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN VÀ......................................................44
ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP..........................................................................................44
khó thanh niên đi đầu”, tinh thần hiếu học, sáng tạo và ý chí kiên cường của các thế hệ đoàn viên
thanh niên đã góp phần to lớn viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
Tuổi trẻ Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Anh hùng
giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta và
tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản ở nước ta, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các
thế hệ cách mạng tiền bối và lớp lớp thanh niên đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cao cả giải
phóng dân tộc, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, để hôm nay, tuổi trẻ chúng ta được
sống, học tập và công tác trong một đất nước thống nhất, hoà bình, độc lập, tự do.
Trong giai đoạn hiện nay, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI,
nhiều chủ trương, đường lối và chính sách phát triển thanh thiếu niên đã và đang tạo nên thế và lực
mới để tuổi trẻ Việt Nam viết tiếp những trang sử vàng trong thời kỳ mới của lịch sử dân tộc ở thế
kỷ XXI.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một thành
viên trong hệ thống chính trị của Nhà trường, có nhiệm vụ tập hợp, tổ chức, giáo dục và rèn
luyện đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên trong trường. Gắn liền với bề dày truyền thống
và thành tích anh hùng 64 năm xây dựng và phát triển của Nhà trường, Đoàn Thanh niên không
ngừng lớn mạnh và trưởng thành về mọi mặt, đã có những cống hiến liên tục và cụ thể vào
phong trào Thanh niên, sinh viên của Thủ đô Hà Nội và cả nước, đặc biệt là đối với quá trình
xây dựng Nhà trường về mọi mặt.
Lịch sử và truyền thống của Đoàn Thanh niên trường ĐHSP Hà Nội được khởi nguồn từ
phong trào sinh viên yêu nước, cách mạng của trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương trong
những năm 20 của thế kỷ XX. Tháng 10 năm 1945, Ban Đại học Văn khoa - tiền thân của Trường
được thành lập, đã hội tụ những thanh niên yêu nước tài trí xuất sắc. Tổ chức đầu tiên của Đoàn
Thanh niên trường là Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc của trường chính thức ra đời năm 1951
1
cùng với sự thành lập của trường Sư phạm Cao cấp. Bước đầu trưởng thành trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, Đoàn Thanh niên trường đã có những cống hiến đáng kể vào thắng
lợi chung của dân tộc và đặt cơ sở quan trọng cho việc xây dựng Đoàn trường vững mạnh về sau.
chục vạn thanh niên Thủ đô. Tháng 3/1965, Trung ương Đoàn đã phát động phong trào Thanh
niên “Ba sẵn sàng” chống Mỹ, cứu nước. Phong trào này có sức lan tỏa và lôi cuốn nhiều thế hệ
2
tuổi trẻ Việt Nam và đã thực sự tạo nên “thế hệ thanh niên vàng của Việt Nam trong thời
đại Hồ Chí Minh”. Lớp lớp thanh niên trí thức “xếp bút nghiên lên đường đánh Mỹ”.
Trường ĐHSP Hà Nội tự hào là khởi nguồn “Phong trào Ba sẵn sàng” - một phong
trào cách mạng rộng lớn nhất, sôi nổi nhất trong lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong
trào thanh niên Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Cùng với việc chăm lo phát triển chuyên môn cho sinh viên, tuổi trẻ Nhà trường dưới sự
lãnh đạo của BCH Đoàn trường luôn xung phong, sáng tạo tổ chức các hoạt động kháng chiến,
sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Trong không khí sôi sục của nhân dân miền Bắc: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho
tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, phát huy tinh thần phong trào Ba sẵn sàng,
toàn thể sinh hoạt của cán bộ và sinh viên ở Trường lúc này đều rèn luyện theo tác phong quân sự.
Mùa hè năm 1966, Đảng ủy, Ban Giám hiệu quyết định thành lập “Đội Thanh niên xung phong
chống Mỹ cứu nước” vào khu IV cùng bộ đội và nhân dân tham gia chiến đấu tại khu vực
Hàm Rồng (Thanh Hóa) - một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ lúc đó. Giáo sư
Hiệu trưởng Phạm Huy Thông giao nhiệm vụ cho Bí thư Đoàn trường Nguyễn Văn Mạo cùng
109 thành viên là cán bộ, sinh viên (trong đó có 10 cán bộ giảng dạy). Đội đã sát cánh cùng bộ đội
(Trung đoàn phòng không 248) và nhân dân địa phương ngày đêm chiến đấu với tinh thần dũng
cảm, vượt khó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Trung đoàn tặng thưởng “Huy hiệu 5 tháng 8”
cho tất cả các thành viên. Sau gần một tháng chiến đấu, Đội hành quân về Trường tiếp tục nhiệm
vụ giảng dạy và học tập. Đây là đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đầu tiên và duy
nhất trong số các trường đại học, cao đẳng ở miền Bắc lúc đó.
Tháng 12/1972, đội Thanh niên xung kích gồm 36 cán bộ, sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội I dưới sự tổ chức của Đoàn Thanh niên đã đi tham gia phục vụ giao thông vận tải,
khắc phục hậu quả bom đạn Mỹ trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn. Sau hơn một tháng, đội
chí Đặng Xuân Rương, đồng chí Nguyễn Tề, đồng chí Nguyễn Đình Tuyển,… Nhiều người bị
địch bắt, dù bị tra tấn dã man, bị giam cầm nhiều năm ở “chuồng cọp” Côn Đảo nhưng vẫn giữ
vững khí tiết của người đoàn viên cộng sản, người cán bộ cách mạng, trở thành tấm gương cho
cán bộ, đoàn viên trong trường học tập, tiêu biểu như đồng chí Tô Thị Tĩnh (khoa Hoá học), đồng
chí Nguyễn Thị Hường (khoa Lịch sử)… Nhiều sinh viên của Trường đã trưởng thành từ khói lửa
chiến tranh, trở thành những văn nghệ sĩ nổi tiếng như Trọng Bằng, Nguyễn Khoa Điềm,
Phạm Tiến Duật, Từ Sơn, Tô Nhuận Vỹ, Ma Văn Kháng, Vương Trí Nhàn, Dương Thụ, Thế Cường,…
Tuổi trẻ ĐHSP Hà Nội tự hào về những nhà khoa học, nhà giáo dục uy tín, cán bộ quản lý chủ
chốt của Trường đã trưởng thành từ cái nôi của phong trào, như: Nhà giáo Trịnh Ngọc Trình, Nhà
giáo Phạm Như Thân, NGƯT Phạm Đăng Dư, PGS.TS.Trần Quang Nhiếp, PGS.TSKH.NGƯT
Nguyễn Nghĩa Trọng, GS.TS.NGƯT Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS.NGƯT Trần Đăng Xuyền,
GS.TS.NGƯT Đỗ Thanh Bình, PGS,TS.NGƯT Kiều Thế Hưng, PGS.TS Lã Nhâm Thìn,
PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm,…
Đầu năm 1979, Đội Thanh niên xung kích của Đoàn trường đã sát cánh với cán bộ, chiến
sĩ Sư đoàn 337 (Sư đoàn Khánh Khê) trực tiếp cầm súng tham gia chiến đấu và phục vụ công tác
hậu cần trên mặt trận Lạng Sơn. Đoàn trường được tặng cờ thưởng, bằng khen của Trung ương
Đoàn và của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Giữa năm đó, Đảng ủy,
Ban Giám hiệu và Đoàn trường thành lập Trung đoàn 32 biên chế trong Binh đoàn Nguyễn Huệ
(Bộ Tư lệnh công binh), có nhiệm vụ tham gia xây dựng phòng tuyến sông Cầu, bảo vệ Thủ đô.
Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Thành ủy Hà Nội tặng danh hiệu "Đơn vị xuất
sắc nhất" khối đại học.
Những năm sau ngày đất nước hoà bình, thống nhất đi lên xây dựng CNXH, Đoàn trường
đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách tiếp tục giữ vững truyền thống xung kích - sáng tạo của
mình trong khối các trường đại học, cao đẳng trên cả nước. Tinh thần cách mạng của tuổi trẻ Nhà
4
trường lại được thể hiện nổi bật qua phong trào xây dựng Tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa một cuộc vận động sâu rộng trong ngành Giáo dục và đào tạo. Một trong những hoạt động hiện
thực hóa phong trào này là từ năm học 1976 - 1977, Đoàn trường tổ chức Hội nghị “Tiến quân
vào khoa học”. Trên cơ sở thành công của các Liên chi đoàn trong việc tổ chức “Hội nghị Khoa
phủ (năm 2004; năm 2009) và nhiều bằng khen của Trung ương Đoàn, Thành Đoàn Hà Nội,
của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của các đoàn thể xã hội khác. Đoàn trường liên tục được Trung
ương Đoàn tặng danh hiệu Cơ sở Đoàn xuất sắc, được Thành đoàn Hà Nội tuyên dương là đơn
vị dẫn đầu khối các trường đại học, cao đẳng. Năm 2011, Tuổi trẻ Nhà trường được Trung ương
Đoàn tặng cờ: “Đơn vị xuất sắc trong công tác Đoàn và phong trào sinh viên 5 năm liên tục
(2006 - 2010)”. Nhiều cán bộ Đoàn, sinh viên tiêu biểu được tặng thưởng huân chương, huy
chương, kỷ niệm chương, bằng khen các cấp, được tuyên dương danh hiệu Tài năng trẻ, Đoàn
viên xuất sắc, Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu,...
Hơn 60 năm qua, từ những đoàn viên đầu tiên được rèn luyện trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ chính quyền cách mạng những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đến hàng vạn đoàn
viên hôm nay đang ra sức học tập, rèn luyện, đem sức trẻ của mình cống hiến cho công cuộc hiện
đại hoá, công nghiệp hoá đất nước, lớp lớp cán bộ, đoàn viên, học sinh, sinh viên trường ĐHSP
Hà Nội đã nối tiếp nhau nỗ lực hoàn thành mọi nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
cách mạng của dân tộc, của phong trào Đoàn - thanh niên cả nước cũng như sự phát triển
của Nhà trường. Quá trình phấn đấu không ngừng qua nhiều chặng đường cách mạng đã từng
bước hun đúc nên những giá trị truyền thống quý báu, nổi bật của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
trường ĐHSP Hà Nội:
- Truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành với Đảng, gắn bó mật thiết với sự
nghiệp cách mạng của dân tộc, với cuộc sống của nhân dân lao động. Trải qua các chặng
đường lịch sử, tuổi trẻ trường ĐHSP Hà Nội luôn thể hiện tinh thần kiên định với lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, sẵn sàng hi sinh vì độc lập tự do cho dân tộc, siết chặt hàng ngũ dưới lá cờ của Đảng
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần đó được biểu hiện đặc biệt sinh động ở
những bước ngoặt lịch sử, trước những thử thách mất còn của dân tộc, trong những thời điểm khó
khăn, thăng trầm của cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ, sinh viên khi
Người về thăm trường: “Một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, dưới sự tổ chức, lãnh đạo của
Đảng, Đoàn và Nhà trường, các thế hệ đoàn viên, sinh viên trong trường không chỉ biết đến giảng
đường, sách vở mà còn biết vượt mọi khó khăn, gian khổ, hoà mình vào thực tiễn lao động sản
xuất, sẵn sàng có mặt nơi công trường, trên đồng ruộng, chung tay với nhân dân tham gia xây
dựng, kiến thiết đất nước.
- Truyền thống hiếu học, yêu nghề và kính thầy, trọng bạn. Tự hào là những đoàn viên,
Chí Minh và phong trào thanh niên, sinh viên Việt Nam.
Hiện nay, Đoàn Thanh niên Trường tiếp tục triển khai các phong trào thi đua mới, hiện
thực hóa hiệu quả các phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế, xã hội Thủ đô và đất nước”,
“4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, “Tôi yêu Hà Nội”,... Với những hoạt động
phát triển chuyên môn và công tác phong trào, Đoàn Thanh niên trường đã và đang tạo nên môi
trường học tập, rèn luyện để mỗi đoàn viên thanh niên, sinh viên thực sự vững vàng về chính trị
- tư tưởng, gương mẫu về đạo đức tác phong, tiên tiến về chuyên môn - nghiệp vụ.
Với truyền thống 64 năm xây dựng và trưởng thành, BCH Đoàn trường tin tưởng rằng,
với nền tảng truyền thống anh hùng và sáng tạo, với tinh thần chủ động, quyết tâm và năng lực
thực tiễn của mỗi đoàn viên, sinh viên cùng với sự quan tâm sâu sát và tạo điều kiện thuận lợi
về mọi mặt của Lãnh đạo Nhà trường, của các đơn vị, công tác Đoàn và phong trào thanh niên,
sinh viên của Trường tiếp tục đạt được nhiều thành tích to lớn, góp phần xứng đáng vào công
tác giáo dục toàn diện, thúc đẩy thực hiện mục tiêu xây dựng Trường ĐHSP Hà Nội trở thành
trường đại học trọng điểm quốc gia, hội nhập thành công vào nền giáo dục khu vực và thế giới.
II. KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN NĂM HỌC 2015 – 2016
Căn cứ Chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Thành đoàn Hà Nội,
triển khai Nghị quyết Đại hội Đoàn trường khóa XVII (nhiệm kỳ 2015 - 2017), căn cứ kế hoạch
7
công tác của Nhà trường và thực tiễn công tác Đoàn của Đoàn trường, Ban Chấp hành Đoàn
trường xây dựng Kế hoạch hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2015 - 2016, cụ thể
như sau:
Tháng 9/2015
- Tham gia tổ chức Tuần lễ sinh hoạt chính trị công dân học sinh, sinh viên cho sinh viên và
chỉ đạo các Liên chi đoàn tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm học tập, nghiên cứu khoa
học ở bậc đại học với sinh viên K65;
- Chỉ đạo các đơn vị tổ chức đại hội chi đoàn.
- Hướng dẫn các đơn vị tổ chức sinh hoạt chi đoàn năm học 2015 - 2016 (Theo chủ đề từng
tháng).
8
-
Chỉ đạo Hội sinh viên Trường tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 66 năm Ngày
truyền thống học sinh, sinh viên và hội sinh viên Việt Nam 9/1/2016;
- Phát động các đơn vị tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 86 năm ngày thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Ban nữ công: Ra mắt CLB Bạn gái
- Ban chuyên môn: Tọa đàm “Gặp gỡ và sẻ chia” dành cho Cán bộ trẻ; Sinh hoạt Chuyên
đề 2 về định hướng giá trị sống và kỹ năng; Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng.
Tháng 02/ 2016
- Tham gia tổ chức hoạt động chào mừng 86 năm ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Thành lập các chi đoàn lâm thời đợt Thực tập Sư phạm năm 2016;
- Chỉ đạo các cơ sở Đoàn xây dựng kế hoạch tháng Thanh niên năm 2016;
- Ban chuyên môn: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng.
- Ban phong trào: Liên hoan Dân vũ lần thứ 2
Tháng 3/2016
- Triển khai các hoạt động Tháng thanh niên năm 2016;
- Tổ chức Lễ Mittinh kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh;
tuyên dương danh hiệu “Tài năng trẻ Trường ĐHSP Hà Nội”; “Xét trao Giải
thưởng 26/3” và Gặp gỡ truyền thống các thế hệ cán bộ Đoàn trường;
- Ban phong trào: Tổ chức Hội thao Thanh niên chào mừng kỷ niệm Ngày Thể thao
Việt Nam (27/3);
- Ban chuyên môn: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng.
- Ban nữ công: CLB Bạn gái tổ chức thi cắm hoa nghệ thuật và làm đồ handmade.
- Đoàn Trường THPT Chuyên ĐHSP Hà Nội tổ chức ngày hội đổi sách.
- Các cơ sở Đoàn bình xét Đoàn viên giới thiệu tham gia lớp Bồi dưỡng Đoàn viên Ưu tú
đợt II năm học 2015 - 2016.
III. QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC NHÀ GIÁO
Ngày 16 tháng 4 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số
16/2008/QĐ-BGDĐT ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo. Đối tượng áp dụng của Quy
định bao gồm các nhà giáo đang làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân. Đối với cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
(bao gồm cả đoàn viên cán bộ và sinh viên) cần thiết phải tuyên truyền, gương mẫu thực hiện
nghiêm túc và hiệu quả Quy định này.
1. Mục đích của Quy định về đạo đức nhà giáo là cơ sở để các nhà giáo nỗ lực tự rèn luyện phù
hợp với nghề dạy học được xã hội tôn vinh, đồng thời là một trong những cơ sở để đánh giá, xếp
loại và giám sát nhà giáo nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
phẩm chất và lương tâm nghề nghiệp trong sáng, có tính tích cực học tập, không ngừng nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp sư phạm, có lối sống và cách ứng xử chuẩn mực, thực sự
là tấm gương cho người học noi theo.
2. Những quy định cụ thể của đạo đức nhà giáo
2.1. Phẩm chất chính trị
1. Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng
cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ được giao.
2. Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức; có ý
thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.
3. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội.
2.2. Đạo đức nghề nghiệp
1. Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần
đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái,
bao dung, độ lượng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng.
10
3. Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học;
không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của
người học và đồng nghiệp.
4. Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học, đồng nghiệp,
người khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác.
5. Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định.
6. Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi không được
phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.
7. Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên
lớp, học tập, coi thi, chấm thi.
11
8. Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt
tại cộng đồng.
9. Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với
quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.
10. Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về
sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh
hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường.
11. Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như : cờ bạc, mại
dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan; không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại.
IV. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG BÁC HỒ (*)
1. HỌC TẬP TRONG TƯ TƯỞNG VÀ CUỘC ĐỜI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
1.1. Học tập trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt cuộc đời chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo con
người Việt Nam mới. Kể từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi viết Di chúc thiêng
liêng, Người đều nhất quán một quan điểm: “Đầu tiên là công việc đối với con người”.
Công việc đối với con người, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết là việc con người
phải được chăm lo đời sống vật chất và đời sống tinh thần, trong đó phải được giáo dục. Quyền
Thấm nhuần tư tưởng của V.I. Lênin: “Học tập, học tập nữa, học tập mãi. Tiến bộ,
tiến bộ nữa, tiến bộ mãi”, Hồ Chí Minh yêu cầu dù là người trong đảng hay ngoài đảng, thanh
niên lao động hay chiến sĩ đều phải “luôn luôn cố gắng học tập, thật thà phê bình, tự phê
bình”. Trong thư gửi “Quân nhân học báo”, Người viết: “Muốn biết thì phải thi đua học. Học
không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy cần phải học thêm”.
Ngay trong những ngày đầu thành lập nước, Người đã viết bài đăng trên báo “Cứu
quốc” với nhan đề “Muốn làm cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ chích” như sau: “Phải biết
rằng tình tình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút... Muốn được thích hợp với tình thế,
muốn cùng tiến hay vượt các bạn khác ta cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng,...
Không chịu tự phê bình, không tự chỉ chích thì không bao giờ tấn tới được”. Cũng trong công
tác đào tạo cán bộ cách mạng, tại Lễ tốt nghiệp khoá V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam
(ngày 15.11.1945), Người chỉ rõ: “Anh em sẽ còn học tập mãi khi ra làm việc. Khi thành công
thì phải nghiên cứu vì sao thành công để lấy kinh nghiệm, khi thất bại cũng sẽ xét xem tại sao
thất bại để mà tránh đi”... rồi sau anh em còn phải học nữa, học mãi trong khi đi làm việc”.
Khi phát động phong trào xây dựng “Đời sống mới” (1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh: “Còn biết bao nhiêu điều cần học. Việc thế giới rất nhiều, học không bao giờ hết. Người có
học mới có tiến bộ. Càng học càng tiến bộ”
Mục đích của việc học tập là để làm gì? Hồ Chí Minh khẳng định mục đích cao cả nhất
của việc học tập là để “giữ vững độc lập”, và “làm cho dân mạnh nước giàu”. Vì: “Muốn giữ
vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người dân Việt Nam phải hiểu biết
quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc
xây dựng nước nhà”. Tháng 9 năm 1949, Người đã nêu một cách toàn diện mục đích của quá
trình học tập và cả phương thức thực hiện để đạt được mục đích đó trong lời ghi ở trang đầu cuốn
Sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh):
“Học để làm việc,
làm người,
làm cán bộ.
Học để phụng sự Đoàn thể,
“giai cấp và nhân dân,
Nguyễn Sinh Sắc và các bậc túc nho tại quê hương. Chắc hẳn hồi đó Người đã được truyền quyết
tâm “học không biết chán, dạy không biết mỏi” (Học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện) của
Khổng Tử. Ở Hồ Chí Minh, tuy được đào tạo chính quy trong các nhà trường nhưng không phải
là quá trình liên tục. Người tự học là chính.
1.2.1. Học tập chính quy trong Nhà trường ở Hồ Chí Minh
Khoảng tháng 9/1905, Nguyễn Tất Thành (cùng với anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm)
được phụ thân xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở
thành phố Vinh. Năm 1906, vào Huế, Người (cùng với anh trai) được cha cho đi học Trường
tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên, lớp dự bị (cours préparatoire, tháng 9-1906); lớp sơ
đẳng (cours élémentaire, tháng 9-1907). Đến tháng 5/1908, Người bị buộc thôi học tại Trường
Quốc học vì tham gia biểu tình chống Pháp. Tuy nhiên, tháng 8-1908, Người được tiếp nhận
trở lại trường. Tháng 9-1908, Người vào học lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại
Trường Quốc học Huế. Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế
theo cha vào Bình Định. Cuối năm 1909, Người được cha gửi học tiếp chương trình lớp cao
đẳng (lớp nhất - cours supérieur) tại Trường tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn, đến tháng 61910, Người hoàn thành chương trình tiểu học.
Tháng 6/1911, Người rời Tổ quốc đi sang phương Tây bằng đường thủy để tìm đường
cứu nước. Trong thời gian sống và hoạt động ở nước ngoài, người tự học thêm nhiều ngoại
2
Nguồn: />
14
ngữ và các môn khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, đặc biệt là lý luận chính trị. Cuối năm
1923, Người vào học Trường Đại học phương Đông tại Mátxcơva, nơi bồi dưỡng chủ nghĩa
Mác - Lênin cho các chiến sĩ cách mạng của các nước thuộc địa. Tháng 10-1934, Nguyễn Ái Quốc
vào học Trường Quốc tế Lênin, nơi bồi dưỡng lý luận dành riêng cho cán bộ các đảng anh em
(số hiệu 375, niên khoá 1934-1935). Kết thúc khoá học tại Trường Quốc tế Lênin, Người
được nhận vào công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (tại Mátxcơva).
Cuối năm 1936, Người trúng tuyển vào lớp nghiên cứu sinh, ngành lịch sử của Viện. Giữa
báo tiếng nước đó.
15
Nguyễn Ái Quốc luôn vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của mùa đông nước Pháp, nước
Nga để mà tự học, tự làm. Người học trực tiếp và thường xuyên trong trường học đời sống cùng
khổ của nhân dân lao động. Và chính thông qua “những người thầy duy nhất” của nhân dân là
“đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo”, Người “tiến bộ một cách mầu nhiệm và khi thời cơ
cho phép, sẽ tỏ ra xứng đáng với những người thầy đó”. Môi trường giáo dục thực tiễn đó đã đưa
Nguyễn Ái Quốc đến kết quả tìm ra được con đường cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng
con người. Bản án chế độ thực dân Pháp chính là giáo án lịch sử được xây dựng do việc tổng kết
từ trường học của thực dân Pháp “khai hóa văn minh” cho nhân dân lao động trên khắp các thuộc
địa. Tác phẩm đó thực sự trở thành bài giảng thực tiễn cách mạng sinh động, thành vũ khí lý luận
và lực lượng tinh thần “có sức bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”. Giải quyết vấn đề đặt
ra trước mắt là cần một “bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”,
Người tập trung vào việc tự học lý luận cách mạng và kiến thức lịch sử văn hóa để đủ trình độ
giác ngộ và đào tạo cán bộ cách mạng là những thanh niên trẻ yêu nước. Tác phẩm Đường
Kách mệnh là một sự tổng kết kiệt xuất thực tiễn của lịch sử thế giới để từ đó rút ra bài học cho
Việt Nam. Có thể coi đây là chương trình chi tiết của cách mạng Việt Nam. Kết quả đó cũng là do
tự học, tự nghiên cứu thực tiễn mà có được.
Trong quá trình hoạt động cách mạng tại Trung Quốc, tuy bị bắt tù đày nhưng Người
vẫn không ngừng học hỏi, luôn rèn luyện “tinh thần thép”, tinh thần xung phong để mong
thành công sự nghiệp lớn. Chính ý chí tự học và tinh thần quyết tâm thực hiện lý tưởng đến
cùng đã giúp cho Người vượt qua mọi gian lao thử thách để đưa đến thành quả vẻ vang cho
quốc dân đồng bào, đưa lịch sử dân tộc bước sang trang mới - kỷ nguyên độc lập.
Ngay cả khi đảm nhận cương vị Chủ tịch nước (9/1945), Hồ Chí Minh vẫn miệt mài
học tập, học những gì do thực tiễn đặt ra, học ở nhân dân. Chính phong cách nhanh chóng
thâm nhập thực tế, nắm chắc kiến thức về những lĩnh vực và đối tượng trước khi tiếp xúc và
trao đổi đã chinh phục tất cả mọi người. Người từng khẳng định toàn bộ những kiến thức của
mình về lịch sử, văn hoá, chính trị, triết học, quân sự, kinh tế,... và những sáng tạo trong quá
nào đó, người ta thường căn cứ trước hết vào phẩm chất chính trị, rồi đến đạo đức - tác phong, kỹ
năng và trình độ chuyên môn,… Trong phẩm chất chính trị, lý tưởng sống là nội dung cốt lõi.
Với Hồ Chí Minh, lý tưởng sống của Người được khẳng định ở một tuyên bố nổi tiếng:
“Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” [9;560]. Câu nói này không chỉ trong phạm vi bài trả lời
phỏng vấn một nhà báo Cu-ba của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
đối với tất cả mọi người dân yêu nước, “từ nay về sau còn học mãi câu ấy không biết bao giờ
xong. Bởi vì ngày nào nước Việt Nam còn, dân Việt Nam còn, thì chúng ta còn học tận trung với
nước, chí hiếu với dân” [1;23-24]. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp
và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đúc kết ở câu nói mà Người vẫn thường căn dặn các
thế hệ cách mạng: “Dĩ công vi thượng” - Lấy lợi ích chung (của cả dân tộc) đặt lên trên hết.
Đối với thanh niên, học tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh “trung với nước, hiếu với dân”
là thực hiện lý tưởng sống dâng hiến, phát huy được truyền thống quý báu của dân tộc. Người nêu
rõ từng nội dung cụ thể để thanh niên thực hiện lý tưởng sống: “Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu
nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng
lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân.
Phải chú ý đến tình hình thế giới vì nước ta là một bộ phận của thế giới…” [8;455].
Lý tưởng của thanh niên trong học tập là “để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm
cho dân giàu nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Vì thế, phải
“ham làm những việc ích quốc lợi dân”, phải “đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên hết,
trước hết”; “Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh
nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước” [6;185].
Có thể nhận thấy những điều này đã được Người chú ý trong Bài nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học
Nhân dân Việt Nam (19/01/1955).
3
17
Trước những biểu hiện chưa lành mạnh về lý tưởng sống, trong đó có xu hướng đòi hỏi
thành chủ nhân tương lai của đất nước: “Muốn xứng đáng vai trò người chủ, thì phải học tập”
[8;398]; “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên.”
[9;95]; “Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh
4
Đây là lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 19/01/1955 trong Bài nói chuyện tại buổi lễ
khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, đăng Báo Nhân dân, số 326, ngày 21/01/1955. 6 năm
sau, Tổng thống Hoa Kỳ John Kennedy trong diễn văn nhậm chức vào ngày 20/01/1961 có nói điều
tương tự: “Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho Tổ quốc”.
5
Tên một nhạc phẩm của Nhạc sĩ Vũ Hoàng.
6
Ghi trong Mục đọc sách của tập Nhật ký trong tù.
18
thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng” [8;455]. Đồng thời, thanh
niên phải trau dồi tinh thần chiến đấu quyết liệt, bài học nghị lực, can đảm, quyết tâm trong mọi
việc, mọi hoàn cảnh, là bài học bền chí, nhẫn nại, khắc khổ trong sinh hoạt gian lao hằng ngày,... [1;27].
Ngày nay, trong điều kiện phát triển của xã hội, thanh niên có nhiều điều kiện thuận lợi
hơn để được sống và cống hiến cho đất nước. Sự phấn đấu của thanh niên phải được thể hiện ở
mọi hành động, việc làm. Trong thực tế, không có cái gì dễ mà cũng không có cái gì khó, vì thế,
Người cho rằng: Nếu có dễ đi nữa thì cũng phải phấn đấu thì mới thành công, còn khó đến mấy
mà quyết tâm phấn đấu, phấn đấu có phương pháp, có kế hoạch thì cũng thắng lợi. Trong “Thư
gửi các bạn thanh niên”, Người viết: “Có chí làm thì quyết tìm ra việc và quyết làm được việc.”
[6;186]. Chủ trương giáo dục ý chí phấn đấu cho thanh niên đã trở thành ý chí chung của toàn thể
tổ chức Đoàn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng
không bền. Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên.” [7;95].
Tích cực học tập, làm theo ý chí phấn đấu và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã có hàng
Đối với thanh niên, cần, kiệm, liêm, chính được thể hiện ra ở những nội dung cụ thể
như: tận tâm học tập, ra sức rèn luyện, làm việc, có quyết tâm, đã làm việc gì thì phải làm đến
nơi đến chốn, làm cho kỳ được, có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, tự học suốt đời,…; tiết
kiệm, không xa hoa, lãng phí, không đua đòi phô trương hình thức, luôn gìn giữ và bảo vệ của công,
…; trung thành, thật thà, chính trực, có khí khái ham làm việc chứ không ham địa vị phù
phiếm, không gian lận trong học tập, thi cử và trong đời sống,…; tôn trọng kỷ cương, luật
pháp, có chí chủ động, sáng tạo, tự cường, tự lập, dũng cảm chống tiêu cực,...
Thanh niên cần được giáo dục các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính để góp phần xây
dựng xã hội hưng thịnh. Vì thế, “học cần, kiệm, liêm, chính là để bài trừ xa xỉ, hối lộ, biển thủ, cờ
bạc, đầu cơ, tích trữ, chợ đen, buôn lậu, bài trừ tất cả cái gì xấu xa, mục nát, đồng thời là tôn
trọng, giữ gìn cái có ích, có lợi cho đồng bào, cho quốc dân, cho Chính phủ” [1;31]. Ngoài ra,
“Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình.
Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao
động chân tay. Chống lười biếng xa xỉ, chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối,
khoe khoang” [8;455].
Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm giáo dục các phẩm chất đạo đức cơ bản như đã nói ở trên,
Người còn đặc biệt quan tâm tới việc giáo dục tinh thần đoàn kết trong thanh niên. Người yêu
cầu thanh niên phải biết “hoà hợp quyền lợi riêng rẽ của mình trong quyền lợi chung của dân
tộc, đồng tâm nhất trí với toàn thể nhân dân, mưu cầu lợi ích chung của dân tộc. Hy sinh cái
nhỏ để giành lấy cái to. Hy sinh một lúc để giành vĩnh cửu. Vì nước, chung quy là vì mình.” [1;25].
Vậy yêu cầu của việc đoàn kết là gì? Trước hết, phải đánh đổ chủ nghĩa cá nhân vì “chủ
nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm” [10;292]. Đối xử với nhau phải đảm bảo tinh thần
bình đẳng nhưng phải “thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong một nhà”, giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ, không được có ý ganh ghét, bắt bẻ, đố kỵ, hống hách,… Để đoàn kết được, thì
phải “tẩy cho sạch đầu óc cô độc, hẹp hòi, cố chấp, thành kiến, tự cao tự đại, tự ái tự phụ, nghi kỵ
cô căn cứ, xung đột vô nguyên tắc”. Và cần phải “hiểu nhau để dung nhau, thương nhau là
đoàn kết” [1;25].
Thực tế hiện nay, chủ nghĩa cá nhân, quan điểm “cái gì của tôi là trên tất cả” vẫn còn rơi
rớt trong một số không ít thanh niên do chủ yếu do ảnh hưởng của lối sống thực dụng ích kỷ,
tâm lý hưởng lạc. Để góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đòi hỏi mỗi thanh niên
phú, dẽ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo... Ngoài kỹ năng nói, viết, thanh niên cần phải học ở ở Người kỹ
năng nghe: tôn trọng và lắng nghe người khác nói, nắm bắt nhanh những ý định của người khác qua
lời nói, cử chỉ và điệu bộ, tuyệt đối không chặn lời hay lảng tránh vấn đề đang được họ đề cập; điều gì
cần giải thích và trao đổi ngay thì cũng phải nghĩ kỹ trên nhiều phương diện, dự đoán được thái độ của
đối tượng và kết quả cách giải quyết của mình,… Tóm lại, cần “tùy cơ ứng biến” để giải quyết hiệu
quả công việc.
22